Phí Bân nhìn Sử Đăng Đạt nói:
– Giơ cao cờ lệnh lên!
Sử Đăng Đạt đáp dạ rồi giơ cao cờ lệnh đi đến đứng bên cạnh Phí Bân. Phí Bân nghiêm nghị nói:
– Lưu sư huynh, chuyện hôm nay không có liên can gì đến Mạc Đại tiên sinh, chưởng môn phái Hành Sơn; sư huynh không nên kéo Mạc Đại tiên sinh vào. Tả minh chủ dặn dò bọn tiểu đệ đến điều tra để biết giữa Lưu sư huynh và Ma giáo giáo chủ Đông Phương Bất Bại có ngấm ngầm câu kết với nhau không, có bày ra âm mưu gì để đối phó với Ngũ Nhạc kiếm phái của chúng ta cũng như với các chính phái đồng đạo võ lâm không?
Gã vừa nói xong, quần hùng đều sửng sốt biến sắc, không ít người có ý sợ hãi la thầm trong bụng. Ma giáo và anh hùng trong bạch đạo xưa nay không đội trời chung với nhau, hai bên đã kết oán thù mấy trăm năm, những chuyện tranh đấu với nhau diễn ra không ngừng và mỗi bên đều có thắng có bại. Có thể nói ít nhất trong hơn một ngàn người trên đại sảnh thì một nửa đã bị bọn Ma giáo làm hại; có người phụ huynh bị giết, có người sư trưởng bị hại, nên vừa nghe đề cập đến hai chữ “Ma giáo”, ai ai cũng nghiến răng căm phẫn. Ngũ Nhạc kiếm phái kết minh với nhau mục đích lớn nhất cũng là để đối phó với bọn Ma giáo. Ma giáo thế mạnh người đông, võ công cao cường; các danh môn chính phái tuy mỗi phái đều có võ nghệ tuyệt luân nhưng cũng không phải là đối thủ của họ. Ma giáo giáo chủ Đông Phương Bất Bại được tôn xưng là cao thủ đệ nhất đương thời, tên của lão gọi là Bất Bại bởi vì từ khi luyện thành tuyệt nghệ đến nay, lão chưa hề thất bại lần nào. Lão thật là một nhân vật phi thường. Quần hùng nghe Phí Bân chỉ trích Lưu Chính Phong cấu kết với Ma giáo, chuyện này xác thực có liên quan đến tính mệnh thân gia của mọi người, sự đồng cảm trước đây với Lưu Chính Phong bây giờ tiêu tan hết.
Lưu Chính Phong nói:
– Lưu mỗ chưa từng gặp qua Ma giáo giáo chủ Đông Phương Bất Bại; cái gọi là cấu kết, âm mưu từ đâu mà có?
Phí Bân nghiêng đầu nhìn tam sư huynh Lục Bách, chờ gã nói. Lục Bách chậm rãi nói:
– Lưu sư huynh, lời huynh nói vừa rồi e rằng không được thành thật. Trong Ma giáo có một người hộ pháp trưởng lão tên là Khúc Dương, không hiểu Lưu sư huynh có quen biết lão hay không?
Lưu Chính Phong vốn là người rất bình tĩnh nhưng khi nghe gã đề cập đến hai chữ “Khúc Dương” lập tức biến sắc. Lão mím chặt môi, không đáp.
Gã mập Đinh Miễn từ lúc vào đại sảnh chưa nói câu nào, lúc này bỗng dưng lớn tiếng hỏi:
– Lưu sư huynh có quen Khúc Dương không?
Giọng nói của lão vang dội như bảy tám người cùng nói ra một lúc khiến mọi người ù cả tai. Gã đứng trân không nhúc nhích; thân người gã vốn đã cao to vạm vỡ kỳ lạ, bây giờ mở miệng nói ra, trong mắt mọi người dường như gã bỗng nhiên cao to hơn một thước, uy mãnh phi thường không thể tả xiết.
Lưu Chính Phong vẫn chưa đáp, hơn một ngàn người đưa mắt chăm chú nhìn vào mặt lão. Mọi người đều cho rằng Lưu Chính Phong trả lời hay không cũng như nhau, lão không nói ra tức là đã mặc nhiên thừa nhận rồi. Một lúc lâu sau, Lưu Chính Phong gật đầu đáp:
– Đúng vậy! Khúc Dương đại ca với Lưu mỗ không những quen biết mà còn là hảo bằng hữu, là tri kỷ duy nhất trong đời Lưu mỗ.
Đại sảnh nhốn nháo cả lên, quần hùng bàn tán xôn xao vì câu nói của Lưu Chính Phong vượt ra ngoài dự đoán của họ. Mọi người cứ nghĩ là nếu lão thừa nhận thì chỉ thừa nhận đã cùng với Khúc Dương có chuyện gặp nhau một lần, không ngờ lão lại nói Ma giáo trưởng lão là hảo bằng hữu, tri âm tri kỷ của lão.
Khuôn mặt Phí Bân lộ ra vẻ hớn hở, nói:
– Lưu sư huynh đã thừa nhận như vậy thì hay lắm. Bậc đại trượng phu mình làm mình chịu. Lưu sư huynh, Tả minh chủ đã vạch ra hai con đường để sư huynh lựa chọn.
Lưu Chính Phong hình như không nghe lời nói của Phí Bân, thần sắc lão vẫn điềm nhiên. Lão từ từ ngồi xuống, tay phải nhấc hũ rượu rót đầy một bát rồi đưa lên miệng chầm chậm uống cạn, tay áo không một chút rung động, đủ biết định lực của lão vô cùng cao thâm, giữa lúc khẩn cấp nghiêm trọng mà vẫn thản nhiên như không có gì xảy ra. Bản sắc và võ công của lão đã đạt đến mức thượng thừa; cả hai điều này mà khuyết một cũng không được. Mọi người càng ngấm ngầm bội phục.
Phí Bân dõng dạc nói:
– Tả minh chủ nói: Lưu Chính Phong là nhân tài hiếm có trong phái Hành Sơn, nhất thời sai lầm đi vào đường rẽ kết giao với người của tà giáo. Nếu lão có thể tự ăn năn hối cải thì ta là một hảo bằng hữu trong chánh giáo, sao không mở ra cho lão một con đường mới để quay về chánh nghĩa? Tả minh chủ dặn dò huynh đệ chuyển lời đến Lưu sư huynh như vậy. Nếu sư huynh chấp nhận con đường này, minh chủ hạn định cho Lưu sư huynh trong vòng một tháng phải giết chết Ma giáo trưởng lão Khúc Dương mang đầu về nộp thì những chuyện lầm lỡ không cần truy cứu nữa. Từ nay mọi người vẫn là hảo bằng hữu, hảo huynh đệ của nhau.
Quần hùng nghĩ bụng: Hai phe chính tà không thể đội trời chung với nhau; bọn bàng môn tả đạo của Ma giáo và các nhân vật trong chính giáo hễ gặp mặt nhau thì phải kẻ sống người chết. Tả minh chủ buộc Lưu Chính Phong phải giết Khúc Dương để tự chứng minh mình trong sạch thì yêu cầu này cũng không có gì là quá đáng.
Nét mặt Lưu Chính Phong thoáng một nụ cười thê lương. Lão nói:
– Khúc đại ca và Lưu mỗ vừa gặp nhau đã là cố nhân, dốc hết tâm sự cùng kết giao với nhau. Lão và Lưu mỗ đã gặp nhau hơn mười lần, ngẫu nhiên đề cập đến sự khác biệt về cái nhìn của các tông phái môn hộ, Khúc đại ca thở dài, cho rằng hai bên tranh đấu như vậy thật là vô vị. Lưu mỗ và Khúc đại ca kết giao với nhau chỉ để nghiên cứu thảo luận âm luật. Đại ca là cao thủ thất huyền cầm, tại hạ say mê thổi sáo; cả hai gặp nhau, phần lớn thời gian dành cho việc hợp tấu đàn sáo, trước nay không hề bàn bạc gì đến chuyện võ công.
Lão nói đến đây, tủm tỉm cười rồi nói tiếp:
– Các vị không tin thì thôi chứ trên thế gian này, Lưu Chính Phong cho là đánh đàn thì không ai bằng Khúc đại ca, mà thổi sáo thì Lưu mỗ cũng không chịu đứng vào hàng thứ hai. Khúc đại ca tuy là người trong Ma giáo nhưng qua tiếng đàn của đại ca, Lưu mỗ đã ngầm biết được tính khí cao khiết của đại ca, xứng đáng là bạn của trăng thanh gió mát. Lưu Chính Phong này đối với đại ca không những đã khâm phục mà còn ngưỡng mộ. Lưu mỗ tuy là kẻ thất phu quê mùa cũng quyết không thể làm hại người quân tử.
Quần hùng càng nghe càng lấy làm lạ, không thể tin được rằng lão và Khúc Dương lại kết giao với nhau qua tiếng đàn điệu sáo. Nhưng nghe lão nói rất thành khẩn, tuyệt không có một chút gì giả dối, thì họ cho rằng trên giang hồ có rất nhiều kẻ sĩ làm nhiều chuyện đặc biệt. Trước nay, thanh sắc khiến con người mê đắm nên chuyện Lưu Chính Phong đam mê âm nhạc cũng là chuyện bình thường. Những người biết rõ nội tình của phái Hành Sơn lại nghĩ: Cao thủ nhiều đời của phái Hành Sơn đều say mê âm nhạc, đương kim chưởng môn nhân Mạc Đại tiên sinh có ngoại hiệu là Tiêu Tương dạ vũ, cây hồ cầm không rời khỏi tay, giang hồ đã có tám chữ “Cầm trung tàng kiếm, kiếm phát cầm âm”. Lưu Chính Phong do mê thổi sáo mà kết giao với Khúc Dương là chuyện hoàn toàn có thể xảy ra.
Phí Bân nói:
– Tả minh chủ đã biết rõ Lưu sư huynh và Khúc ma đầu do âm luật mà kết giao với nhau. Tả minh chủ nói: “Lòng dạ Ma giáo ác độc khôn lường, chúng biết Ngũ Nhạc kiếm phái của chúng ta những năm gần đây rất hưng vượng, khó mà đối kháng được nên chúng dùng trăm phương ngàn kế để phá ngay từ trong nội bộ chúng ta, gây nên sự ly gián. Chúng không từ một mặt nào hết, hoặc dùng tiền bạc, hoặc dùng mỹ sắc. Lưu sư huynh vốn là người giữ mình nghiêm cẩn, hai mặt này không phải là sở thích của Lưu sư huynh, nên chúng phái Khúc Dương là một tay giỏi âm luật đến kết bạn. Lưu sư huynh, cái đầu của Lưu sư huynh nên tỉnh táo một chút. Trước đây, Ma giáo đã giết hại quá nhiều người của chúng ta, sao Lưu sư huynh bị bọn chúng dùng mánh lới mê hoặc mà không có một chút tỉnh ngộ?
Định Dật sư thái nói:
– Phải rồi, những lời của Phí sư đệ rất đúng đắn. Ma giáo thật là đáng sợ, võ công không những âm độc mà còn trùng trùng quỷ kế khiến người ta không biết đâu mà đề phòng. Lưu sư đệ, sư đệ là bậc chính nhân quân tử, còn hắn là tên tiểu nhân đê hèn thì làm sao có thể kết bạn với nhau được? Sư đệ hãy mau chém chết tên Khúc Dương ma đầu kia thì mọi chuyện sẽ rõ ràng ngay. Ngũ Nhạc kiếm phái ta đồng khí liên chi, không thể để bị người của Ma giáo gây ra sự xích mích làm tổn thương đến nghĩa khí của đồng đạo.
Thiên Môn đạo nhân gật đầu nói:
– Lưu sư đệ, người quân tử có lỗi cũng như mặt trăng mặt trời tạm thời bị mây che khuất; ai ai cũng biết có lỗi thì có thể sửa không phải là điều tốt lành sao? Sư đệ nên giết lão ma đầu họ Khúc kia, người trong chính giáo ai cũng sẽ giơ ngón tay cái mà khen: “Lưu Chính Phong phái Hành Sơn quả nhiên là một hảo hán tử thiện ác phân minh”. Chúng ta là bằng hữu với hiền đệ cũng cảm thấy hãnh diện.
Lưu Chính Phong không đáp, hướng mắt về Nhạc Bất Quần hỏi:
– Nhạc sư huynh, sư huynh là bậc quân tử hiểu rõ điều phải trái, ở đây có nhiều vị cao thủ võ lâm đều ép tiểu đệ bán đứng bằng hữu, Nhạc sư huynh nghĩ sao?
Nhạc Bất Quần nói:
– Lưu hiền đệ, nếu đích thực là bằng hữu thì bọn người trong võ lâm có vì bằng hữu mà bị đao xuyên vào xương sườn cũng không chau mày. Có điều lão họ Khúc trong Ma giáo hiển nhiên là “Bề ngoài thơn thớt nói cười, mà trong nham hiểm giết người không đao”. Lão tìm mọi cách để kết giao với hiền đệ thật là hiểm độc vô cùng. Mục đích của lão là hại Lưu hiền đệ phải thân bại danh liệt, tan cửa nát nhà, tâm địa lão độc ác không sao nói hết được. Hạng người này mà cũng gọi là bằng hữu, há không phải là làm ô nhục hai chữ “bằng hữu” ư? Cổ nhân vì đại nghĩa mà giết cả người thân; người thân có thể giết đi, huống hồ đại ma đầu, đại gian tặc? Loại người này không thể xem là bằng hữu được.
Quần hùng nghe Nhạc Bất Quần nói dõng dạc như vậy liền bàn tán nhao nhao cả lên:
– Lời nói của Nhạc tiên sinh thật là minh bạch. Đối với bằng hữu tất nhiên phải có nghĩa khí, đối với kẻ địch thì phải tru diệt tận gốc, cần chi nói đến nghĩa khí nữa.
Lưu Chính Phong thở dài, đợi cho tiếng người lắng dịu xuống rồi mới chậm rãi nói:
– Lúc đầu Lưu mỗ và Khúc đại ca kết giao với nhau đã đoán được chuyện xảy ra ngày hôm nay. Gần đây ngấm ngầm theo dõi tình thế, Lưu mỗ đoán được không bao lâu nữa, giữa Ngũ Nhạc kiếm phái chúng ta và Ma giáo sẽ có một trận tranh đấu khốc liệt. Một bên là sư huynh đệ đồng minh, một bên là bằng hữu chi giao, Lưu mỗ không thể đứng về bên nào cho nên mới nghĩ ra kế sách rửa tay gác kiếm để muốn nói với đồng đạo thiên hạ rằng Lưu mỗ từ nay rút khỏi võ lâm, đặt mình ra ngoài mọi chuyện, không muốn nghe đến ân oán giết hại trên giang hồ. Chấp nhận một chức quan võ nhỏ bé như hạt mè hạt đậu, Lưu mỗ biết là đã tự làm hoen ố mình để che tai mắt của người. Nào ngờ Tả minh chủ thần thông quảng đại, nước cờ của Lưu mỗ không qua được mắt minh chủ.
Quần hùng nghe lão nói vậy mới hiểu ra, nghĩ bụng: Thì ra lão rửa tay gác kiếm vì đã ngấm ngầm có thâm ý này. Bọn ta trước đây không hiểu tại sao một cao thủ của phái Hành Sơn lại cam tâm đi làm một chức quan nhỏ xíu. Lời Lưu Chính Phong giải thích thêm khiến mọi người đều tự hào mình đã sáng suốt nhận định đúng.
Phí Bân, Đinh Miễn và Lục Bách ba người đưa mắt nhìn nhau, ra chiều đắc ý, nghĩ: Nếu không phải Tả minh chủ khám phá ra gian kế của lão để kịp thời cản ngăn, thì lão đã đạt được mục đích rồi.
Lưu Chính Phong nói tiếp:
– Ma giáo và chánh giáo chúng ta đã hơn một trăm năm tranh đấu tàn sát nhau; phải trái, đúng sai nhất thời không nói hết được. Lưu mỗ chỉ mong muốn rút khỏi những cuộc ác đấu gió tanh mưa máu, từ đây quy ẩn chốn lâm tuyền, thổi sáo dạy con, làm một lương dân an phận thủ thường. Lưu mỗ cho rằng tâm nguyện này chẳng có gì vi phạm đến quy củ của bổn môn và minh ước của Ngũ Nhạc kiếm phái.
Phí Bân cười nhạt nói:
– Nếu ai ai cũng giống như Lưu sư huynh, lúc nguy nan lâm trận đều bỏ trốn, há không phải để bọn Ma giáo tự do hoành hành trên giang hồ, làm hại nhân gian ư? Lưu sư huynh muốn đặt mình ra ngoài vòng phiền lụy, quyết không nhúng tay vào, nhưng Khúc ma đầu kia có chịu đặt mình ra ngoài vòng phiền lụy không?
Lưu Chính Phong mỉm cười đáp:
– Khúc đại ca đã sớm nói cho Lưu mỗ biết rằng đại ca đã lập lời trọng thệ trước Ma giáo tổ sư gia, từ nay về sau bất luận Ma giáo và bạch đạo có cuộc tranh đấu thế nào đi nữa thì Khúc đại ca nhất định đặt mình ra ngoài, quyết không nhúng tay vào. Người đã không xúc phạm ta thì ta cũng không xúc phạm người.
Phí Bân cười nhạt nói:
– Hay cho câu “Người đã không xúc phạm ta thì ta cũng không xúc phạm người”! Nếu người trong bạch đạo chúng ta muốn xúc phạm hắn thì Lưu sư huynh nghĩ sao?
Lưu Chính Phong đáp:
– Khúc đại ca đã nói rằng: Đại ca hết sức nhân nhượng, quyết không cùng người tranh thắng, gắng sức điều giải mối hiềm khích giữa đôi bên. Sáng sớm hôm nay, đại ca còn phái người đến báo tin cho Lưu mỗ hay rằng Lệnh Hồ Xung, đệ tử của phái Hoa Sơn vì cứu người mà bị thương nguy cấp đến tính mạng, đã được đại ca ra tay cứu sống.
Lưu Chính Phong vừa nói xong, quần hùng đều kinh ngạc, nhất là bọn người phái Hoa Sơn, phái Hằng Sơn và phái Thanh Thành. Họ chụm đầu kề tai bàn tán. Nhạc Linh San phái Hoa Sơn không nhịn được, bèn hỏi:
– Lưu sư thúc, đại sư ca của đệ tử bây giờ ở đâu? Có thật là… tiền bối… tiền bối họ Khúc đã cứu tính mạng của đại ca không?
Lưu Chính Phong đáp:
– Khúc đại ca đã nói như vậy chắc không phải là giả dối. Sau này gặp Lệnh Hồ hiền điệt, ngươi có thể trực tiếp hỏi hắn thì sẽ biết.
Phí Bân cười khẩy, nói:
– Điều đó có gì kỳ lạ đâu? Người trong Ma giáo đã tìm cách ly gián, thủ đoạn nào mà bọn chúng không dùng đến? Hắn đã tìm trăm phương ngàn kế để lôi kéo Lưu sư huynh thì tất nhiên hắn sẽ tìm trăm phương ngàn kế để lôi kéo đệ tử phái Hoa Sơn. Nói không chừng, Lệnh Hồ Xung do điều này mà đem lòng cảm kích, muốn báo đáp ơn cứu mạng của hắn, trong Ngũ Nhạc kiếm phái của chúng ta lại có thêm một tên phản đồ.
Gã nói xong, quay sang Nhạc Bất Quần nói:
– Nhạc sư huynh, tiểu đệ nói như vậy chỉ là ví dụ, xin sư huynh đừng trách!
Nhạc Bất Quần cười nói:
– Ta không trách sư đệ đâu!
Lưu Chính Phong giương cặp lông mày lên, ngang nhiên hỏi:
– Phí sư huynh, sư huynh nói “lại có thêm một tên phản đồ”, chữ “lại” là có dụng ý gì?
Phí Bân cười nhạt nói:
– Có tật thì giật mình, Lưu sư huynh đã biết rồi, hà tất phải hỏi làm chi?
Lưu Chính Phong nói:
– Hừ, Phí sư huynh chỉ thẳng Lưu mỗ ta là kẻ phản đồ của bổn phái. Lưu mỗ kết giao bằng hữu là chuyện riêng tư của Lưu mỗ, người ngoài không can thiệp vào được. Lưu Chính Phong không khi sư diệt tổ, bội phản phái Hành Sơn thì hai chữ “phản đồ” xin gói lại kính hoàn cho sư huynh.
Lưu Chính Phong vốn là người ôn tồn lễ độ như một lão nhà giàu quê mùa, vừa có tính khí của một bá hộ, lại có một chút sĩ khí. Nhưng lúc này hào khí của lão bỗng nhiên tràn trề, khác hẳn lúc bình thường. Quần hùng thấy lão ở vào tình thế vô cùng bất lợi mà vẫn biện luận sắc bén, đấu lý với Phí Bân không chịu nhường một câu đều thầm khâm phục sự gan dạ của lão.
Phí Bân nói:
– Nếu nói như vậy có nghĩa là Lưu sư huynh không chịu con đường thứ nhất, không chịu trừ gian diệt tà, giết tên đại ma đầu Khúc Dương sao?
Lưu Chính Phong đáp:
– Nếu Tả minh chủ đã có hiệu lệnh thì Phí sư huynh có thể động thủ ngay bây giờ, giết toàn gia của Lưu mỗ đi!
Phí Bân nói:
– Lưu sư huynh không nên ỷ mình thế mạnh mà không sợ. Sư huynh tưởng anh hùng hảo hán trong thiên hạ đang làm tân khách trong Lưu phủ thì Ngũ Nhạc kiếm phái của ta phải úy kỵ, không thể thanh lý môn hộ chăng?
Lão vừa nói dứt lời liền vẫy tay cho Sử Đăng Đạt rồi nói:
– Ngươi lại đây!
Sử Đăng Đạt đáp dạ rồi tiến lên ba bước. Phí Bân đón lấy cờ lệnh Ngũ Nhạc kiếm phái, giơ cao lên nói:
– Lưu Chính Phong nghe đây! Tả minh chủ có lệnh: nếu trong vòng một tháng mà ngươi không giết Khúc Dương thì Ngũ Nhạc kiếm phái đành phải lập tức thanh lý môn hộ để tránh hậu hoạn. Diệt cỏ phải diệt tận gốc quyết không dung tình. Ngươi nghĩ kỹ đi.
Lưu Chính Phong cười đau đớn nói:
– Lưu mỗ kết giao bằng hữu, quý ở chỗ chân thành với nhau, sao có thể giết hại bằng hữu để giữ thân mình được? Tả minh chủ đã không lượng thứ cho, Lưu Chính Phong này thế cô lực bạc làm sao có thể chống chọi với Tả minh chủ được? Phái Tung Sơn của sư huynh đã sớm bố trí tất cả rồi, e rằng ngay cả quan tài của Lưu mỗ cũng đã mua giùm. Phí huynh muốn động thủ thì động thủ ngay đi, còn đợi gì nữa?
Phí Bân phất cờ lớn tiếng nói:
– Thiên Môn sư huynh phái Thái Sơn, Nhạc sư huynh phái Hoa Sơn, Định Dật sư thái phái Hằng Sơn, các vị sư huynh sư điệt phái Hành Sơn! Tả minh chủ có dặn: Trước nay chính tà không thể cùng sống chung; Ma giáo và Ngũ Nhạc kiếm phái thù sâu như biển. Lưu Chính Phong kết giao tà giáo, chạy sang hàng ngũ kẻ địch, Ngũ Nhạc đồng môn ta phải ra tay trừ khử. Ai tuân lệnh xin đứng qua mé trái!
Thiên Môn đạo nhân đứng dậy, rảo bước sang mé trái, không liếc nhìn Lưu Chính Phong. Sư phụ của Thiên Môn đạo nhân năm xưa mất mạng trong tay của m ột nữ trưởng lão Ma giáo nên lão căm giận Ma giáo đến tận xương tủy. Lão vừa đi sang mé trái thì các đệ tử môn hạ cũng đi qua theo.
Nhạc Bất Quần cũng đứng dậy nói:
– Lưu hiền đệ, hiền đệ chỉ cần gật đầu một cái, Nhạc Bất Quần này sẽ vì hiền đệ lo liệu việc Khúc Dương được chăng? Hiền đệ nói đại trượng phu không thể đắc tội với bằng hữu, lẽ nào trong thiên hạ này chỉ có một mình Khúc Dương mới là bằng hữu của hiền đệ? Ngũ Nhạc kiếm phái chúng ta và nhiều vị anh hùng hảo hán có mặt ở đây đều không phải là bằng hữu của hiền đệ sao? Hơn một ngàn đồng đạo võ lâm nghe tin hiền đệ rửa tay gác kiếm đều vượt ngàn dặm đến đây, thành ý chúc mừng hiền đệ, coi như đã là mối tình giao hảo rồi. Lẽ nào tính mạng của cả nhà hiền đệ, ân nghĩa sư hữu của Ngũ Nhạc kiếm phái, mối giao tình của hơn một ngàn đồng đạo võ lâm góp lại cũng không bằng một lão Khúc Dương kia?
Lưu Chính Phong lắc đầu đáp:
– Nhạc sư huynh, sư huynh là người học nhiều, hiểu rộng, biết có những điều mà bậc trượng phu không thể làm được. Lưu mỗ cảm kích vô cùng trước những lời khuyên chân thành của sư huynh. Người ta bức bách Lưu mỗ phải sát hại Khúc Dương, Lưu mỗ vạn vạn lần không thể nào làm việc ấy. Giả sử nếu có người bức bách Lưu mỗ phải giết Nhạc sư huynh hay bất kỳ một vị bằng hữu nào ở đây thì dù cho toàn gia gặp nạn, Lưu mỗ cũng quyết không gật đầu. Khúc đại ca là bạn tri âm tri kỷ là điều chắc chắn rồi, cũng như Nhạc sư huynh là hảo bằng hữu của Lưu mỗ. Nếu Khúc đại ca nói một câu muốn ám hại một vị bằng hữu nào của Lưu mỗ trong Ngũ Nhạc kiếm phái thì Lưu mỗ sẽ khinh bỉ con người của đại ca và quyết không làm bằng hữu với đại ca nữa.
Lời nói của Lưu Chính Phong vô cùng thành khẩn khiến quần hùng không khỏi cảm động. Võ lâm lấy nghĩa khí làm trọng; Lưu Chính Phong cố bảo toàn mối giao tình với Khúc Dương, những hán tử giang hồ tuy không cho rằng như vậy là đúng nhưng lòng vẫn ngấm ngầm thán phục nghĩa khí của lão.
Nhạc Bất Quần lắc đầu nói:
– Lưu hiền đệ, hiền đệ nói như vậy là không đúng. Lưu hiền đệ muốn bảo toàn nghĩa khí bằng hữu khiến cho ai cũng khâm phục, nhưng hiền đệ không phân biệt chính tà, bất luận thị phi. Bọn Ma giáo làm nhiều chuyện ác độc, tàn hại rất nhiều chính nhân quân tử trên giang hồ và trăm họ vô tội. Lưu hiền đệ vì nhất thời đam mê tiếng đàn điệu sáo, nỡ đem tính mạng toàn gia giao cho hắn là đã hiểu sai hai chữ “nghĩa khí” rồi.
Lưu Chính Phong cười nhạt nói:
– Nhạc sư huynh, sư huynh không thích âm luật nên chưa hiểu được tấm lòng của tiểu đệ. Ngôn ngữ, văn tự có thể giả dối được nhưng tiếng đàn, điệu sáo là tiếng nói đích thực của tâm hồn, vạn vạn lần không thể giả dối được. Tiểu đệ và Khúc đại ca kết giao với nhau lấy tiếng đàn điệu sáo giao hòa nên tâm ý tương thông. Tiểu đệ xin tình nguyện lấy tính mạng của toàn gia ra bảo đảm rằng Khúc đại ca tuy là người trong Ma giáo nhưng tuyệt đối không mang tính khí tà ác của Ma giáo chút nào.
Nhạc Bất Qu ần thở dài rồi đi đến bên cạnh Thiên Môn đạo nhân. Bọn Lao Đức Nặc, Nhạc Linh San, Lục Đại Hữu đều đi theo.
Định Dật sư thái nhìn Lưu Chính Phong, hỏi:
– Từ nay về sau, ta gọi hiền đệ là Lưu hiền đệ hay là Lưu Chính Phong?
Mặt Lưu Chính Phong tràn đầy vẻ đau khổ. Lão cười tê tái, nói:
– Tính mệnh Lưu Chính Phong chỉ còn trong khoảnh khắc, sau này sư thái cũng không còn gọi đến tên Lưu mỗ nữa.
Định Dật sư thái chấp tay niệm:
– A Di Đà Phật!
Rồi lão ni từ từ bước đến bên Nhạc Bất Quần, nói:
– Nghiệp chướng nặng nề; tội lỗi, tội lỗi!
Các đệ tử môn hạ của lão ni cũng đều lần lượt đi theo.
Phí Bân nói:
– Đây là chuyện của một mình Lưu Chính Phong, không có liên can gì đến các đệ tử của phái Hành Sơn. Ai không muốn theo tên phản nghịch thì đứng sang mé trái.
Trong đại sảnh phút chốc lặng yên. Một tên trẻ tuổi nói:
– Lưu sư bá, bọn đệ tử xin đắc tội với sư bá.
Tên đệ tử trẻ vừa nói xong thì hơn ba mươi đệ tử phái Hành Sơn lũ lượt đi đến bên cạnh quần ni phái Hằng Sơn. Những người này đều là hàng sư điệt của Lưu Chính Phong, còn những đệ tử ruột của lão thì không ai đi.
Phí Bân lại nói:
– Đệ tử thân truyền của Lưu môn cũng đi qua mé trái hết đi.
Hướng Đại Niên lớn tiếng nói:
– Bọn đệ tử chịu ân trọng của sư môn, nghĩa bất tương phụ, đệ tử Lưu môn nguyện đồng sinh cộng tử với ân sư.
Lưu Chính Phong mắt tràn ngấn lệ, nói:
– Hay lắm, giỏi lắm! Đại Niên, ngươi nói vậy khiến cho sư phụ rất vui. Các ngươi đi qua đó đi. Một mình sư phụ kết giao bằng hữu, không có liên quan gì đến các ngươi cả.
Soạt một tiếng, Mễ Vi Nghĩa rút thanh trường kiếm ra nói:
– Một mình Lưu môn không thể địch lại Ngũ Nhạc kiếm phái, chuyện hôm nay chỉ còn liều chết mà thôi. Kẻ nào muốn hại ân sư của ta thì trước tiên phải bước qua xác Mễ Vi Nghĩa này.
Gã nói xong liền đứng chắn trước mặt Lưu Chính Phong.
Đinh Miễn giơ tay lên, vèo một tiếng, một làn sóng bạc phóng ra. Lưu Chính Phong giật mình, phóng nội lực đẩy mạnh vào vai phải của Mễ Vi Nghĩa. Mễ Vi Nghĩa ngã về bên trái, tia sáng bạc bay thẳng về hướng ngực Lưu Chính Phong. Hướng Đại Niên bảo vệ ân sư, vọt người đến đỡ cho sư phụ. Chỉ nghe Hướng Đại Niên la lên một tiếng, mũi ngân châm đã bắn trúng vào tim gã khiến gã chết ngay tức khắc.
Lưu Chính Phong đưa tay trái đỡ lấy thi thể của Hướng Đại Niên. Lão sờ lên mũi đệ tử thấy đã tắt thở, liền quay đầu nhìn Đinh Miễn nói:
– Đinh lão nhị, phái Tung Sơn của lão đã giết đệ tử của Lưu mỗ trước rồi.
Đinh Miễn dõng dạc nói:
– Đúng vậy, chúng ta động thủ trước thì đã sao nào?
Lưu Chính Phong nhấc thi thể của Hướng Đại Niên lên, vận kình lực muốn ném về hướng Đinh Miễn. Đinh Miễn thấy tư thế vận kình lực của lão thì biết nội công của phái Hành Sơn có chỗ độc đáo, Lưu Chính Phong là một tay cao thủ nhất đẳng trong phái Hành Sơn thì thế ném ra không phải tầm thường. Hắn ngấm ngầm chuẩn bị nội lực, định đón lấy thi thể rồi lập tức ném ngược lại phía lão. Nào ngờ Lưu Chính Phong nhấc thi thể Hướng Đại Niên lên, rõ ràng muốn ném về phía trước, đột nhiên lão nghiêng người, hai tay đưa lên ném vào ngay ngực Phí Bân. Lão cử động mau lẹ vô cùng. Gặp đòn bất ngờ, phản xạ tự nhiên của Phí Bân là đưa song chưởng vận kình lực để ngăn cản thi thể nhưng ngay lúc đó, hắn cảm thấy hai bên sườn tê tái, thì ra đã bị Lưu Chính Phong điểm trúng huyệt đạo rồi.
Lưu Chính Phong đánh một chiêu thành công, tay trái cướp lấy cờ lệnh trong tay hắn; tay phải rút trường kiếm chĩa thẳng vào yết hầu, khuỷu tay trái thúc liên tiếp phong tỏa ba huyệt đạo sau lưng hắn, để mặc cho thi thể của Hướng Đại Niên rơi xuống đất. Động tác của Lưu Chính Phong biến ảo mau lẹ vô cùng đến nỗi Phí Bân bị kiềm chế, cờ lệnh Ngũ Nhạc bị đoạt mất, mọi người mới tỉnh ngộ, hiểu ra dụng ý của Lưu Chính Phong. Lưu Chính Phong thi triển công phu này chính là tuyệt chiêu của phái Hành Sơn, gọi là Bách biến thiên ảo Hành Sơn vân vụ thập tam thức. Mọi người đã nghe tiếng từ lâu, nhưng đây là lần đầu mở rộng tầm mắt.
Năm xưa, Nhạc Bất Quần đã từng nghe sư phụ nói qua Bách biến thiên ảo Hành Sơn vân vụ thập tam thức là do một vị cao thủ đời trước của phái Hành Sơn sáng chế ra. Vị cao thủ này đi khắp giang hồ làm trò ảo thuật, bán võ nghệ để sinh nhai. Lão chuyên biến hóa đánh Đông kích Tây, hư hư thực thực, biến ảo khôn lường để che tai mắt người. Lúc về già, võ công của lão càng cao thâm, kỹ năng ảo thuật càng ngày càng xảo diệu, lại dùng công phu nội gia đưa vào trong trò ảo thuật nên khắp nơi ai xem qua cũng đều ca ngợi tán thưởng. Về sau, lão đem trò ảo thuật này đưa vào trong bản lĩnh của võ công, không ngừng xuất hiện trong Ngũ hoa bát môn. Vị cao thủ này tính tình lại rất khôi hài, khi sáng chế ra bộ võ công này chỉ để du hý làm vui cho bản thân, không ngờ lại truyền đến hậu thế, trở thành một trong ba đại tuyệt kỹ của phái Hành Sơn.
Công phu biến hóa của bộ võ công này tuy là cổ quái nhưng lúc lâm địch lại không hiệu dụng gì mấy. Khi ra chiêu, cao thủ nào cũng cảnh giác, phòng bị toàn thân không để sơ hở, mà mấy chiêu này chỉ nhằm lòe người nên việc sử dụng cũng khó thành công. Vì vậy phái Hành Sơn cũng không xem trọng công phu này, nếu thấy đồ đệ là người cao ngạo nhẹ dạ thì lại càng không truyền thụ để tránh cho chúng khỏi chuyên về biến ảo mà khiếm khuyết căn bản công phu thực sự.
Lưu Chính Phong là một người thâm trầm ít nói, nên học được công phu này từ sư phụ. Bình thường, lão chưa bao giờ sử, gặp lúc nguy cấp như hôm nay lão mới đem ra. Lão vừa tấn công lập tức đã chế ngự được một tên lừng danh là Đại tung dương thủ Phí Bân của phái Tung Sơn mà võ công thực sự của tên này quyết không thua kém lão. Tay phải Lưu Chính Phong giơ cao cờ lệnh của Ngũ Nhạc kiếm phái, tay trái cầm trường kiếm chĩa vào yết hầu của Phí Bân, lão trầm giọng nói:
– Đinh sư huynh, Lục sư huynh! Lưu mỗ to gan cướp đoạt cờ lệnh của Ngũ Nhạc, nhưng không dám uy hiếp hai vị, chỉ mong năn nỉ hai vị ban cho Lưu mỗ một ân điển.
Đinh Miễn và Lục Bách đưa mắt nhìn nhau, nghĩ thầm: Phí sư đệ đang bị lão ám toán, đành phải nghe lão nói cái gì.
Đinh Miễn nói:
– Ngươi muốn nói gì?
Lưu Chính Phong nói:
– Ta cầu xin hai vị bẩm cáo với Tả minh chủ cho phép toàn gia Lưu mỗ quy ẩn, từ nay không can dự vào bất cứ chuyện gì trong võ lâm. Lưu mỗ và Khúc Dương đại ca từ nay không gặp nhau nữa, các vị sư huynh bằng hữu cũng… cũng chia tay từ đây. Lưu mỗ dẫn gia nhân đệ tử cao chạy xa bay, ẩn cư nơi hải ngoại, còn sống ngày nào tuyệt không bước một bước vào đất Trung Nguyên.
Đinh Miễn ngần ngừ một chút rồi nói:
– Chuyện này ta và Lục sư đệ không thể quyết định được, phải về bẩm cáo với Tả sư ca, xem sư ca chỉ thị thế nào.
Lưu Chính Phong nói:
– Chưởng môn của hai phái Hoa Sơn và Thái Sơn đang ở đây; phái Hằng Sơn có Định Dật sư thái có thể thay thế chưởng môn sư tỷ. Ngoài ra các vị anh hùng hảo hán chứng kiến cũng đủ rồi.
Lưu Chính Phong đảo mắt nhìn mọi người một lượt rồi trầm giọng nói:
– Lưu mỗ cầu xin các vị để cho Lưu mỗ vẹn toàn nghĩa khí bằng hữu, bảo toàn tính mạng gia quyến và đệ tử.
Định Dật sư thái ngoài mặt thì cứng rắn nhưng bụng dạ lại hiền hòa, tính khí tuy nóng nảy nhưng tâm địa rất từ bi nên lên tiếng trước:
– Như vậy tốt rồi, khỏi phải làm tổn thương hòa khí giữa mọi người. Đinh sư huynh, Lục sư huynh! Chúng ta nên đáp ứng lời cầu xin của Lưu hiền đệ đi. Lưu hiền đệ đã không kết giao với người của Ma giáo nữa, lại còn rời khỏi Trung Nguyên, khác gì trên thế gian này không còn nữa, hà tất còn muốn tạo thêm sát nghiệp?
Thiên Môn đạo nhân gật đầu nói:
– Như vậy cũng phải. Nhạc hiền đệ, hiền đệ nghĩ sao?
Nhạc Bất Quần nói:
– Lưu hiền đệ một lời nói ra nặng như núi, hiền đệ đã nói như vậy, mọi người cũng nên tin. Nào, nào, chúng ta hãy biến can qua thành ngọc bạch. Lưu hiền đệ, hiền đệ thả Phí Bân hiền đệ ra đi. Chúng ta cùng uống một bát rượu giải hòa; sáng sớm ngày mai, hiền đệ dẫn gia nhân đệ tử rời khỏi thành Hành Sơn được rồi.
Lục Bách lại nói:
– Hai vị chưởng môn phái Thái Sơn và Hoa Sơn đều nói như vậy, Định Dật sư thái càng hết sức vì Lưu Chính Phong mà mở một lối thoát, bọn tại hạ làm sao dám trái ý các vị? Nhưng lúc này Phí sư đệ đang bị Lưu Chính Phong ám toán, nếu bọn tại hạ liền đáp ứng đầy đủ ngay các yêu cầu của Lưu Chính Phong thì người người trên giang hồ tất sẽ nói phái Tung Sơn bị Lưu Chính Phong uy hiếp, đã cúi đầu chịu thua. Nếu cứ truyền rộng ra như vậy thì phái Tung Sơn còn mặt mũi nào tồn tại nữa?
Định Dật sư thái nói:
– Lưu hiền đệ cầu xin phái Tung Sơn chứ không phải là uy hiếp bức bách. Cho nên nói “cúi đầu chịu thua” thì người cúi đầu chịu thua là Lưu Chính Phong chứ không phải là phái Tung Sơn. Huống chi các vị sư huynh đã giết một tên đệ tử của Lưu môn.
Lục Bách hừ một tiếng rồi nói:
– Địch Tu, hãy chuẩn bị!
Địch Tu, đệ tử của phái Tung Sơn đáp dạ một tiếng, đoản kiếm trong tay gã nhẹ đưa đến chạm vào làn da sau lưng trưởng tử của Lưu Chính Phong.
Lục Bách nói:
– Lưu Chính Phong, ngươi muốn cầu xin thì đi với chúng ta đến Tung Sơn gặp Tả minh chủ để chính miệng ngươi cầu xin minh chủ. Chúng ta phụng mệnh minh chủ, không thể tự quyết được. Ngươi lập tức trả cờ lệnh lại đây và thả Phí sư đệ của ta ra.
Lưu Chính Phong cười một cách đau đớn, nhìn hài nhi nói:
– Hài nhi, ngươi có sợ chết không?
Lưu công tử đáp:
– Hài nhi nghe lời gia gia, quyết không sợ!
Lưu Chính Phong nói:
– Hảo hài tử!
Lục Bách quát:
– Giết đi!
Đoản kiếm của Địch Tu đâm thẳng từ sau lưng Lưu công tử thấu vào tim. Đoản kiếm vừa rút ra, Lưu công tử ngã gục xuống đất, máu từ vết đâm sau lưng trào ra lênh láng.
Lưu phu nhân thét lên, nhào đến hướng thi thể con trai.
Lục Bách quát:
– Giết đi!
Địch Tu phát kiếm tới, lại một kiếm đâm thẳng vào sau lưng Lưu phu nhân.
Định Dật sư thái cả giận, phóng một chưởng vào Địch Tu rồi chửi:
– Đồ cầm thú!
Đinh Miễn vọt lên trước, cũng đánh ra một chưởng. Song chưởng giao nhau, Định Dật sư thái bị đẩy lùi ba bước. Lão ni cảm thấy lợm miệng, một ngụm máu tươi muốn trào ra, nhưng bản lĩnh lão ni vốn hiếu thắng, kiên cường, lão ni cố nuốt ngược máu xuống.
Đinh Miễn tủm tỉm cười rồi nói:
– Đa tạ sư thái đã nhân nhượng.
Chưởng lực vốn không phải là sở trường của Định Dật sư thái. Cho nên khi mới phát một chưởng định đánh Địch Tu, vì là người lớn đánh nhỏ nên sư thái chưa sử dụng hết công lực, một chưởng này cũng không định đánh chết hắn. Không ngờ Đinh Miễn bỗng nhiên ra tay, chưởng của hắn lại vận đến mười thành công lực. Song chưởng giao nhau, Định Dật sư thái định thúc đẩy thêm nội lực nhưng cũng không xong. Chưởng lực của Đinh Miễn như dời non lấp biển nên Định Dật sư thái bị thương thổ huyết. Lão ni cả giận định đánh chưởng thứ hai ra nhưng vừa vận công thì cảm thấy huyệt Đan điền đau như dao cắt, biết là mình đã bị trọng thương, trước mắt không có cách gì kháng cự lại được. Lão ni vẫy các đệ tử, hầm hầm nói:
– Chúng ta đi thôi!
Nói xong lão ni bước chân đi ra ngoài cổng, quần ni tiếp bước theo sau.
Lục Bách quát:
– Giết nữa đi!
Hai tên đệ tử phái Tung Sơn phóng đoản kiếm tới, lại giết thêm hai đệ tử của Lưu môn. Lục Bách nói:
– Đệ tử Lưu môn nghe đây, nếu muốn sống hãy quỳ xuống đất cầu xin, lên án Lưu Chính Phong thì ta tha chết cho.
Lưu Tinh, con gái của Lưu Chính Phong, giận dữ mắng:
– Đồ gian tặc, phái Tung Sơn của các ngươi gian ác gấp vạn lần Ma giáo.
Lục Bách quát:
– Giết!
Vạn Đại Bình giơ trường kiếm lên, chém một nhát từ vai phải thẳng xuống lưng Lưu Tinh. Sử Đăng Đạt và bọn đệ tử phái Tung Sơn cũng chém mỗi người một nhát; các đệ tử của Lưu môn đã bị điểm huyệt đạo từ trước đều bị giết hết.
Quần hùng trên đại sảnh tuy đều hạng người sống trên đầu đao mũi kiếm, từng quen với cảnh giết chóc thê thảm, nhưng thấy thảm cảnh tàn sát này cũng không khỏi kinh hoàng. Có mấy vị anh hùng tiền bối muốn đứng ra can ngăn, nhưng phái Tung Sơn động thủ quá nhanh, chỉ do dự một chút thì xác chết đã nằm ngổn ngang khắp sảnh đường. Mọi người lại nghĩ: Xưa nay tà chính không đội trời chung, hành động này của phái Tung Sơn không phải là trả thù riêng tư Lưu Chính Phong mà là nhằm đối phó với Ma giáo. Tuy họ ra tay tàn nhẫn nhưng cũng không phải là nặng tội. Hơn nữa phái Tung Sơn đã khống chế toàn cục, ngay cả Định Dật sư thái của phái Hằng Sơn cũng đã bị thương mà bỏ đi, trước mắt chỉ còn Thiên Môn đạo nhân và Nhạc Bất Quần là hai bậc cao thủ đều im hơi lặng tiếng. Đây là chuyện riêng của Ngũ Nhạc kiếm phái, mình là người ngoài nếu miễn cưỡng xuất đầu lộ diện can thiệp vào, tất khó tránh khỏi họa sát thân, nên tự bảo vệ mình là hơn.
Bọn đệ tử của Lưu môn đã bị giết sạch, chỉ còn lại ấu tử mười lăm tuổi mà Lưu Chính Phong yêu mến nhất gọi là Lưu Cần. Lục Bách nhìn Sử Đăng Đạt nói:
– Ngươi hỏi tiểu tử này xem có cầu xin không? Nếu không cầu xin thì trước tiên xẻo mũi của nó, rồi xẻo tai, rồi khoét mắt để nó chịu muôn phần đau đớn.
Sử Đăng Đạt đáp dạ rồi quay người qua Lưu Cần hỏi:
– Ngươi có van xin không?
Lưu Cần sợ hãi, sắc mặt nhợt nhạt, toàn thân run cầm cập. Lưu Chính Phong nói:
– Hảo hài tử! Ca ca, tỷ tỷ của hài nhi chết một cách oanh liệt biết bao. Chết thì chết, hài nhi sợ cái gì?
Lưu Cần run run nói:
– Nhưng… gia gia, họ muốn… xẻo mũi hài nhi, khoét… mắt hài nhi…
Lưu Chính Phong cười ha hả nói:
– Đến nước này, lẽ nào ngươi còn muốn bọn chúng buông tha chúng ta ư?
Lưu Cần đáp:
– Gia gia, gia gia… đồng ý giết Khúc… Khúc bá bá… đi.
Lưu Chính Phong cả giận quát:
– Thúi lắm! Tiểu súc sinh, ngươi nói sao?
Sử Đăng Đạt giơ thanh trường kiếm lên, lưỡi kiếm đưa tới đưa lui trước mũi của Lưu Cần rồi nói:
– Tiểu tử, ngươi không quỳ xuống van xin thì lưỡi kiếm của ta sẽ xẻo mũi ngươi ngay tức khắc. Nào một… hai…
Hắn còn chưa đếm đến “ba”, Lưu Cần đã run bần bật, quỳ mọp xuống đất tha thiết van xin:
– Đừng… đừng giết cháu… cháu…
Lục Bách cười nói:
– Tốt lắm, ngươi muốn ta tha thì không khó. Chỉ cần ngươi tố cáo những điều lầm lỗi của Lưu Chính Phong trước các vị anh hùng trong thiên hạ ở đây mà thôi.
Lưu Cần nhìn phụ thân với ánh mắt cầu xin tha thiết.
Lưu Chính Phong vốn là người rất bướng bỉnh, tuy thấy vợ con chết trước mặt mà mặt lão vẫn không hề rung động nhưng lúc này, lão không kiềm chế được phẫn nộ, quát:
– Tiểu súc sinh, ngươi hèn nhát như vậy thì còn mặt mũi nào nhìn mẫu thân của ngươi nữa?
Lưu Cần nhìn thi thể của mẫu thân, ca ca, tỷ tỷ nằm trong vũng máu, lại thấy trường kiếm của Sử Đăng Đạt không ngừng quơ qua quơ lại trước mặt. Hắn sợ đến vỡ mật, nhìn Lục Bách khẩn cầu:
– Cầu xin lão gia tha cho cháu, tha… tha cho gia gia của cháu.
Lục Bách nói:
– Gia gia của ngươi cấu kết với ác nhân trong Ma giáo, ngươi nói có đúng không?
Lưu Cần khẽ lắp bắp:
– Không… không đúng.
Lục Bách nói:
– Người như vậy có đáng giết không?
Lưu Cần cúi đầu xuống không dám trả lời. Lục Bách nói:
– Tiểu tử này không chịu nói, phóng một kiếm giết hắn đi!
Sử Đăng Đạt đáp dạ. Hắn biết Lục Bách nói câu này có ý hăm dọa, nên đưa kiếm lên, tư thế như định chém xuống.
Lưu Cần vội đáp:
– Đáng… đáng giết.
Lục Bách nói:
– Hay lắm, từ nay về sau ngươi không phải là người của phái Hành Sơn, cũng không phải là con của Lưu Chính Phong nữa. Ta tha tính mạng cho ngươi đó.
Lưu Cần vẫn quỳ mọp dưới đất, sợ hãi đến nỗi hai chân mềm nhũn không đứng dậy được nữa. Quần hùng thấy cảnh tượng này không cầm được xấu hổ, có người quay đầu đi, không dám nhìn Lưu Chính Phong.
Lưu Chính Phong thở dài, nói:
– Họ Lục kia, ngươi thắng ta rồi.
Nói xong, tay phải lão rung một cái, ném cờ lệnh Ngũ Nhạc qua cho hắn, chân trái giơ lên đá Phí Bân ra xa rồi lớn tiếng nói:
– Điều Lưu mỗ cầu xin không còn nữa, thôi cũng chẳng giết thêm người làm chi.
Tay trái lão cầm ngang thanh trường kiếm toan đâm vào cổ tự tử.
Ngay trong giây phút đó, trên hiên nhà bỗng nhiên thấp thoáng một bóng người mặc áo đen hành động nhanh như gió, vươn tay chụp cổ tay trái của Lưu Chính Phong rồi quát:
– Quân tử báo thù mười năm chưa muộn. Chúng ta đi!
Tay trái lão xoay về phía sau thành một vòng, lôi Lưu Chính Phong chạy vội ra ngoài.
Lưu Chính Phong giật mình nói:
– Khúc đại ca… đại ca…
Quần hùng nghe lão kêu ba tiếng “Khúc đại ca” thì biết người áo đen đó là Ma giáo trưởng lão Khúc Dương, họ đều giật mình sợ hãi.
Khúc Dương nói:
– Không cần nói nhiều.
Lão gia tăng kình lực, chạy được ba bước thì Đinh Miễn và Lục Bách cùng phóng bốn chưởng ra nhắm đánh vào sau lưng của hai người. Khúc Dương giục Lưu Chính Phong “Chạy mau đi” rồi lão xuất chưởng đẩy lưng Lưu Chính Phong, đồng thời vận kình lực ra sau lưng gánh chịu song chưởng của hai cao thủ Đinh Miễn và Lục Bách. Rầm một tiếng, thân người của Khúc Dương bay ra ngoài. Khúc Dương phun ra một ngụm máu tươi. Lão xoay tay lại vung lên một cái, một nắm kim đen bay ra như mưa.
Đinh Miễn la lên:
– Hắc huyết thần châm, tránh mau!
Hắn vội nép người né tránh. Quần hùng thấy Khúc Dương liệng những mũi kim đen này và họ cũng đã từng nghe đến tên của Hắc huyết thần châm Ma giáo từ lâu, nên không ai không kinh hãi. Kẻ lui, người tránh loạn xạ cả lên. Chỉ nghe:
– Chao ôi!
– Nguy rồi!
Hơn mười người cùng la hoảng lên. Người trên sảnh tụ tập rất đông mà Hắc huyết thần châm liệng ra vừa nhiều vừa nhanh, không ít người bị trúng độc châm.
Trong lúc hỗn loạn, Khúc Dương và Lưu Chính Phong đã chạy xa rồi.
Lệnh Hồ Xung tuy bị vết kiếm đâm trầm trọng, nhưng bên ngoài đã được bôi Thiên hương đoạn tục giao, bên trong đã được uống Bạch vân hùng đảm hoàn là hai thứ thánh dược trị thương của phái Hằng Sơn, vả lại hắn đang lúc thanh niên trai tráng, nội công thâm hậu, nên chỉ ngủ một ngày hai đêm bên thác nước thì vết thương gần như đã hoàn toàn bình phục.
Suốt hai đêm một ngày, hắn chỉ ăn toàn dưa hấu. Lệnh Hồ Xung yêu cầu Nghi Lâm đi bắt cá bắn thỏ, nhưng dù hắn nói sao cô cũng không chịu. Cô nói Lệnh Hồ Xung thoát chết lần này là hoàn toàn nhờ đức Quán Thế Âm Bồ Tát phù hộ, tốt nhất là nên ăn chay trường một hai năm để tạ ân đức Quán Thế Âm Bồ Tát, còn bắt cô phá giới sát sanh thì vạn lần không thể được. Lệnh Hồ Xung cười thầm, cho là cô hủ lậu, tẻ nhạt nhưng không có cách nào nên đành phải ăn chay.
Trời đã chạng vạng tối, hai người dựa vào vách đá, nhìn trong đám cỏ thấy những bóng đom đóm lập lòe bay qua bay lại đẹp như những ngôi sao trên trời.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Mùa hạ năm ngoái, ta từng bắt mấy ngàn con đom đóm, đựng vào mười mấy túi vải the treo ở trong phòng, thật thú vị.
Nghi Lâm nghĩ tính tình Lệnh Hồ Xung phù động như vậy, quyết không thể tự đi may mười mấy cái túi vải the được. Cô hỏi:
– Nhạc sư muội của đại ca bảo đại ca bắt đom đóm phải không?
Lệnh Hồ Xung cười nói:
– Tiểu sư muội thật thông minh, đoán trúng chóc. Sao tiểu muội biết Linh San sư muội bảo ta bắt đom đóm?
Nghi Lâm mỉm cười nói:
– Đại ca nóng tính như vậy, lại không phải là con nít, không thể chịu khó đi bắt mấy ngàn con đom đóm để chơi được.
Cô hỏi tiếp:
– Sau đó thì sao?
Lệnh Hồ Xung cười nói:
– Linh San sư muội đem treo ở trong màn, nói là khắp giường đầy ánh sao lấp lánh, cũng giống như y đang ngủ ở trên mây, khi mở mắt ra thì bốn bề toàn những sao là sao.
Nghi Lâm nói:
– Tiểu sư muội của đại ca thật là biết chơi. Chỉ có một mình đại ca là sư ca mà y cũng thật biết pha trò. Giả tỷ y muốn đại ca lên bắt các vì sao trên trời, không chừng đại ca cũng chịu đi.
Lệnh Hồ Xung cười nói:
– Chuyện bắt đom đóm chơi cũng từ việc muốn bắt những vì sao trên trời mà ra. Tối hôm đó, ta và tiểu sư muội cùng đứng hóng mát, nhìn những vì sao lấp lánh trên bầu trời. Tiểu sư muội bỗng thở dài rồi nói: “Thật là đáng tiếc, chút nữa phải đi ngủ rồi. Tiểu muội muốn ngủ ở ngoài trời, nửa đêm tỉnh dậy, thấy được những vì sao đầy trời đang lấp lánh nhìn tiểu muội thì vui biết mấy, nhưng mẫu thân nhất định không cho”. Ta liền nói: “Chúng ta đi bắt đom đóm rồi bỏ vào trong màn, thì cũng giống như những vì sao kia thôi”.
Nghi Lâm khẽ nói:
– Thì ra là chủ ý của đại ca.
Lệnh Hồ Xung tủm tỉm cười nói:
– Linh San sư muội nói: “Đom đóm ở trong màn bay qua bay lại trên mặt mình thì chán chết được. Đúng rồi, để tiểu muội đi may một ít túi vải the, bắt đom đóm bỏ vào”. Thế rồi y ngồi may túi còn ta đi bắt đom đóm suốt một ngày một đêm. Đáng tiếc là chỉ chơi được có một đêm, sang ngày hôm sau tất cả đom đóm đều chết sạch.
Nghi Lâm giật mình, giọng run run hỏi:
– Mấy ngàn con đom đóm đều bị chết cả ư? Hai người… hai người sao…
Lệnh Hồ Xung cười nói:
– Tiểu muội nói chúng ta quá tàn nhẫn phải không? Úi chao, tiểu muội là đệ tử của Phật môn, lòng dạ từ bi hơn người. Sự thật thì khi gặp trời lạnh, những con đom đóm đều chết cóng hết; chúng chết sớm hay chết muộn hơn vài ngày cũng chẳng có gì quan trọng.
Một hồi lâu, Nghi Lâm sụt sùi nói:
– Thật ra kiếp người sống trên thế gian này đều như vậy cả thôi, có người chết sớm, có kẻ chết muộn, sớm muộn gì cuối cùng cũng phải chết. Đức Phật dạy mỗi con người đều không tránh khỏi bốn cái khổ Sinh, Lão, Bệnh, Tử. Còn chuyện giác ngộ sâu rộng để tự giải thoát mình ra khỏi luân hồi không phải dễ làm đâu.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Đúng vậy. Tiểu muội việc gì phải tâm niệm mãi những thanh quy giới luật đó? Việc gì mà không thể sát sinh, không thể trộm cắp. Nếu đức Bồ Tát mà mỗi chuyện đều phải để mắt đến thì thật phiền quá đi mất.
Nghi Lâm quay đầu đi. Cô không biết phải nói làm sao cho Lệnh Hồ Xung hiểu được. Giữa lúc đó, đầu ngọn núi phía trái có một ngôi sao băng rất nhanh, vạch thành một đường sáng dài trên bầu trời đêm mênh mông.
Nghi Lâm nói:
– Nghi Tĩnh sư tỷ có nói: “Người nào thấy được sao băng, nếu vừa thắt dải vạt áo vừa ước nguyện một điều, chỉ cần thắt dải vạt áo xong trước khi ngôi sao băng thì sẽ đạt được ước nguyện ấy”. Đại ca, có đúng như vậy không?
Lệnh Hồ Xung cười nói:
– Ta không biết. Chúng ta hãy thử làm xem, nhưng chỉ sợ động tác mình làm không nhanh được như vậy.
Lệnh Hồ Xung nói xong liền cởi vạt áo ra rồi nói:
– Tiểu muội chuẩn bị đi, chậm một chút thì không kịp đâu.
Nghi Lâm cầm vạt áo, ngẩng nhìn lên bầu trời. Trời đêm mùa hạ sao băng rất nhiều, chỉ trong chốc lát có một vì sao băng vạch thành một đường dài trong không trung. Nhưng ngôi sao băng chỉ xẹt qua trong nháy mắt rồi tắt ngay. Ngón tay Nghi Lâm chỉ vừa động đậy thì sao băng đã tắt rồi. Cô khẽ kêu ối rồi lại đợi ngôi sao băng kế tiếp. Ngôi sao băng thứ hai từ hướng Đông sang hướng Tây kéo thành một đường dài. Động tác của Nghi Lâm rất mau lẹ, cô đã thắt được dải vạt áo.
Lệnh Hồ Xung vui mừng nói:
– Hay quá, hay quá, tiểu muội thắt được rồi. Có Quán Thế Âm Bồ Tát phù hộ, nhất định tiểu muội đã đạt được sở nguyện.
Nghi Lâm thở dài nói:
– Tiểu muội chỉ mới cố gắng thắt dải vạt áo nhưng lòng chưa kịp ước nguyện gì cả.
Lệnh Hồ Xung cười nói:
– Vậy tiểu muội mau mau nghĩ ra điều ước nguyện trước đi, tâm niệm trước mấy lần để khỏi đến lúc thắt được dải vạt áo lại quên điều ước nguyện.
Nghi Lâm cầm dải vạt áo, nghĩ: Ta biết ước nguyện gì đây? Ta biết ước nguyện gì đây? Rồi cô liếc nhìn Lệnh Hồ Xung, bỗng hai má ửng hồng; cô vội quay đầu đi.
Lúc này trên bầu trời liên tục có mấy ngôi sao băng xẹt qua. Lệnh Hồ Xung luôn miệng kêu lên không ngớt:
– Lại một vì sao băng nữa. Ái chà, vì sao này dài thật, tiểu muội thắt dải vạt áo được chưa? Lần này lại không kịp rồi.
Tâm sự Nghi Lâm rối như tơ vò. Ẩn sâu tận đáy lòng cô là một khát vọng thiết tha nhưng chính cô cũng không dám nghĩ đến chứ đừng nói đến chuyện cầu xin đức Quán Thế Âm Bồ Tát cho được toại nguyện. Tim cô đập thình thịch, cảm thấy vừa sợ hãi vô cùng, vừa sung sướng khôn xiết.
Lệnh Hồ Xung lại hỏi:
– Tiểu muội đã nghĩ xong ước nguyện gì chưa?
Trong sâu thẳm, lòng cô như khẽ hỏi:
– Ta nên ước nguyện gì đây? Ta nên ước nguyện gì đây?
Từng vì sao băng trên bầu trời cứ lần lượt xẹt qua, cô ngẩng đầu lên nhìn rồi lại ngẩn người ra.
Lệnh Hồ Xung cười nói:
– Tiểu muội không nói thì để ta đoán thử xem.
Nghi Lâm vội nói:
– Không, không, đại ca đừng đoán.
Lệnh Hồ Xung cười nói:
– Sao tiểu muội lại hoảng hốt lên như vậy? Ta chỉ thử đoán ba lần, xem có trúng không thôi mà.
Nghi Lâm đứng dậy nói:
– Đại ca cứ muốn đoán nữa thì tiểu muội đi đây.
Lệnh Hồ Xung cười, nói:
– Được rồi, ta không nói. Cho dù trong thâm tâm tiểu muội muốn làm chưởng môn phái Hằng Sơn thì điều đó cũng có gì là đáng xấu hổ đâu?
Nghi Lâm ngẩn ngơ một lát rồi nghĩ: Đại ca… đại ca đoán mình muốn làm chưởng môn phái Hằng Sơn ư? Xưa nay, mình chưa bao giờ có ý nguyện đó, mà mình thì sao làm được chưởng môn nhân? Bỗng nghe mấy tiếng tình tang từ xa vọng lại, dường như có ai đang đánh đàn. Lệnh Hồ Xung và Nghi Lâm nhìn nhau, cảm thấy kỳ lạ vô cùng.
Nơi hoang sơn dã lĩnh này sao lại có người đến đánh đàn? Tiếng đàn không ngớt vọng lại nghe rất u nhã; một lúc sau, có tiếng sáo nhu hòa dìu dặt nổi lên hòa với tiếng đàn. Âm điệu tiếng đàn thất huyền cầm dịu dàng, trung chính lẫn với tiếng sáo thanh cao véo von làm rúng động lòng người. Tiếng đàn tiếng sáo dường như một bên hỏi, một bên đáp, rồi từ từ đi đến gần.
Lệnh Hồ Xung nhích người đến, nói khẽ vào tai Nghi Lâm:
– Điệu nhạc này thật cổ quái, e rằng có điều bất lợi cho chúng ta. Bất luận có chuyện gì, tiểu muội cũng không được lên tiếng.
Nghi Lâm gật đầu, nghe tiếng đàn dần dần cao vút lên, còn tiếng sáo lại từ từ trầm xuống. Nhưng tiếng sáo hạ xuống thấp mà vẫn không dứt, du dương như làn gió thoảng mà liên miên bất tuyệt khiến người nghe không khỏi cảm thấy bâng khuâng, bùi ngùi trong dạ.
Từ sau tảng đá, có ba người xuất hiện. Lúc này, ánh trăng bị mây che khuất nhưng dưới ánh sáng mờ ảo, vẫn thấy được ba người, hai cao một thấp. Hai người cao là đàn ông, người thấp là một thiếu nữ. Hai người đàn ông khoan thai bước đến bên một tảng đá to rồi ngồi xuống; một người gảy đàn, một người thổi sáo; còn thiếu nữ thì đứng bên cạnh người gảy đàn. Lệnh Hồ Xung thu mình vào phía sau tảng đá, không dám ló mặt ra, sợ bị ba người phát hiện. Nghe tiếng đàn tiếng sáo du dương hài hòa, Lệnh Hồ Xung nghĩ bụng: Bên thác nước, tiếng nước chảy rì rầm mà không át được tiếng đàn sáo dịu dàng, xem ra nội công của hai người đánh đàn thổi sáo không phải tầm thường. Phải rồi, sở dĩ họ đến đây hòa nhạc là vì nơi đây có thêm âm thanh của thác đổ. Như vậy thì không có liên can gì đến chúng ta.
Lệnh Hồ Xung nghĩ vậy mới cảm thấy an tâm.
Bỗng dưng tiếng đàn phát ra những âm thanh gào thét, dường như có ý sát phạt nhưng tiếng sáo vẫn ôn hòa uyển chuyển. Một lúc sau, tiếng đàn trở lại êm dịu; hai âm điệu lúc trầm lúc bổng hòa quyện vào nhau. Bỗng nhiên tiếng đàn tiếng sáo biến đổi thình lình, dường như cùng một lúc có bảy tám cây đàn, bảy tám ống sáo cùng hòa tấu một nhạc khúc. Âm thanh của tiếng đàn tiếng sáo biến ảo vô cùng phức tạp, một tiếng phát ra chợt trầm bổng, chợt ngừng ngắt, vui tai nhưng vẫn khiến người ta xúc động nghẹn ngào. Lệnh Hồ Xung lắng nghe đến nỗi mạch máu căng lên, không kìm được muốn đứng dậy. Lại nghe một lúc nữa, tiếng đàn tiếng sáo biến đổi; tiếng sáo biến thành giai điệu lĩnh xướng, tiếng đàn thất huyền cầm chỉ phụ họa theo tình tang tình tang. Rồi tiếng sáo càng lúc càng cao vút lên. Lệnh Hồ Xung không hiểu sao lòng mình cảm thấy đau xót, nghiêng đầu nhìn Nghi Lâm, thấy tiểu ni cô nước mắt rơi lã chã. Đột nhiên cung đàn rít lên một tiếng cấp bách, tiếng đàn lập tức dừng lại; tiếng sáo cũng ngừng ngay. Bốn bề trở lại tĩnh mịch, chỉ còn vầng trăng ở trên bầu trời cao soi bóng những hàng cây xuống đất.
Chỉ nghe một người khoan thai nói:
– Lưu hiền đệ, ta và hiền đệ hôm nay bỏ mạng tại đây âu cũng do số trời định sẵn. Chỉ tại ngu huynh không ra tay sớm hơn một chút, khiến cho cả thân quyến và đệ tử của hiền đệ đều bị nạn. Lòng ngu huynh thực sự không yên.
Người kia nói:
– Huynh và đệ đã gan dạ kết giao với nhau, còn nói với nhau những lời đó làm gì…
Nghi Lâm nghe giọng nói của lão, lòng chợt dao động. Cô nói khẽ vào tai Lệnh Hồ Xung:
– Đó chính là Lưu Chính Phong sư bá.
Cả hai người tuyệt đã không biết chuyện thảm sát trong phủ của Lưu Chính Phong, bây giờ lại thấy Lưu Chính Phong xuất hiện nơi hoang dã này. Một người lại nói cái gì “Ta và hiền đệ hôm nay bỏ mạng tại đây”, cái gì “Thân quyến và đệ tử của hiền đệ đều bị nạn”, khiến cả hai đều kinh ngạc vô cùng.
Lưu Chính Phong tiếp tục nói:
– Con người sinh ra ai cũng phải chết, có được một người tri kỷ thì chết cũng không tiếc.
Người kia nói:
– Lưu hiền đệ, ta nghe trong tiếng sáo của hiền đệ có chút tình ý di hận, phải chăng là do lệnh lang gặp lúc nguy nan đã tỏ ra tham sống sợ chết làm hoen ố thanh danh của hiền đệ?
Lưu Chính Phong thở dài, nói:
– Khúc đại ca đoán không sai. Cần nhi là đứa con mà ngày thường tiểu đệ quá nuông chìu, thiếu sự giáo huấn, không ngờ trở nên hèn yếu không còn chút khí tiết nào hết.
Khúc Dương nói:
– Có khí tiết hay không có khí tiết cũng vậy thôi, một trăm năm sau cũng về với đất, có khác biệt gì đâu? Ngu huynh đã nằm phục trên nóc nhà từ lâu, đáng lý nên ra tay sớm một chút nhưng nghĩ rằng hiền đệ sẽ không tình nguyện vì cố nhân mà làm tổn thương hòa khí của Ngũ Nhạc kiếm phái, lại nghĩ rằng ngu huynh đã từng vì hiền đệ mà lập lời trọng thệ quyết không làm phương hại đến nhân sĩ trong bạch đạo, vì vậy nên ngần ngừ chưa muốn ra tay. Đâu ngờ Ngũ Nhạc minh chủ phái Tung Sơn lại ra tay tàn nhẫn như vậy.
Lưu Chính Phong lặng yên, thở dài rồi nói:
– Bọn chúng là người phàm tục, làm sao hiểu được huynh đệ chúng ta vì âm luật cao tình nhã chí mà kết giao với nhau? Bọn chúng lấy cái thường tình mà xét đoán, khẳng định rằng huynh đệ chúng ta kết giao với nhau để gây bất lợi cho bạch đạo và Ngũ Nhạc kiếm phái. Chao ôi, chúng không hiểu nên cũng không trách chúng được. Khúc đại ca, đại ca bị thương ở huyệt Đại truy làm chấn động tâm mạch phải không?
Khúc Dương nói:
– Đúng vậy. Nội công của phái Tung Sơn quả thật là ghê gớm, ta không ngờ đến nên đưa lưng ra nhận một chưởng, vận nội lực không đủ, lại làm cho tâm mạch của hiền đệ cũng bị chấn động đứt đoạn ra. Nếu ta sớm biết hiền đệ không tránh khỏi bị thương thì nắm Hắc huyết thần châm đó cũng không cần phải liệng ra để nhiều người vô tội bị tổn thương mà chẳng ích gì. May thay, mũi kim không tẩm thuốc độc.
Lệnh Hồ Xung nghe bốn chữ “Hắc huyết thần châm” thì lòng chấn động, nghĩ: Người này đã từng cứu tính mệnh ta, lẽ nào lão lại là cao thủ trong Ma giáo? Lưu sư thúc vì sao lại kết giao với lão?
Lưu Chính Phong cười khẽ rồi nói:
– Nhưng có vậy thì huynh đệ chúng ta mới có dịp hợp tấu khúc nhạc này. Từ nay về sau trên đời này sẽ không còn tiếng đàn tiếng sáo như vậy nữa.
Khúc Dương nghe vậy thở dài, nói:
– Ngày xưa, Kê Khang lúc sắp bị hành hình còn gảy khúc nhạc “Quảng Lăng tán” bi ai rồi từ đó cung đàn này không còn tồn tại trên thế gian. Ha ha, khúc “Quảng Lăng tán” tuy tinh diệu nhưng bì sao được với khúc “Tiếu ngạo giang hồ” của hai chúng ta? Nhưng năm đó, tâm tình của Kê Khang cũng giống như tâm tình của ta với hiền đệ lúc này.
Lưu Chính Phong cười nói:
– Vừa rồi Khúc đại ca còn rất thoáng đạt mà sao bây giờ lại cố chấp như vậy? Đêm nay, đại ca và tiểu đệ đã hợp tấu khúc “Tiếu ngạo giang hồ” phát huy đến chỗ lâm ly tận chí. Trên thế gian có khúc nhạc này thì đại ca và tiểu đệ đã hợp tấu rồi, một bản hợp tấu tuyệt nhất ở cõi đời thì còn ân hận gì nữa?
Khúc Dương vỗ tay khẽ nói:
– Hiền đệ nói phải lắm.
Một lúc sau lão lại thở dài. Lưu Chính Phong hỏi:
– Đại ca, sao đại ca thở dài? Đúng rồi, nhất định là đại ca không an tâm vì Phi Phi.
Nghi Lâm giật mình, nghĩ thầm: Phi Phi, chính cô bé Phi Phi kia ư?
Quả nhiên nghe tiếng Khúc Phi Yên nói:
– Gia gia, gia gia và Lưu công công từ từ tịnh dưỡng thương thế cho lành hẳn rồi chúng ta đến phái Tung Sơn giết sạch bọn ác đồ mà trả thù cho Lưu bà bà.
Đột nhiên, vách núi vang vọng một tràng cười dài. Tiếng cười chưa hết, một bóng đen từ sau vách núi đi ra, ánh thanh quang lấp loáng, hắn đã đứng trước mặt Khúc Dương và Lưu Chính Phong, tay cầm trường kiếm. Đó chính là Đại tung dương thủ Phí Bân của phái Tung Sơn. Hắn lạnh lùng cười lên ha hả rồi nói:
– Con nhãi ranh kia, ngươi nói hay đấy. Muốn giết sạch cả phái Tung Sơn ư? Trên đời này đâu có những chuyện dễ toại ý đến như vậy được?
Lưu Chính Phong đứng dậy nói:
– Phí Bân, ngươi đã giết cả nhà ta; chính Lưu mỗ cũng bị chưởng lực của hai sư huynh ngươi đánh, nguy hiểm tính mạng trong khoảnh khắc. Ngươi còn muốn làm gì nữa đây?
Phí Bân cười hô hố rồi nói khích:
– Con nhãi ranh kia nói muốn giết sạch phái Tung Sơn, tại hạ đến đây để cho nó giết sạch. Con nhãi kia, ngươi qua đây chịu chết trước đi.
Nghi Lâm ngồi bên cạnh Lệnh Hồ Xung nói:
– Phi Phi và gia gia của cô ấy đã cứu đại ca; chúng ta phải tìm cách cứu họ mới được.
Lệnh Hồ Xung không đợi cô nói ra đã ngầm tính kế giải vây để báo đáp ơn cứu mạng của hai cha con Khúc Dương. Nhưng một là đối phương là cao thủ phái Tung Sơn, chính mình lúc chưa bị trọng thương cũng không phải là đối thủ của hắn; hai là bây giờ đã biết Khúc Dương là người trong Ma giáo, mà phái Hoa Sơn và Ma giáo lại thù địch với nhau, làm sao có thể cứu giúp kẻ địch được? Lòng hắn còn ngại, chưa thể quyết định, lại nghe Lưu Chính Phong nói:
– Họ Phí kia, ngươi cũng được coi như là một nhân vật có tiếng trong danh môn chính phái. Hôm nay, Khúc Dương và Lưu Chính Phong lọt vào tay của ngươi, ngươi muốn băm muốn vằm thế nào chúng ta cũng không oán hận; song ngươi lại hà hiếp một đứa con gái nhỏ tuổi thì còn gì là anh hùng hảo hán nữa? Phi Phi, ngươi chạy mau đi!
Khúc Phi Yên nói:
– Tiểu nữ nguyện chết cùng gia gia và Lưu công, quyết không chịu tìm cái sống một mình.
Lưu Chính Phong thúc giục:
– Chạy mau đi! Chạy mau đi! Chuyện của người lớn, ngươi là con nít không có liên can gì đây cả.
Khúc Phi Yên đáp:
– Tiểu nữ không đi.
Loảng xoảng hai tiếng, cô rút hai thanh đoản kiếm từ sau lưng lạng ra cản trước Lưu Chính Phong rồi quát:
– Phí Bân, trước đây Lưu công tha chết cho ngươi mà ngươi lại lấy oán báo ân. Ngươi có còn biết hổ thẹn không đó?
Phí Bân hầm hầm nói:
– Con ranh này nói là muốn giết sạch phái Tung Sơn của chúng ta. Lẽ nào họ Phí ta chịu bó tay để bị ngươi phanh thây hay là cắm đầu chạy trốn.
Lưu Chính Phong kéo tay Khúc Phi Yên vội nói:
– Chạy mau đi, chạy mau đi!
Nhưng vì lão bị nội lực của phái Tung Sơn làm chấn động gần đứt hết kinh mạch, vừa rồi lại đem hết tâm lực ra diễn tấu khúc “Tiếu ngạo giang hồ” nên tay lão không còn chút nội lực nào. Khúc Phi Yên kéo nhẹ một cái đã thoát khỏi tay Lưu Chính Phong. Trước mặt cô thanh quang lấp loáng, trường kiếm của Phí Bân đã đâm tới.
Tay trái Khúc Phi Yên giơ đoản kiếm lên gạt, tay phải cầm kiếm phóng ra. Phí Bân cười gằn một tiếng, quay trường kiếm một vòng rồi chát một tiếng, hắn đánh xuống đoản kiếm bên tay phải của cô. Cánh tay Khúc Phi Yên tê nhức, hổ khẩu đau đớn, thanh đoản kiếm trên tay phải rớt xuống đất. Trường kiếm của Phí Bân chênh chếch đánh ngược lại, chát một tiếng nữa, đoản kiếm bên tay trái của cô lại bị chấn động, rớt xuống văng xa mấy trượng. Phí Bân chỉ trường kiếm vào yết hầu cô bé, nhìn Khúc Dương cười nói:
– Khúc trưởng lão, tại hạ đâm đui mắt trái của hài nhi trưởng lão trước rồi xẻo mũi, xẻo tai cô ta sau.
Khúc Phi Yên thét to, nhảy xổ lao thẳng vào mũi trường kiếm của hắn. Phí Bân rút kiếm lại rất nhanh, hắn đưa ngón trỏ tay trái điểm huyệt Khúc Phi Yên rồi cười hô hố nói:
– Tà ma ngoại đạo làm nhiều chuyện gian ác, muốn chết cũng không dễ dàng đâu. Ta đâm mù mắt trái của ngươi trước đã.
Hắn giơ trường kiếm lên toan đâm vào mắt trái của Khúc Phi Yên, bỗng nghe đằng sau có tiếng người quát:
– Dừng tay!
Phí Bân giật mình kinh hãi, vội quay người lại, thủ kiếm hộ thân. Hắn không ngờ Lệnh Hồ Xung và Nghi Lâm đã sớm ẩn núp sau tảng đá không nhúc nhích, nếu không thì với nội công của hắn, quyết không thể có ai đến gần mà lại không phát giác được. Dưới ánh trăng, hắn chỉ thấy một hán tử trẻ tuổi, hai tay chống nạnh đang đứng đó.
Phí Bân quát hỏi:
– Ngươi là ai?
Lệnh Hồ Xung đáp:
– Tiểu điệt là Lệnh Hồ Xung phái Hoa Sơn tham kiến Phí sư thúc.
Lệnh Hồ Xung nói xong liền khom người hành lễ, thân người loạng choạng không vững. Phí Bân gật đầu nói:
– À, thì ra đại đệ tử của Nhạc sư huynh. Ngươi làm gì ở đây?
Lệnh Hồ Xung đáp:
– Tiểu điệt bị đệ tử phái Thanh Thành đánh trọng thương nên ở đây để dưỡng thương, rất may mắn được bái kiến Phí sư thúc.
Phí Bân hừ lên một tiếng rồi nói:
– Ngươi đến đúng lúc lắm. Con ranh này là tà ma ngoại đạo trong Ma giáo, đáng bị tiêu diệt; nếu chính ta ra tay thì không tránh khỏi ỷ lớn hiếp nhỏ. Ngươi hãy giết con ranh này đi.
Hắn nói vậy rồi đưa tay chỉ vào Khúc Phi Yên.
Lệnh Hồ Xung lắc đầu đáp:
– Gia gia của cô bé này và Lưu sư thúc kết giao với nhau, cứ tính như vậy thì cô bé này thấp hơn tiểu điệt một bậc. Nếu tiểu điệt giết cô ta thì trên giang hồ đồn đãi rằng phái Hoa Sơn ỷ lớn hiếp nhỏ, cứ vậy truyền rộng ra thì thanh danh rất thương tổn. Vả lại, Khúc tiền bối này và Lưu sư thúc đều đã bị trọng thương. Trước mặt hai vị mà ăn hiếp tiểu bối của hai vị quyết không phải là hành vi của bậc anh hùng hảo hán. Phái Hoa Sơn của tiểu điệt không thể làm việc này, xin Phí sư thúc lượng thứ cho.
Lệnh Hồ Xung nói như vậy ý tứ rất rõ ràng. Chuyện phái Hoa Sơn không muốn làm mà phái Tung Sơn cứ làm, thì hiển nhiên là phái Tung Sơn không sánh bằng phái Hoa Sơn được.
Đôi mày Phí Bân dựng ngược, ánh mắt lộ hung quang. Hắn gằn giọng:
– Thì ra ngươi và gian nhân Ma giáo cũng đã ngấm ngầm câu kết với nhau. Phải rồi, vừa rồi Lưu Chính Phong có nói gian nhân họ Khúc đã trị thương cho ngươi, cứu tính mạng ngươi. Không ngờ ngươi đường đường là đại đệ tử phái Hoa Sơn cũng quy đầu Ma giáo nhanh như vậy.
Trường kiếm trong tay hắn rung động, lưỡi kiếm sáng loáng, dường như chỉ muốn đâm Lệnh Hồ Xung.
Lưu Chính Phong nói:
– Lệnh Hồ hiền điệt, hiền điệt và bọn ta không có liên can gì, không nên đến đây rước thêm mối nhục nhã, mau mau rời khỏi nơi này để khỏi làm khó cho sư phụ của hiền điệt.
Lệnh Hồ Xung cười ha hả nói:
– Lưu sư thúc, từ xưa đến nay bạch đạo của chúng ta và tà ma ngoại đạo không đội trời chung với nhau. Hai chữ “hiệp nghĩa” có ý nghĩa gì? Ức hiếp người đang bị trọng thương cũng được coi là hiệp nghĩa ư? Tàn sát đứa bé gái vô tội cũng được coi là hiệp nghĩa ư? Nếu những chuyện này đều làm được thì ta có khác gì tà ma ngoại đạo đâu?
Khúc Dương than thở:
– Những chuyện như vậy, Ma giáo chúng ta cũng không làm. Lệnh Hồ huynh đệ, chính miệng huynh đệ đã nói ra đó, phái Tung Sơn thích làm những chuyện này thì cứ để cho hắn tự do làm đi.
Lệnh Hồ Xung cười nói:
– Tiểu điệt không muốn đi. Đại tung dương thủ Phí Bân trên giang hồ danh tiếng lẫy lừng, là bậc anh hùng hảo hán nhất nhì trong phái Tung Sơn. Sư thúc chẳng qua chỉ nói vài câu hăm dọa cô bé thôi, chứ không thể làm những chuyện xấu xa như vậy được. Phí sư thúc quyết không phải là hạng người như vậy.
Lệnh Hồ Xung nói xong, hai tay khoanh trước ngực, dựa lưng vào gốc cây. Mặt Phí Bân bừng bừng sát khí. Hắn cười lên một tràng dài man rợ rồi nói:
– Ngươi tưởng có thể dùng ba tấc lưỡi làm xiêu lòng ta, có thể lung lạc ta tha cho ba tên gian nhân này ư? Ha ha, ngươi đừng có ngu si mộng tưởng. Ngươi đã đầu quân vào Ma giáo, Phí mỗ này giết ba người hay giết thêm cả ngươi nữa cũng vậy thôi.
Nói rồi hắn khoa chân bước lên một bước.
Lệnh Hồ Xung thấy vẻ mặt của hắn rất hung tợn, lòng không khỏi kinh hãi nhưng vẫn ngấm ngầm tìm kế sách để giải vây. Lệnh Hồ Xung vẫn cố làm ra vẻ bình thản, nói:
– Phí sư thúc, ngay cả tiểu điệt sư thúc cũng muốn giết để bịt miệng phải không?
Phí Bân nói:
– Ngươi thông minh thật, câu này không sai!
Hắn nói xong lại tiến gần thêm một bước. Bỗng nhiên từ sau tảng đá hiện ra một nữ ni nhỏ tuổi. Cô nói:
– Phí sư thúc, khổ hải vô biên hồi đầu thị ngạn (biển khổ mênh mông, quay đầu là thấy bến). Bây giờ sư thúc định làm chuyện bại hoại, nhưng việc chưa ra tay mà biết gò cương dừng ngựa thì cũng chưa muộn.
Ni cô này chính là Nghi Lâm. Lệnh Hồ Xung bảo cô cứ núp sau tảng đá, không được để ai nhìn thấy, nhưng trước mắt, Lệnh Hồ Xung đang lâm vào tình thế nguy cấp; không kịp suy nghĩ cô đành đánh bạo đi ra, nghĩ có thể lấy lời nói phải để khuyên răn Phí Bân dừng tay.
Phí Bân giật mình kinh hãi nói:
– Ngươi là đồ đệ phái Hằng Sơn phải không? Sao lại lén lút núp ở đây?
Mặt Nghi Lâm ửng hồng, cô ấp úng nói:
– Đệ tử… đệ tử…
Khúc Phi Yên bị điểm huy ệt đạo, đang nằm dưới đất, không nhúc nhích được, nghe giọng Nghi Lâm cô liền lớn tiếng nói:
– Nghi Lâm tỷ tỷ, tiểu muội sớm đoán được tỷ tỷ cùng đi với Lệnh Hồ đại ca. Quả nhiên tỷ tỷ đã trị lành vết thương cho đại ca, chỉ đáng tiếc… chỉ đáng tiếc chúng ta đều sắp chết hết rồi.
Nghi Lâm lắc đầu nói:
– Không đâu, Phí sư thúc là bậc anh hùng hào kiệt tiếng tăm lừng lẫy trong võ lâm, có khi nào lại đi giết hại những người đang bị trọng thương và một tiểu cô nương như muội muội.
Khúc Phi Yên cười gằn hỏi:
– Lão thật đúng là đại anh hùng, đại hào kiệt ư?
Nghi Lâm đáp:
– Phái Tung Sơn là minh chủ của Ngũ Nhạc kiếm phái, là lãnh tụ bạch đạo trên giang hồ; bất luận làm chuyện gì, phái này cũng phải lấy hiệp nghĩa làm đầu.
Cô nói mấy câu này với tất cả tấm lòng chân thành, nhưng Phí Bân nghe lại hoàn toàn cho là lời chế giễu. Hắn nghĩ bụng: Một là không làm, hai là không nghĩ; nếu hôm nay còn một tên sống sót thì thanh danh Phí mỗ từ đây sẽ bị ô nhục. Tuy ta giết gian nhân trong Ma giáo nhưng giết đang lúc chúng bị trọng thương thì không phải là hành vi của bậc anh hùng hào kiệt, tất bị người ta coi thường. Hắn nghĩ vậy liền vung trường kiếm lên chỉ vào Nghi Lâm nói:
– Ngươi đã không bị trọng thương, cũng không phải là tiểu cô nương không biết võ công, ta giết ngươi được chứ?
Nghi Lâm giật mình sợ hãi, lùi lại mấy bước, run run nói:
– Đệ tử… đệ tử… Sao sư thúc lại muốn giết đệ tử?
Phí Bân nói:
– Ngươi cấu kết với gian nhân Ma giáo, gọi nhau là tỷ muội, cũng đã là cùng một phe với gian nhân, tất nhiên không thể dung tha được.
Hắn nói xong, khua chân bước lên một bước, giơ kiếm toan đâm thẳng vào Nghi Lâm. Lệnh Hồ Xung vội lạng người cản trước mặt Nghi Lâm, rồi la lên:
– Sư muội mau chạy đi, mời sư phụ đến cứu mạng.
Lệnh Hồ Xung biết nước xa khó cứu được lửa gần, hắn bảo Nghi Lâm đi cầu cứu viện binh chẳng qua là muốn cô rời xa chỗ này cho khỏi mất mạng.
Trường kiếm của Phí Bân lay động, mũi kiếm đâm về phía bên phải Lệnh Hồ Xung. Lệnh Hồ Xung vội nghiêng người né tránh. Phí Bân đánh ba đường kiếm liên hoàn véo véo, rất nguy hiểm cho Lệnh Hồ Xung. Nghi Lâm vội rút thanh kiếm gãy sau lưng ra, nhắm vai Phí Bân đâm tới. Cô la lên:
– Lệnh Hồ đại ca, đại ca bị trọng thương, mau mau lùi lại đi.
Phí Bân cười ha hả nói:
– Tiểu ni cô động lòng phàm tục rồi, thấy thiếu niên anh tuấn thì không kể chi đến sinh mạng.
Nói xong, hắn đưa kiếm đỡ. Choang một tiếng, song kiếm giao nhau, thanh kiếm gãy trong tay Nghi Lâm bị văng đi; trường kiếm của Phí Bân phóng tới ngực Nghi Lâm. Phí Bân muốn giết cả năm người, tuy người nào cũng chẳng còn sức lực chống lại hắn nhưng hắn sợ đêm dài sinh lắm mộng, chỉ cần một tên chạy thoát thì hậu hoạn vô cùng, nên hắn phải ra tay tuyệt diệt.
Lệnh Hồ Xung vọt đến, tay trái phóng song chỉ đâm vào mắt Phí Bân. Phí Bân vội đứng lại, rồi nhảy lùi ra sau. Lúc hắn rút trường kiếm về, thừa thế lia một cái, vạch một đường dài lên cánh tay trái của Lệnh Hồ Xung.
Lệnh Hồ Xung liều mình xông vào để cứu nguy cho Nghi Lâm, nhưng hắn đã thở lên hồng hộc, thân người lảo đảo muốn té nhào. Nghi Lâm vội nhảy lên trước đỡ lấy Lệnh Hồ Xung, nghẹn ngào nói:
– Để lão giết chúng ta hết đi.
Lệnh Hồ Xung vừa thở vừa giục:
– Tiểu muội… tiểu muội chạy mau đi…
Khúc Phi Yên cười nói:
– Ông ngốc ơi, đến nước này mà ông còn chưa hiểu rõ bụng dạ người ta. Người ta muốn vì ông mà chết đó.
Câu nói của Khúc Phi Yên chưa xong thì trường kiếm của Phí Bân đã phóng đến, đâm thẳng vào tim cô. Khúc Dương, Lưu Chính Phong, Lệnh Hồ Xung, Nghi Lâm cùng giật mình kinh hoàng.
Phí Bân nở một nụ cười man rợ, khoa chân bước lên một bước hướng về Lệnh Hồ Xung và Nghi Lâm, rồi tiến lên một bước nữa; lưỡi kiếm của hắn nhỏ máu tươi từng giọt.
Lệnh Hồ Xung suy nghĩ loạn xạ: Hắn… hắn đã giết tiểu cô nương này, chẳng khác nào hạng lang sói, ta đây cũng phải chết. Tại sao Nghi Lâm sư muội muốn vì ta mà chết? Tuy ta đã cứu nàng nhưng nàng cũng đã cứu lại ta, xem như ân tình đã báo đáp đủ rồi. Trước đây ta và nàng không hề quen biết, chẳng qua chỉ là sư huynh sư muội trong Ngũ Nhạc kiếm phái, muốn giữ đạo nghĩa trên giang hồ cũng không cần lấy tính mạng mà đền đáp như vậy. Không ngờ đệ tử môn hạ phái Hằng Sơn lại vẹn toàn nghĩa khí võ lâm; Định Dật sư thái thật là một nhân vật hiếm có. Ôi, Nghi Lâm sư muội lại muốn cùng chết với ta, tại sao không phải là Linh San tiểu sư muội? Nàng… nàng bây giờ đang làm gì?
Trước mắt Lệnh Hồ Xung, nét mặt hung tợn cùng nụ cười man rợ của Phí Bân đang tiến đến gần. Lệnh Hồ Xung mỉm cười, thở dài rồi nhắm mắt lại.
Bỗng nghe tiếng hồ cầm từ xa xa vọng lại. Tiếng đàn thê lương, ai oán, giống như đang khóc tỉ tê, lại như đang run bần bật, phát ra những âm điệu lúc đứt lúc nối giống như những hạt mưa nhỏ rơi xuống trên lá cây. Lệnh Hồ Xung sửng sốt, mở to mắt ra nhìn.
Phí Bân giật mình nghĩ:
– Tiêu Tương dạ vũ Mạc Đại tiên sinh đã đến rồi!
Tiếng hồ cầm càng lúc càng thê lương não nuột, Mạc Đại tiên sinh vẫn đứng sau gốc cây chưa chịu xuất hiện. Phí Bân gọi to:
– Mạc Đại tiên sinh, sao chưa hiện thân tương kiến?
Tiếng hồ cầm bỗng nhiên im bặt. Từ sau gốc cây tùng, một người gầy nhom bước ra. Lệnh Hồ Xung nghe danh tiếng Tiêu Tương dạ vũ Mạc Đại tiên sinh đã lâu nhưng chưa bao giờ thấy qua mặt lão. Lúc này dưới ánh trăng, chàng chỉ thấy lão gầy còm như que củi, hai vai nhô lên giống như một người bệnh lao nặng có thể ngã ra chết ngay bất cứ lúc nào. Lệnh Hồ Xung không ngờ chưởng môn phái Hành Sơn lừng danh khắp giang hồ lại là một người có bộ dạng cổ quái đến như vậy. Tay trái Mạc Đại tiên sinh kẹp cây hồ cầm, hai tay cung lại, hướng về Phí Bân nói:
– Phí sư huynh, Tả minh chủ có khỏe không?
Phí Bân thấy lão không có ác ý, lại biết lão và Lưu Chính Phong bất hòa, bèn nói:
– Đa tạ Mạc Đại tiên sinh, Tả sư ca vẫn khỏe. Lưu Chính Phong của quý phái và gian nhân Ma giáo kết giao với nhau, muốn gây bất lợi cho Ngũ Nhạc kiếm phái của chúng ta. Mạc Đại tiên sinh, theo tiên sinh thì nên xử trí thế nào?
Mạc Đại tiên sinh bước đến hai bước gần Lưu Chính Phong, dõng dạc nói hai tiếng:
– Đáng giết!
Tiếng “giết” vừa nói ra khỏi miệng, ánh thanh quang lấp loáng, tay lão đã cầm một thanh trường kiếm vừa mỏng vừa nhỏ như lá lúa, phát chiêu rất nhanh, đâm thẳng vào ngực Phí Bân. Chiêu kiếm cực kỳ nhanh song lại như mộng như ảo, chính là một tuyệt chiêu trong Bách biến thiên ảo Hành Sơn vân vụ thập tam thức. Phí Bân lúc ở Lưu phủ đã từng biết qua môn võ công này của Lưu Chính Phong, bây giờ hắn lại bị lãnh đủ, kinh hãi không kịp trở tay. Hắn vội lùi ra sau thở hồng hộc, ngực hắn đã bị lưỡi kiếm lợi hại vạch một đường dài, áo bị rách toạc, lưỡi kiếm rạch vào da thịt, tuy vết thương không nặng nhưng hắn kinh hãi, nhuệ khí mất hẳn.
Phí Bân lập tức xoay kiếm đâm trả nhưng Mạc Đại tiên sinh đã chiếm được tiên cơ nên cứ liên tục phóng kiếm đánh tới. Thanh kiếm của tiên sinh như con linh xà, rung động không ngớt, luồn lách vào làn kiếm quang của Phí Bân mà đâm tới, ép Phí Bân phải liên tục thối lui, nửa câu chửi cũng không mở miệng phát ra được.
Kiếm pháp của Mạc Đại tiên sinh biến ảo trước mắt Khúc Dương, Lưu Chính Phong, Lệnh Hồ Xung; giống như ma như quỷ khiến cả ba không khỏi kinh tâm loạn phách. Ngay Lưu Chính Phong từng là đồng môn học nghệ, làm sư huynh sư đệ với nhau mấy chục năm cũng không ngờ kiếm thuật của sư huynh lại tinh thâm đến vậy.
Từng giọt máu tươi từ giữa hai thanh kiếm nhỏ xuống. Phí Bân không ngừng chuyển dịch né tránh, cố sức chống đỡ vẫn không thoát khỏi làn kiếm quang của Mạc Đại tiên sinh, máu tươi nhỏ xuống chung quanh hai người thành một vòng đỏ lòm. Bỗng nghe Phí Bân thét một tiếng đau đớn rồi nhảy vọt lên cao. Mạc Đại tiên sinh lùi ra sau hai bước, nhét trường kiếm vào đáy hồ cầm rồi quay người đi. Khúc Tiêu Tương dạ vũ từ sau cây tùng vọng lại rồi xa dần…
Phí Bân nhảy lên rồi lập tức ngã xuống, máu từ vết thương trước ngực hắn phun ra như suối. Trong trận kịch chiến vừa rồi, hắn vận nội lực chính tông của phái Tung Sơn, sau khi bị kiếm đâm vào ngực mà nội lực vẫn chưa tan, nên nội lực ép máu tươi trong vết thương phụt ra ngoài, trông vừa kỳ dị vừa đáng sợ.
*****
Nguồn: truyenkimdung


