Gió bấc như dao, băng sương đầy đất. Trên một con đường cái gần bờ biển Giang Nam, một đội quân Thanh tay cầm đao thương, áp giải bảy chiếc xe tù, đội gió đạp sương đi lên phía bắc. Ba chiếc xe đi đầu nhốt ba hán tử, đều ăn mặc lối thư sinh, một người già tóc bạc, hai người trung niên. Bốn chiếc xe sau chở phụ nữ, người ngồi trong chiếc cuối cũng là một thiếu phụ, bế một bé gái trong lòng, đứa bé không ngớt kêu khóc. Người mẹ dịu dàng dỗ dành, nhưng đứa bé cứ khóc lớn. Một tên quân đi cạnh xe tù bực mình, co chân đá vào xe một cái, quát “Khóc mãi, khóc mãi! Lão tử đá chết ngươi bây giờ”. Đứa bé gái hoảng sợ, càng khóc lớn hơn.
Cách đường cái vài mươi trượng có một tòa nhà lớn, dưới mái hiên có một văn sĩ trung niên và một đứa nhỏ mười một mười hai tuổi đứng nhìn. Người văn sĩ thấy tình cảnh ấy không kìm được thở dài một tiếng, hai mắt đỏ lên nói “Đáng thương, đáng thương”.
Đứa nhỏ hỏi “Cha, họ phạm tội gì thế?”. Văn sĩ nói “Có phạm tội gì đâu? Hôm qua và sáng nay đã có ba mươi mấy người bị giải qua đều là người đọc sách có tiếng ở Chiết Giang ta, ai cũng là kẻ vô tội bị liên lụy”. Y nói tới mấy chữ “Vô tội bị liên lụy” thì hạ giọng thật thấp, sợ đám quan quần áp giải xe tù nghe thấy. Đứa nhỏ hỏi “Đứa bé gái kia còn đang bú mẹ, chẳng lẽ cũng phạm tội sao? Thật không có đạo lý gì”. Văn sĩ nói “Ngươi biết quan binh không có đạo lý, đúng là đứa nhỏ ngoan. Ồ, người là dao thớt, ta là cá thịt, người là xanh đỉnh, ta là hươu nai”.
Đứa nhỏ nói “Cha, mấy hôm trước cha dạy con rằng câu Người là dao thớt, ta là cá thịt là ý nói để mặc người ta giết chóc, người ta là dao thái rau, là tấm thớt, chúng ta là cá và thịt. Còn câu Người là xanh đỉnh, ta là hươu nai, ý tứ cũng vậy phải không?”. Văn sĩ nói “Đúng thế”. Nhìn thấy quan quân và tù xa đã đi xa, y kéo tay đứa nhỏ nói “Ở ngoài gió lớn, chúng ta vào nhà đi”. Lúc ấy hai cha con bước vào thư phòng.
Văn sĩ cầm bút chấm mực, viết một chữ “Lộc” (hươu) trên giấy rồi nói “Hươu là loại thú rừng tuy to lớn nhưng tính nết rất hiền lành, chỉ ăn cỏ xanh lá cây, không làm hại các loài thú khác. Các loài thú dữ khác muốn làm hại nó, ăn thịt nó, nó chỉ có cách chạy trốn, nếu chạy trốn không được thì chỉ còn cách để người ta ăn thịt”. Lại viết hai chữ “Trục lộc” (Đuổi hươu), nói thể người xưa thường dùng hươu để ví với thiên hạ, bách tính trên đời đều hiền lành thiện lương, chỉ có cách để người ta hà hiếp tàn hại mà thôi. Hán thư có câu Nhà Tần để mất con hươu, thiên hạ cùng đuổi, chính là nói nhà Tần để mất thiên hạ, quần hùng đều nổi lên, mọi người tranh giành, sau cùng Hán Cao tổ đánh bại Sở Bá vương, giành được một con hươu vừa béo vừa to”.
Đứa nhỏ gật đầu nói “Con hiểu rồi. Sách tiểu thuyết thường nói Trục lộc Trung nguyên là ý nói mọi người tranh nhau làm hoàng đế”. Văn sĩ rất vui vẻ, gật gật đầu, vẽ lên giấy hình một cái đỉnh, nói “Người xưa nấu thức ăn không dùng bếp và nồi mà dùng cái đỉnh có ba chân này, đốt lửa bên dưới, bắt được hươu thì bỏ vào đỉnh nấu ăn. Hoàng đế và quan lớn đều rất tàn nhẫn, trong lòng không thích ai thì nói người ấy có tội, bỏ họ vào đỉnh luộc sống. Sách Sử ký chép Lạn Tương Như nói với Tần vương rằng: “Thần biết tội làm nhục đại vương đáng chết, thần xin vào đỉnh, là nói Tôi đáng chết, bỏ tôi vào đỉnh nấu cho chết đi!”.
Đứa nhỏ nói “Trong sách tiểu thuyết lại thường nói Vấn đỉnh Trung nguyên, ý tứ dường như không khác mấy với câu Trục lộc Trung nguyên”.
Văn sĩ nói “Không sai. Vua Hạ Võ thu kim loại chín châu, đúc thành chín cái đỉnh lớn. Lúc bấy giờ kim loại quý nhất là đồng. Trên mọi cái đỉnh đều có đúc tên chín châu và hình vẽ núi sông, những người làm chủ thiên hạ đời sau giữ cửu đỉnh”. Sách Tả truyện nói “Sở tử duyệt quân ở biên giới nhà Chu, Định vương sai Vương tôn Mãn úy lạo quân Sở. Sở tử hỏi cửu đỉnh to nhỏ nặng nhẹ ra sao. Chỉ có người làm chủ thiên hạ mới được giữ cửu đỉnh, Sở tử chỉ là chư hầu ở nước Sở lại hỏi cửu đỉnh to nhỏ nặng nhẹ ra sao là có ý vượt phận, muốn thay thế ngôi vương của nhà Chu”.
Đứa nhỏ nói “Vậy thì Hỏi đỉnh, Đuổi hươu là chỉ việc muốn làm hoàng đế. Câu Chưa biết hươu chết về tay ai là nói không biết ai sẽ làm hoàng đế”.
Văn sĩ nói “Đúng thế. Về sau bốn chữ Hỏi đỉnh, Đuổi hươu cũng có thể dùng vào chỗ khác, nhưng nguồn gốc điển cố là chỉ riêng việc làm hoàng đế”. Nói tới đó y thở dài một tiếng, nói “Chúng ta là bách tính, chỉ có một con đường là chết. Chưa biết hươu chết về tay ai chẳng qua chỉ là chưa biết ai sẽ tới giết con hươu, chứ con hươu thì chắc chắn phải chết rồi.
Nói xong y bước tới cạnh cửa sổ, nhìn nhìn ra ngoài, chỉ thấy sắc trời mờ mịt, dường như sắp có tuyết, thở dài nói “Ông trời sao bất nhân như thế, mấy trăm con người vô tội lại phải đi giữa lúc băng tuyết ngập đường thề này. Tuyết mà rơi, họ lại phải thêm một phen khốn khổ”.
Chợt thấy trên đường cái phía nam có hai người đội nón tre sóng vai đi tới, tới gần nhìn thấy rõ diện mạo, văn sĩ cả mừng nói “Hoàng bá bá, Cố bá bá của ngươi tới kìa”, rồi rảo chân bước ra đón, gọi “Lê Châu huynh, Đình Lâm huynh, cơn gió lành nào thổi hai vị tới vậy?”.
Người bên phải thân hình hơi béo, dưới cằm có một chòm râu đen, họ Hoàng tên Tông Hy, tự Lê Châu, người Dư Diêu, Chiết Giang. Người bên trái vừa cao vừa gầy, mặt mày đen bóng, họ Cố tên Viêm Vũ, tự Đình Lâm, người Côn Sơn, Giang Tô. Hai người Hoàng Cố đều là bậc đại nho đương thời, sau khi nhà Minh mất, đau lòng vì vận nước, ở ẩn không ra làm quan, hôm nay cùng tới Sùng Đức. Cố Viêm Vũ bước lên vài bước, nói “Vãn Thôn huynh, có một chuyện khẩn cấp, nên vội tới bàn với ngươi”.
Văn sĩ này họ Lã tên Lưu Lương, hiệu Vãn Thôn, nhiều đời ở huyện Sùng Đức phủ Hàng Châu Chiết Giang, cũng là một người ẩn dật rất nổi tiếng thời Minh mạt Thanh sơ. Y thấy hai người Hoàng Cố vẻ mặt nghiêm trọng, lại biết Cố Viêm Vũ trước nay rất cơ biến, gặp việc bình tình, mà nói là chuyện khẩn cấp thì tự nhiên không phải tầm thường, bèn chắp tay nói “Mời hai vị vào uống vài chén cho đỡ lạnh trước đã”. Lúc ấy y mời hai người vào nhà, dặn đứa nhỏ “Bao Trung, vào nói với mẹ là Cố bá bá, Hoàng bá bá tới, mang trước hai bát thịt dê ra uống rượu”.
Không bao lâu, Lã Bao Trung và anh là Nghi Trung mang chén đũa ra bày lên bàn trong thư phòng, kế có một lão bộc mang rượu thịt lên. Lã Lưu Lương chờ ba người ra khỏi, đóng cửa thư phòng lại, nói “Hoàng huynh, Cố huynh, uống trước vài chén đã!”.
Hoàng Tông Hy thần sắc thê thảm, lắc lắc đầu. Cố Viêm Vũ thì tự rót tự uống, liên tiếp một mạch sáu chén.
Lã Lưu Lương nói “Hai vị lần này tới đây, có lẽ có quan hệ với vụ án Minh sử phải không?”. Hoàng Tông Hy nói “Đúng thế!”, Cố Viêm Vũ nâng chén rượu lên, cao giọng ngâm nga “Thanh phong tuy tế nan xuy ngã, Minh nguyệt hà thường bất chiếu nhân” (Gió mát nửa hơi khôn thổi tớ, Trăng thanh một bóng vẫn soi người). Vãn Thôn huynh, hai câu thơ ấy của ngươi quả là tuyệt cú. Ta mỗi khi uống rượu cứ đọc hai câu ấy, thấy đủ tỏ lòng”.
Lã Lưu Lương lòng nhớ nước cũ, không chịu làm quan với nhà Thanh. Quan tỉnh hâm mộ tiếng tăm của y, tiến cử y là bậc “Ẩn dật ở núi rừng”, xứng đáng được triệu về làm quan trong triều, nhưng Lã Lưu Lương sống chết cự tuyệt, nên quan tỉnh không dám bức bách nữa. Về sau lại có một vị đại quan tiến cử y là bậc “Bác học đại nho”, Lã Lưu Lương thấy nếu lại cự tuyệt thì rõ ràng là khinh thị triều đình, không tránh khỏi cái họa sát thân, vì thế xuống tóc đi tu, giả làm hòa thượng. Quan lại địa phương thấy y kiên quyết, từ đó không khuyên y xuống núi nữa. Hai câu thơ “Thanh phong Minh nguyệt” là chê bai nhà Thanh, hoài niệm nhà Minh, tuy không dám in ra, nhưng đã truyền tụng trong khắp các bạn bè đồng tâm đồng đạo, lúc ấy Cố Viêm Vũ lại đọc lên. Hoàng Tông Hy nói “Đúng là thơ hay!”, rồi nhấc chén rượu lên, cũng uống cạn một chén. Lã Lưu Lương nói “Hai vị quá khen rồi”.
Cố Viêm Vũ chợt ngẩng lên, thấy trên vách treo một bức tranh lớn cao khoảng năm tấc, dài khoảng một trượng, vẽ một vùng sơn thủy, bút thế tung hoành, khí tượng hào hùng, không kìm được chậc lưỡi khen một tiếng, thấy trên bức tranh chỉ đề bốn chữ đại tự “Như thử giang sơn”, bèn nói “Xem theo nét bút thì là tranh của Nhị Chiêm tiên sinh rồi”. Lã Lưu Lương nói “Đúng thế”. Vị Nhị Chiêm tiên sinh này họ Tra tên Sĩ Tiêu, là một đại họa gia thời Minh m ạt Thanh sơ, cũng chơi thân với ba người Cố Hoàng Lã. Hoàng Tông Hy hỏi “Bức tranh đẹp như thế mà sao không có lời bạt gì cả?”. Lã Lưu Lương thở dài nói “Tranh của Nhị Chiêm tiên sinh vốn có thâm ý, chỉ vì y là người ổn trọng cẩn thận, đã không ghi lạc khoản, cũng không đề lời bạt. Tháng trước y loanh quanh trong nhà, nhất thời nổi hứng, vẽ xong tặng cho ta, hai vị tiện dịp đề vịnh vài câu được không?”.
Hai người Cố Hoàng đứng lên bước tới ngắm kỹ bức tranh, chỉ thấy sông lớn cuồn cuộn về đông, hai bên bờ có vô số núi non, điểm xuyết cây kỳ đá lạ, chỉ là trong bức tranh hơi mây dày đặc, núi sông tuy đẹp nhưng khiến người ta vừa nhìn thấy là trong lòng lập tức nảy sinh cảm giác bứt rứt.
Cố Viêm Vũ nói “Sông núi thế này lại rơi vào tay Di Địch mà chúng ta nhịn hơi kín tiếng sống thừa trong đó, thật khiến người ta bi phẫn đầy lòng. Vãn Thôn huynh sao không tiện dịp đề một bài thơ bày tỏ ý tứ của Nhị Chiêm tiên sinh?”. Lã Lưu Lương nói “Được”, rồi lập tức tháo bức tranh xuống trải ra trên bàn. Hoàng Tông Hy mài mực, Lã Lưu Lương cầm bút ngẫm nghĩ hồi lâu rồi viết thẳng vào bức tranh, giây lát là xong. Bài thơ như sau:
“Là sau nhà Tống Nam độ ư?
Sông núi thế này thật nhục đấy.
Là sau trận đánh Nhai Sơn ư?
Sông núi thế này không nỡ thấy.
Ta nay mới hiểu ý trên tranh,
Tiếng khóc như hòa cùng lệ chảy.
Lấy nay nhìn trước trước còn nay,
Nín tiếng không cần ngậm tăm vậy.
Đem hết nước mắt ở đài tây,
Hòa vào nét mực để tỏ ý.
Cho nên có họa không thơ văn,
Thơ văn đều trong bốn chữ ấy.
Thường nói muốn sinh đầu thời Minh,
Như mù chợt lại được nhìn thấy.
Núi sông quang đãng ngọc xưa về,
Lên chơi chốn nào chẳng hoan hỷ?”
Viết xong ném bút xuống đất, không kìm được sa nước mắt. Cố Viêm Vũ nói “Thống khốc lâm ly, thật là lời hay tuyệt diệu”. Lã Lưu Lương nói “Bài thơ này chẳng có gì hàm súc, không đáng nói là hay, cũng chỉ là viết rõ bản ý của Nhị Chiêm tiên sinh ra để người xem tranh biết được mà thôi”. Hoàng Tông Hy nói “Ngày nào nước cũ trùng quang, lúc ấy Núi sông quang đãng ngọc xưa về, cho dù núi cùng sông hiểm cũng khiến người ta vui mừng khoan khoái, đúng là Lên chơi chốn nào chẳng hoan hỷ!”, Cố Viêm Vũ nói “Câu kết của bài thơ này thật tuyệt diệu! Rốt lại cũng sẽ có một ngày đánh đuổi giặc Hồ, lấy lại sơn hà Đại Hán của chúng ta, so với việc bộc lộ nỗi bi phẫn càng làm người ta thêm phần mạnh mẽ”.
Hoàng Tông Hy thong thả nhấc bức tranh lên, nói “Bức tranh này không treo được nữa rồi, Vãn Thôn huynh nên cất đi cho kỹ mới nên. Nếu lại để cho kẻ gian nhân loại Ngô Chi Vinh thấy được, quan phủ tra xét ra, thì Vãn Thôn huynh cố nhiên là gặp rắc rối, mà còn liên lụy tới cả Nhị Chiêm tiên sinh”.
Cố Viêm Vũ đập bàn chửi “Thằng cẩu tặc Ngô Chi Vinh ấy, ta thật hận là không được ăn thịt y”. Lã Lưu Lương nói “Hai vị quang lâm, nói là có chuyện khẩn cấp. Chúng ta quen thói học trò, cứ lo làm thơ đề tranh, quên bẵng chuyện chính. Không biết rốt lại là chuyện gì vậy?”. Hoàng Tông Hy nói “Hai người bọn ta tới đây là vì chuyện Y Hoàng tiên sinh người nhà của Nhị Chiêm tiên sinh. Hôm trước tiểu đệ và Cố huynh được tin, nguyên là trong vụ đại án Minh sử này có cả Y Hoàng tiên sinh”. Lã Lưu Lương giật mình nói “Y Hoàng huynh cũng bị liên lụy sao?”.
Hoàng Tông Hy nói “Phải. Chiều hôm trước hai người bọn ta vội vàng tới trấn Viên Hoa huyện Hải Ninh thì Y Hoàng tiên sinh không có nhà, người nhà nói là đi thăm bạn. Viêm Vũ huynh thấy tình thế khẩn cấp, vội dặn người nhà của Y Hoàng tiên sinh bỏ trốn ngay trong đêm, lại nghĩ Y Hoàng tiên sinh và Vãn Thôn huynh chơi thân với nhau, nên vội tới đây hỏi thăm”. Lã Lưu Lương nói “Y… y lại không tới đây, không biết đi đâu”, Cố Viêm Vũ nói “Nếu y ở nhà, thì lần này đã ra gặp nhau rồi. Ta đã đề lên vách thư phòng của y một bài thơ, nếu y trở về, tự nhiên sẽ hiểu rõ, biết nên trốn tránh, chỉ sợ y không biết tin, lộ mặt ở ngoài, để quan quân bắt được thì hỏng mất”.
Hoàng Tông Hy nói “Cái án Minh sử này khiến danh sĩ đất Chiết Tây chúng ta cơ hồ đều mắc độc thủ. Ý của triều đình nhà Thanh rất ác, Vãn Thôn huynh thanh danh rất lớn, ý Đình Lâm huynh và tiểu đệ là muốn khuyên Vãn Thôn huynh tạm thời rời nhà lánh đi để tránh một phen sóng gió”.
Lã Lưu Lương căm tức nói “Nếu hoàng đế Thát Đát bắt ta về Bắc Kinh để róc xương lột da, thì hay dở gì ta cũng phải mắng y một trận cho hả nỗi giận trong lòng, rồi sẽ khoan khoái chịu chết”.
Cố Viêm Vũ nói “Vãn Thôn huynh hào khí xông mây, khiến người ta bội phục. Nhưng sợ là không gặp được hoàng đế Thát Đát mà chết dưới tay bọn nô tài hèn hạ thôi. Mà nói lại thì hoàng đế Thát Đát chỉ là một đứa nhỏ, không biết gì cả, đại quyền triều chính đều trong tay quyền thần Ngao Bái. Huynh đệ và Lê Châu huynh suy nghĩ, vụ án Minh sử lần này sở dĩ trống gióng cờ mở, sấm ran chớp giật như thế là vì Ngao Bái muốn bẻ gãy chí khí của sĩ nhân Giang Nam chúng ta”.
Lã Lưu Lương nói “Ý hai vị rất đúng. Từ khi quân Thanh vào cửa quan đến nay, hoành hành ở Giang Bắc không bị ngăn trở, vừa tới Giang Nam lại bị chống đối khắp nơi, nhất là những người đọc sách biết lẽ Hoa Di phải đề phòng lẫn nhau, không ngừng quấy rối họ. Ngao Bái nhân cơ hội này, muốn tăng cường trấn áp sĩ nhân Giang Nam ta. Hừ, Lửa đồng thiêu chẳng hết, Gió xuân sang lại xanh, trừ phi y giết sạch sành sanh những người đọc sách ở Giang Nam chúng ta thôi”.
Cố Viêm Vũ nói “Phải lắm, vì thế chúng ta phải lưu lại tấm thân hữu dụng để lo toan cho hoàng đế Thát Đát đến cùng, nếu sính cường khoe khoang cái dũng huyết khí nhất thời lại thành mắc mưu của họ”.
Lã Lưu Lương lập tức hiểu ra, hai người Hoàng Cố xông pha giá rét tìm tới, một là vốn để tìm Tra Y Hoàng, hai là để khuyên mình trốn tránh, sợ mình nhất thời dằn lòng không được lại tự nộp mạng, nỗi khổ tâm của bạn hiền, quả rất cảm kích, liền nói “Lời vàng ý ngọc của hai vị, huynh đệ đâu dám không nghe theo? Sáng sớm ngày mai, cả nhà huynh đệ sẽ tránh đi nơi khác”. Hoàng Cố hai người cả mừng, đồng thanh nói “Theo lẽ thì phải thế”.
Lã Lưu Lương trầm ngâm nói “Nhưng không biết nên tránh ở đâu thì tốt?. Chỉ thấy trời đất mênh mông, đâu đâu cũng là thiên hạ của người Thát Đát, quả thật không có một mảnh đất nào yên ổn. Đâu chốn Đào Nguyên để lánh Tần? Đâu chốn Đào Nguyên để lánh Tần?”, Cố Viêm Vũ nói “Hiện nay cho dù trên đời quả thật có Đào Nguyên Lạc thổ, chúng ta cũng không thể độc thiện kỳ thân, trốn lánh vào đó…”. Lã Lưu Lương không chờ y nói hết, đập bàn đứng dậy lớn tiếng nói “Đình Lâm huynh trách câu ấy rất đúng. Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách, tạm thời tránh nạn thì được, chứ nếu náu thân ở chốn Đào Nguyên, tiêu dao tự tại, nỡ để hàng ức vạn bách tính chịu khổ dưới vó ngựa Thát Đát, thì làm sao yên tâm? Huynh đệ lỡ lời rồi”.
Cố Viêm Vũ mỉm cười nói “Huynh đệ mấy năm nay lãng tích giang hồ, kết giao với không ít anh hùng hào kiệt. Khắp nam bắc Đại giang, những nơi đi tới, không chỉ những người đọc sách chống lại Thát Đát mà trong những người buôn gánh bán bưng, đồ tể ở chợ búa, nơi nào cũng có kẻ hào kiệt lòng đầy nhiệt huyết. Nếu Vãn Thôn huynh có lòng thì ba người chúng ta cùng tới Dương Châu, huynh đệ đưa ngươi tới gặp mấy vị đồng đạo được không?”. Lã Lưu Lương cả mừng nói “Hay quá, hay quá! Sáng mai chúng ta đi Dương Châu, hai vị ngồi một lúc, huynh đệ vào nói với chuyết kinh, để nàng chuẩn bị hành trang”. Nói xong vội vã đi vào nhà trong.
Không bao lâu Lã Lưu Lương quay lại thư phòng, nói “Vụ án Minh sử tuy bên ngoài đồn đại nhao nhao, nhưng một là lời đồn chưa chắc đã đúng, hai là nhiều người kể chuyện lại sợ sệt, không dám kể hết. Huynh đệ ở một mình nơi xó xỉnh, chưa biết rõ ràng, rốt lại bắt đầu từ đâu?”.
Cố Viêm Vũ thở dài, nói “Bộ Minh sử này chúng ta đều đã đọc qua, trong đó đối với người Thát Đát thì không mấy cung kính, chuyện đó cũng có. Nguyên bản sách này là của Thừa tướng Chu Quốc Trinh nhà Đại Minh ta, nói tới chuyện vệ Kiến Châu ngoài cửa quan thì làm gì còn phải khách sáo với người Thát Đát?”. Lã Lưu Lương gật đầu nói “Nghe nói Trang gia ở Hồ Châu bỏ ra mấy ngàn lượng bạc mua lại được nguyên cảo từ tay hậu duệ của Chu Thừa tướng, ký tên mình khắc in lưu hành, không ngờ lại gặp tai họa lớn này”.
***
Ba phủ Hàng Châu, Gia Hưng, Hồ Châu vùng Chiết Tây địa thế bằng phẳng, đất đai màu mỡ, sản vật nổi tiếng có thóc gạo, tơ tằm. Thủ huyện của phủ Hồ Châu hiện nay gọi là huyện Ngô Hưng, thời Thanh chia làm hai huyện Ô Trình, Quy An. Trước nay văn phong rất thịnh, tài sĩ các đời nối nhau nảy sinh, Thẩm Ước chia tiếng Trung Quốc ra làm bốn thanh bình thượng khứ nhập thời Lương, Triệu Mạnh Phủ thư họa đều đạt tới mức tuyệt diệu thời Nguyên đều là người Hồ Châu, ở đó lại nhờ sản xuất bút mà nổi tiếng, bút Hồ Châu, mực Huy Châu, giấy Tuyên Thành, nghiên Đoan Khê Triệu Khánh, văn phòng tứ bảo nổi tiếng thiên hạ.
Phủ Hồ Châu có trấn Nam Tầm, tuy là một trấn nhưng lớn hơn các phủ huyện bình thường nhiều, trong trấn có rất nhiều nhà giàu, trong các đại tộc giàu có nổi tiếng có một nhà họ Trang. Lúc ấy phú hộ Trang gia tên Trang Doãn Thành, sinh được mấy người con trai, con trưởng tên Đình Long, từ nhỏ thích học hành, kết giao với nhiều danh sĩ tài tử ở Giang Nam. Đến đời Thuận Trị, Trang Đình Long vì đọc sách quá nhiều, đột nhiên bị mù, mời rước khắp các danh y cũng không sao chữa khỏi, từ đó uất ức không vui.
Chợt một hôm, láng giềng có một thiếu niên họ Chu mang tới một bộ sách chép tay, nói là di cảo của tổ phụ là Chu Tướng quốc, xin thế chấp cho Trang gia để vay vài trăm lượng bạc. Trang gia trước nay vốn khảng khái, đối với hậu nhân của Chu Tướng quốc vẫn rất chiếu cố, đã tới hỏi vay tiền là lập tức ưng thuận, cũng không đòi y phải thế chấp vật gì. Nhưng thiếu niên họ Chu nói vay được tiền rồi sẽ đi xa, bộ di cảo này của tổ tiên mang theo sợ có sơ suất, để ở nhà lại không yên tâm, muốn gởi chỗ Trang gia. Trang Doãn Thành liền ưng thuận. Thiếu niên họ Chu đi rồi, Trang Doãn Thành để giải muộn cho con trai, bèn sai thanh khách trong nhà đọc cho y nghe.
Bộ Minh sử này của Chu Quốc Trinh phần lớn đã khắc in lưu hành, lưu truyền trên đời. Lần này phần cháu nội y cầm tới Trang gia để thế chấp là rất nhiều thiên liệt truyện ở cuối. Trang Đình Long nghe thanh khách đọc vài hôm, cảm thấy rất hứng thú, chợt nghĩ “Ngày xưa Tả Khâu Minh bị mù nhưng nhờ làm bộ sử Tả truyện mà nổi tiếng hàng ngàn năm sau. Mình bây giờ mù mắt, rảnh rỗi buồn chán, sao không soạn ra một bộ sử thư để lưu truyền cho hậu thế?”.
Nhà giàu làm việc rất dễ, y đã nảy ra ý ấy, lập tức đưa lễ vật mời mấy vị sĩ nhân tới, đọc hết bộ Minh sử cảo ấy từ đầu tới cuối cho họ nghe. Y cho rằng chỗ nào nên thêm chỗ nào nên sửa cứ tùy lúc nói ra, có tân khách ghi lại.
Nhưng nghĩ mình đã mù, không sao đọc rộng sử sách, bộ Minh sử này sửa sang truyền ra, nếu nội dung sai lầm quá nhiều thì không những khó nổi tiếng mà lại bị người ta chê cười, lúc ấy lại bỏ ra một số tiền lớn mời rước rất nhiều bậc đại nho tham gia tu sửa hiệu đính, cốt cho tận thiện tận mỹ. Có một số người có học vấn không phải tiền bạc có thể mời tới được, Trang Đình Long lại nài nỉ nhờ vả người khác dùng lời lẽ khiêm cung để mời. Quanh vùng Thái Hồ trước nay có rất nhiều văn sĩ, nhận được lễ vật của Trang gia, một vì thương y mù mắt, cảm y thành tâm, hai vì thấy tu soạn Minh sử là việc hay, nên phần đông đều tới Trang gia làm khách mười ngày nửa tháng, hoặc sửa những chỗ sai, hoặc nhuận sắc thêm, hoặc soạn vài thiên cho bản thảo. Vì thế bộ Minh sử cảo này quả thật đã tập hợp được không ít sức lực của nhiều tay đại bút. Sách làm thành chưa bao lâu thì Trang Đình Long qua đời.


