Trang Doãn Thành thương con trai chết sớm, lập tức cho khắc in. Thời Thanh muốn in một bộ sách quả thật không dễ, phải mời thợ khắc ván, khắc ra một đống mộc bản rồi mới in thành sách. Bộ Minh sử cảo này số quyển số tập rất nhiều, thợ khắc thợ in, phí tổn rất lớn. May là Trang gia có tiền, dọn dẹp mấy gian nhà lớn làm công trường, mời nhiều thợ thuyền, trong vài năm thì khắc in xong, tên sách là Minh thư tập lược, tên người soạn sách là Trang Đình Long, mời danh sĩ Lý Lệnh Triết làm bài tựa.
Các học giả tham gia san định tăng bổ cũng đề tên lên đó, có Mao Nguyên Minh, Ngô Chi Minh, Ngô Chi Dung, Lý Kỳ Đào, Mao Thứ Lai, Ngô Sở, Đường Nguyên Lâu, Nghiêm Vân Khởi, Tưởng Lân Trưng, Vi Kim Hựu, Vi Nhất Viên, Trương Tuấn, Đổng Nhị Tây, Ngô Viêm, Phan Xanh Chương, Lục Kỳ, Tra Kế Tá, Phạm Tương tổng cộng mười tám người. Trong sách lại nói sách này là dựa theo nguyên cảo của họ Chu mà tăng bổ san định soạn thành, có điều Chu Quốc Trinh là Tướng quốc nhà Minh, tên tuổi rất lớn, không tiện viết thẳng tên ra, vì vậy chỉ hàm hồ nói là nguyên cảo của họ Chu. Minh thư tập lược qua sự sửa sang tu đính của rất nhiều văn nhân học sĩ nên thể lệ hoàn bị, thuật việc rõ ràng, văn chương lại hoa lệ phong nhã, sau khi lưu hành rất được sĩ lâm khen ngợi. Trang gia lại có ý dương danh, bán sách rất rẻ. Trong nguyên cảo lúc nói tới người Mãn Châu vốn có rất nhiều lời chỉ trích công kích, những người tu sửa đều nhất nhất bỏ hết, nhưng cũng không khỏi có lời tán dương nhà Minh. Lúc ấy nhà Minh mất chưa lâu, người đọc sách nhớ nhung nước cũ, nên sách vừa khắc in lưu hành, lập tức bán rất chạy. Cái tên Trang Đình Long lừng lẫy khắp Giang Bắc Giang Nam. Trang Doãn Thành tuy có nỗi đau mất con, nhưng thấy con thành danh sau khi chết, từ đó lòng già cũng được an ủi.
Cũng là thời loạn, nên tiểu nhân đắc chí, quân tử gặp nạn. Tri huyện Quy An phủ Hồ Châu họ Ngô tên Chí Vinh, lúc đương nhiệm tham lam phạm pháp, bách tính hận y thấu xương, cuối cùng bị người ta tố cáo, triều đình hạ lệnh cách chức. Ngô Chi Vinh làm Tri huyện Quy An tuy vơ vét được hơn vạn lượng bạc, nhưng lệnh cách chức vừa ban xuống, y lo đông lót tây, chạy chọt khắp nơi mới tránh khỏi bị xử tội, hơn vạn lượng bạc tham tang kia cũng hết sạch không còn gì, ngay đám gia nhân cũng bỏ đi. Y mất cả quan chức lẫn tiền bạc, đành tới các nhà giàu xin xỏ , nói làm quan thanh bạch, lần này bị bãi quan, ngay tiền lộ phí về quê cũng không có, không sao lên đường. Có một số nhà giàu để khỏi phiền phức bèn tặng y mười lượng tám lượng. Đến khi y tới phú hộ họ Chu, chủ nhân Chu Hựu Minh vốn là bậc quân tử ngay thẳng ghét điều ác như kẻ thù, không những không tặng tiền lộ phí mà còn châm chọc mỉa mai, nói các hạ làm quan ở Hồ Châu, bách tính bị ngươi hại đến khổ, Chu Mỗ ta dù có tiền cũng thà đem chu cấp cho những dân nghèo bị các hạ hãm hại. Ngô Chi Vinh tuy não nộ nhưng không biết làm sao, y đã bị cách chức, không quyền không thế, thì làm gì được nhà đại gia phú hộ? Lúc ấy bèn tới bái phỏng Trang Doãn Thành.
Trang Doãn Thành ngày thường kết giao với các bậc danh sĩ, rất coi thường loại tham quan này, thấy y tới xin xỏ, cười nhạt một tiếng, gói một lượng bạc đưa cho y, nói “Theo như con người các hạ thì lượng bạc này vốn là không tặng, chỉ là bách tính ở Hồ Châu mong các hạ đi sớm một khắc thì hay một khắc, thêm một lượng bạc thì có thể sớm hơn chút ít, cũng là chuyện hay”.
Ngô Chi Vinh trong lòng giận lắm, liếc mắt thấy trên bàn có đặt một bộ Minh thư tập lược, nghĩ thầm “Họ Trang này thích nghe nịnh hót, chỉ cần nghe khen một câu là bộ Minh sử tu sửa hay ho ra sao là hai tay bưng bạc trắng xóa đưa cho người ta mà không hề cau mày”. Bèn cười nói “Trang ông hậu tứ, từ chối lại là không cung kính. Huynh đệ hôm nay rời Hồ Châu, điều hối tiếc nhất là không sao mang được một bộ Hồ Châu chi bảo về nhà, để tệ hương cô lậu quả văn được mở rộng tầm mắt”.
Trang Doãn Thành hỏi “Cái gì là Hồ Châu chi bảo?”. Ngô Chi Vinh cười nói “Trang ông quá khiêm rồi. Trong sĩ lâm nhao nhao nói rằng lệnh lang Trang Đình Long công tử đích thân soạn bộ Minh thư tập lược, sử tài, sử thức, sử bút không điều gì không phải là xưa nay ít có, Tả Mã Ban Trang là bốn đại sử gia từ xưa đến nay. Bộ Hồ Châu chi bảo này tự nhiên chính là bộ Minh sử mà lệnh lang đích thân viết ra”.
Ngô Chi Vinh trước một câu “Lệnh lang đích thân viết ra”, sau một câu “Lệnh lang đích thân viết ra”, khiến Trang Doãn Thành nghe xong trong lòng mừng rơn. Y biết rõ bộ sách này hoàn toàn không phải là con trai đích thân soạn ra, trong lòng không khỏi có chỗ nuối tiếc, Ngô Chi Vinh nói thế chính là đánh trúng chỗ y thích, nghĩ thầm “Người ta đều nói người này tham lam, là một gã tiểu nhân bẩn thỉu, nhưng y rốt lại vẫn là người đọc sách, cũng có nhãn lực. Té ra bên ngoài gọi bộ sách này của Long nhi là Hồ Châu chi bảo, câu này quả là lần đầu mình nghe thấy”. Bất giác rạng rỡ tươi cười, nói “Vinh ông nói Tả Mã Ban Trang bốn đại sử gia từ xưa đến nay gì đó, huynh đệ không hiểu rõ lắm, xin được chỉ giáo”. Ngô Chi Vinh thấy y vẻ mặt lập tức trở nên hòa hoãn, biết đã vỗ được mông ngựa rồi, trong lòng mừng thầm, nói “Trang ông không khỏi quá khiêm rồi. Tả Khâu Minh làm Tả truyện, Tư Mã Thiên soạn Sử ký, Ban Cố viết Hán thư, đều là danh tác truyền tụng thiên cổ, sau Ban Cố thì không có đại sử gia nào. Sau khi Dương Tu soạn Ngũ đại sử, Tư Mã Quang viết Tư trị thông giám mới bắt đầu có người sánh được với Tả Khâu Minh, Tư Mã Thiên, Ban Cố ba vị tiền bối. Bốn đại sử gia Tả Mã Ban Trang, câu ấy nảy sinh từ đó”. Trang Doãn Thành vẻ mặt rạng rỡ, chắp chắp tay nói “Quá khen, quá khen! Có điều câu Hồ Châu chi bảo ấy thật không thể nhận”. Ngô Chi Vinh nghiêm trang nói “Cái gì mà không thể nhận? Mọi người ở ngoài đều nói Hồ Châu chi bảo sử tơ bút. Quả thật Trang sử đứng thứ nhất!”. Tơ tằm và bút viết là hai sản vật nổi tiếng của Hồ Châu, Ngô Chi Vinh phẩm cách hèn hạ nhưng có ba phần tài năng, xuất khẩu thành thơ, đem Trang sử so với tơ tằm và bút viết của Hồ Châu. Trang Doãn Thành nghe xong lại càng mừng rỡ.
Ngô Chi Vinh nói “Huynh đệ tới quý xứ làm quan, hai tay áo toàn gió mát, không được cái gì. Hôm nay giơ bộ mặt già muốn xin Trang ông một bộ Minh sử để làm vật báu truyền gia trong nhà. Sau này con cháu họ Ngô ta ngày đêm tụng đọc, ắt sẽ tài tứ đại tiến, làm rạng rỡ tổ tiên, thì đó toàn là nhờ Trang ông hậu tứ”. Trang Doãn Thành cười nói “Vậy xin kính tặng”. Ngô Chi Vinh lại nói thêm vài câu, không thấy Trang Doãn Thành có cử động gì, lúc ấy lại tán dương bộ Minh sử một hồi, thật ra bộ sách ấy một trang y cũng chưa đọc qua, chỉ là về sử tài thì đắc thể thế nào, về sử thức thi trác việt thế nào, cứ nhắm mắt khen bừa. Trang Doãn Thành nói “Xin Vinh ông ngồi chơi thêm một lúc”, rồi quay vào nhà trong.
Qua hồi lâu, một tên gia đinh bưng một cái gói lớn ra đặt lên bàn. Ngô Chi Vinh thấy Trang Doãn Thành vẫn chưa ra, vội nắn cái bao một cái, cái bao tuy lớn nhưng lại nhẹ tênh, bên trong rõ ràng không có tiền bạc, trong lòng rất thất vọng. Qua hồi lâu, Trang Doãn Thành trở ra sảnh, bưng cái bao lên cười nói “Vinh ông coi trọng thổ sản của tệ xứ, nên xin kính tặng”.
Ngô Chi Vinh cảm tạ, cáo từ trở ra, chưa về tới khách điếm, đã thò tay vào bao khua khoắng mò mẫm một hồi, mò được một bộ sách, một cái kén tằm, mười ngọn bút lông. Y mất không biết bao nhiêu lời lẽ, vốn nghĩ Trang Doãn Thành ngoài bộ Minh sử sẽ tặng thêm vài trăm lượng bạc, không ngờ lại tặng đúng Hồ Châu tam bảo mà y nói ra, bèn chửi thầm “Con mẹ nó, bọn tài chủ ở Nam Tầm đều nhỏ nhen thế đấy! Cũng bởi mình lỡ lời, nếu nói Hồ Châu tam bảo là vàng, bạc và Minh sử, há lại không có thu hoạch lớn sao?”.
Y tức tối trở về khách điếm, ném cái bao lên bàn nằm lăn ra ngủ, đến khi tỉnh dậy trời đã tối đen, đã quá giờ cơm trong khách điếm, y lại không quen nhịn đói, lửa đói lòng sầu cả hai cùng đốt, càng không ngủ được, lúc ấy mở cái bao lấy bộ Minh thư tập lược ra xem. Xem được vài trang, trước mắt ánh vàng lóe lên, rõ ràng xuất hiện một lá vàng. Ngô Chi Vinh tim đập thình thịch, dụi dụi mắt nhìn kỹ, không phải vàng lá thì là gì? Lúc ấy lập tức rũ quyển sách loạn lên, trong sách rơi ra mười lá vàng, mỗi lá ít nhất cũng phải năm tiền, mười lá là năm lượng vàng. Lúc ấy vàng có giá, năm lượng vàng đổi được bốn trăm lượng bạc. Ngô Chi Vinh vui mừng khôn xiết, nghĩ thầm “Họ Trang này quả nhiên giảo quyệt, y sợ mình lấy được bộ sách này mang đi sẽ tiện tay vứt bỏ, không gi ở ra xem, vì vậy giấu vàng lá trong sách, xem ai đọc sách của con trai y thì người ấy có phúc lấy được vàng. Được rồi, mình sẽ đọc thêm vài thiên, sáng mai sẽ lại tìm tới, vừa để tạ cái ơn tặng vàng, vừa đọc thuộc lòng mấy đoạn trong sách, ca ngợi ầm lên. Y trong lòng mừng rỡ, lại tặng thêm vài lượng vàng cũng chưa biết chừng”.
Lúc ấy y khêu bấc đèn, giở sách tụng đọc, đọc tới đoạn Minh Vạn Lịch năm thứ mười bốn, Hậu Kim Thái tổ Nỗ Nhi Cáp Xích tức vị, đặt quốc hiệu là Kim, kiến nguyên Thiên Mệnh, trong lòng chợt hoảng sợ “Thái tổ ta kiến nguyên năm Bính thìn, từ năm đó trở đi lẽ ra không được dùng niên hiệu Vạn Lịch nhà Minh nữa mà phải dùng niên hiệu Thiên Mệnh năm thứ nhất mới phải”
Từ đó giở xuống dưới, chỉ thấy năm Đinh Mão Hậu Kim Thái tông tức vị, trong sách vẫn viết là Minh Thiên Khải năm thứ bảy chứ không viết là Đại Kim Thiên Thông năm thứ nhất. Năm Bính Tý Hậu Kim đổi quốc hiệu là Thanh, cải nguyên Sùng Đức, trong sách lại viết là Sùng Trinh năm thứ chín chứ không ghi là Đại Thanh Sùng Đức năm thứ nhất, năm Giáp Thân sách viết là Sùng Trinh năm thứ mười bảy chứ không viết là Đại Thanh Thuận Trị năm thứ nhất. Lại xem tới đoạn sau khi quân Thanh vào cửa quan, năm Ất Dậu trong sách viết là Long Vũ năm thứ nhất, năm Đinh Hợi viết là Vĩnh Lịch năm thứ nhất, các niên hiệu Long Vũ, Vĩnh Lịch là niên hiệu của Đường vương, Quế vương nhà Minh, người làm sách rõ ràng theo chính sóc nhà Minh, không coi nhà Thanh vào đâu. Y đọc tới đó bất giác đập bàn kêu lớn “Làm phản rồi, làm phản rồi, thế này thì không xong!”.
Y đập một cái, cái bàn chấn động, đĩa đèn lập tức nảy lên rơi xuống đất, dầu bắn ra dính đầy tay đầy áo. Trong bóng tối đột nhiên y linh cơ nhất động, bất giác mừng rỡ như điên “Đây không phải là trời ban cho mình một món hoạnh tài sao? Thăng quan phát tài đều từ đây mà ra”. Nghĩ tới chỗ đắc ý, bất giác kêu ầm lên. Chợt nghe tiểu nhị đập cửa nói “Khách quan, khách quan, có chuyện gì thế?”.
Ngô Chi Vinh cười nói “Không có gì đâu!”, rồi thắp lại đèn đọc tiếp. Đọc luôn một mạch đến lúc gà gáy mới để nguyên áo lăn ra giường, nhưng lại tìm ra được bảy tám mươi chỗ vong húy phạm cấm trong sách, nên trong giấc mơ vẫn không ngừng tươi cười.
Vào lúc thay triều đổi chủ, kẻ cầm quyền rất có ý thức về loại niên hiệu chính sóc này. Việc phạm điều cấm kỵ thì không gì hơn trong văn chương ngôn ngữ, khiến người ta hoài niệm tiền triều. Minh thư tập lược ghi chép việc thời Minh, ghi năm theo niên hiệu nhà Minh thì vốn không có gì không hợp, nhưng đang lúc cấm lệnh khắt khe lại là mối họa rất lớn. Các học giả văn sĩ tham dự tu sửa Minh sử phần nhiều chỉ giúp khảo hiệu vài quyển, chưa xem duyệt toàn bộ, mà người khảo hiệu mấy quyển sau cùng lại căm hận nhà Thanh thấu xương, quyết không chịu dùng niên hiệu nhà Đại Thanh trong sách. Trang Đình Long là công tử con nhà giàu, hai mắt lại mù, không khỏi có chỗ sơ suất, rốt lại khiến kẻ tiểu nhân có chỗ sơ hở để thừa cơ.
Trưa hôm sau, Ngô Chi Vinh lập tức cưỡi thuyền đông hành, tới thẳng Hàng Châu, ở trong khách điếm viết một trang bẩm thiếp, gởi kèm bộ Minh sử ấy, đưa vào phủ Tướng quân Tùng Khôi. Y đoán Tùng Khôi sau khi nhận tờ bẩm thiếp ắt sẽ triệu kiến. Lúc ấy triều đình thấy tố cáo kẻ phản nghịch sẽ ban thưởng rất hậu, mình lập được công lớn này, việc khôi phục nguyên hàm vốn đã là chuyện trong tay, mà biết đâu còn được thăng luôn ba cấp. Không ngờ chờ tới chờ lui trong khách điếm, chờ suốt hơn nửa năm, hàng ngày tới phủ Tướng quân nghe ngóng tin tức, nhưng như đá chìm đáy bể, về sau còn bị Môn phòng cao giọng quát đuổi, không cho y tới cổng quấy rầy nữa.
Ngô Chi Vinh vô cùng sốt ruột, số vàng Trang Doãn Thành tặng đã đổi ra bạc chi dùng gần hết, mà lần tố cáo này lại không có chút kết quả nào, vừa phiền não vừa kinh ngạc. Hôm ấy y đi dạo trong thành Hàng Châu, đi ngang cổng thư cục Văn Thông đường, lò dò bước vào định đọc sách chùa để giết thời giờ, lại thấy trên giá sách bày ba bộ Minh thư tập lược, nghĩ thầm chẳng lẽ những lỗi mình nêu ra lại không đủ để tố cáo Trang Doãn Thành sao? Hãy cứ tìm thêm vài chỗ văn chương đại nghịch bất đạo, sáng mai sẽ viết một tờ bẩm thiếp khác, dâng vào phủ Tướng quân. Tuần phủ Chiết Giang là người Hán, Tướng quân thì là người Mãn Châu, y sợ tuần phủ không chịu khơi vụ án văn tự này ra, nên nhất định phải tố cáo với Tướng quân người Mãn Châu.
Y mở sách ra, vừa đọc vài trang bất giác hoảng sợ giật nảy mình, toàn thân như rơi vào hố băng, nhất thời ngây ra như tượng gỗ, vò đầu bứt tai, chỉ thấy những chỗ phạm điều cấm kỵ trong sách đều đã thay đổi không còn dấu vết, từ Đại Thanh Thái tổ mở nước trở đi cũng đều đổi dùng niên hiệu Đại Kim Đại Thanh để ghi năm, còn những lời công kích Đô đốc vệ Kiến Châu (thân thích của tổ tiên hoàng đế Mãn Thanh) cho tới các niên hiệu Long Vũ, Vĩnh Lịch lại càng một chữ cũng không thấy. Nhưng văn chương trước sau xuyên suốt, trong sách lại sạch sẽ, hoàn toàn không có dấu vết bôi sửa, trò diễn này làm sao xảy ra, quả thật rất kỳ lạ.
Y hai tay bưng sách, đứng trong thư quán ngơ ngẩn xuất thần, qua khoảng nửa bữa cơm chợt la lớn một tiếng “Đúng rồi!”. Nhìn thấy bìa quyển sách sạch sẽ mới tinh, bèn hỏi người trong thư quán, quả nhiên là thư khách buôn sách từ Hồ Châu vừa đưa tới, đổi hàng chẳng qua chỉ mới bảy tám hôm. Y nghĩ thầm “Gã Trang Doãn Thành này lợi hại thật! Đúng là tiền có thể thông với thần minh. Y thu hồi sách cũ, chế lại mộc bản, in lại sách mới, xóa bỏ hết những chỗ phạm điều cấm kỵ trong nguyên thư. Hừ, chẳng lẽ như thế mà xong à?”.
Ngô Chi Vinh đoán việc quả nhiên không sai. Nguyên là Tướng quân Tùng Khôi ở Hàng Châu không biết chữ Hán, viên sư gia trong mạc phủ thấy bẩm thiếp của Ngô Chi Vinh, lập tức toàn thân toát mồ hôi, biết là vụ này có quan hệ rất trọng đại, hai tay cầm tờ bẩm thiếp không tự chủ được cứ run lên bần bật.
Người mặc khách này họ Trình, tên Duy Phiên, người Thiệu Hưng Chiết Giang. Dưới hai triều Minh Thanh, mạc khách của quan lại mười người thì có tám chín người quê Thiệu Hưng, nên sau hai chữ sư gia thường có hai chữ Thiệu Hưng, gọi là sư gia Thiệu Hưng. Vị sư gia này trước kia theo học với các bậc tiền bối đồng hương được một pho bí quyết, sau đó biện lý việc hình danh tiền gạo, xử sự lại càng mười phần lão luyện. Những công văn trong phủ đều do sư gia suy nghĩ viết ra, mọi người đã là đồng hương, công văn của quan viên cấp dưới trình lên nha môn cấp trên cũng không dễ bị bới móc phản bác. Vì vậy quan lại lớn nhỏ đáo nhiệm thì điều quan trọng nhất là phải dùng hậu lễ mời bằng được một vị sư gia Thiệu Hưng. Dưới hai triều Minh Thanh, người Thiệu Hưng làm quan lớn hoàn toàn không nhiều nhưng thao túng được chính trị Trung Quốc tới mấy trăm năm, cũng là một trang kỳ tích trong lịch sử chính trị Trung Quốc. Trình Duy Phiên tâm địa trung hậu, tin tưởng câu danh ngôn “Cửa công là chỗ dễ tu hành”. Đây là nói quan phủ cầm đại quyền sinh sát bách tính trong tay, sư gia lúc soạn thảo công văn chỉ cần nặng tay thêm vài chữ là có thể khiến bách tính nhà tan người chết, còn nếu nhẹ tay một chút thì có thể khiến họ giữa chỗ chết tìm được đường sống, vì thế cứu người ở cửa công còn có kết quả hơn nhiều so với việc tu hành trong chùa miếu. Y thấy vụ Minh sử này nếu biến thành vụ án lớn thì vùng Tô Nam Chiết Tây không biết sẽ có bao nhiêu người tan nhà nát cửa, lập tức xin Tướng quân cho nghỉ vài hôm, ngày đêm ngồi thuyền tìm tới trấn Nam Tầm Hồ Châu báo cho Trang Doãn Thành biết chuyện.
Trang Doãn Thành đột nhiên đại họa lâm đầu, bay hồn lạc phách, lập tức sợ tới mức toàn thân nhũn ra, miệng sùi bọt mép, không biết làm sao là tốt, qua hồi lâu mới đứng thẳng người lên, hai gối quỳ xuống, lạy tạ đại ân của Trình Duy Phiên, sau đó hỏi kế y. Trình Duy Phiên lúc ngồi thuyền từ Hàng Châu tới Nam Tầm đã nghĩ đi nghĩ lại, tìm được cách hay, nghĩ thầm bộ Minh thư tập lược này lưu hành đã lâu, có giấu cũng không giấu được, chỉ có cách dùng kế rút củi dưới nồi, một mặt sai người tới thư quán các nơi thu mua toàn bộ mang về thiêu hủy, một mặt ngày đêm thuê thợ khắc một bản mới, bỏ đi những chỗ cấm kỵ, in ra sách mới để bán ra ngoài. Lúc quan phủ truy cứu ắt sẽ giở bản Minh sử mới ra tra xét, phát giác lời tố cáo của Ngô Chi Vinh không đúng sự thật, thì có thể tiêu hủy một trường tai họa. Lúc ấy bèn nói kế ra. Trang Doãn Thành vừa mừng vừa sợ, liên tiếp khấu đầu cảm tạ. Trình Duy Phiên lại chỉ giáo cho y không ít chi tiết quan trọng, quan Mỗ thì phải đưa lễ vật bao nhiêu, nha môn Mỗ thì phải thông lưng thế nào, Trang Doãn Thành nhất nhất vâng dạ.
Trình Duy Phiên về tới Hàng Châu, hơn nửa tháng sau mới chuyển nguyên thư và bẩm thiếp của Ngô Chi Vinh qua chỗ Tuần phủ Chiết Giang Chu Xương Tộ, phê thêm vài chữ qua loa, nói kẻ dâng tờ bẩm thiếp này là Tri huyện vì tham tang bị cách chức, dường như có thù oán nên bới lông tìm vết, xin Phủ đài đại nhân tra xét rõ ràng.
Lúc Ngô Chi Vinh khổ sở chờ đợi tin tức trong khách điếm ở Hàng Châu thì tiền bạc của Trang Doãn Thành lại như nước tuôn ra. Lúc ấy các khoản hối lộ hậu hĩ của Trang Doãn Thành đã đưa tới nha môn Tướng quân, nha môn Tuần phủ và nha môn Học chính. Chu Xương Tộ nhận được công văn, việc in sách lại thuộc Học chính cai quản, để lại hơn mười ngày mới chuyển công văn cho Học chính Hồ Thượng Hành. Sư gia trong nha môn Họ chính lại gác lại hơn nửa tháng, rồi cáo bệnh một tháng, kế mới thong thả soạn công văn báo cho phủ Hồ Châu. Học quan phủ Hồ Châu lại gác lại hơn hai mươi ngày mới chuyển công văn xuống Học quan hai huyện Quy An và Ô Trình, sai hai người thân sức.
Hai viên Học quan này cũng đã sớm nhận được một khoản hối lộ hậu hĩ của Trang Doãn Thành, lúc ấy bản Minh sử mới đã khắc in xong, hai người gởi hai bộ sách mới lên thượng cấp, bẩm “Sách này tầm thường thô thiển, không có ích gì cho thế đạo nhân tâm, mà tra xét kỹ trong toàn sách, thì không có chỗ nào phạm vào điều cấm”, từng tầng từng tầng báo lên, chuyện kể như xong.
Ngô Chi Vinh tới thư quán phát hiện ra bộ Minh sử mới in mới biết như thế, nghĩ thầm chỉ có cách tìm bằng được một bộ Minh sử bản gốc mới có thể tố cáo vụ này. Trong các thư quán ở Hàng Châu, những sách nguyên bản đã bị Trang gia mua hết, lúc ấy bèn tới các châu huyện hẻo lánh ở Chiết Đông tìm mua, nào ngờ một bộ cũng tìm không ra. Y cùng đường rầu rĩ, chỉ còn cách bỏ chuyện về quê. Cũng là việc vừa khéo, dọc đường đi, trong một khách điếm lại thấy chủ nhân đang lắc đầu ngoẹo cổ đọc sách, nhìn tới thì chính là bộ Minh thư tập lược, hỏi mượn giở qua một lượt, thì chính là nguyên bản. Lúc ấy y vô cùng mừng rỡ, nghĩ nếu hỏi mua thì một là chưa chắc chủ khách điếm đã chịu bán, hai là mình cũng không có tiền, mua không được, chỉ còn cách lấy trộm. Nửa đêm y rón rén trở dậy, ăn trộm được sách xong lỏn ra cửa, nghĩ tất cả quan lại Chiết Giang ắt đều đã nhận tiền hối lộ của Trang Doãn Thành, một là không làm, hai là làm thì không thôi, bèn quyết ý lên Bắc Kinh tố cáo.


