Nghi Lâm cắt trái dưa ra thành từng miếng, bỏ vỏ rồi lần lượt đưa cho Lệnh Hồ Xung. Lệnh Hồ Xung nhận dưa cắn một miếng, cảm thấy mùi dưa thơm ngọt, bèn ăn hết một miếng lớn. Nghi Lâm thấy đại ca ăn một cách ngon lành, lòng cô rất vui sướng, lại thấy hắn nằm ăn khiến nước dưa nhỏ ướt cả vạt áo trước, nên cô cắt miếng dưa sau ra thành từng cục nhỏ, đặt vào tay hắn. Lệnh Hồ Xung cho gọn vào miệng, nước dưa không nhỏ lên áo nữa. Thấy đại ca ăn dưa, mỗi lần đưa tay lên không tránh khỏi làm động đến vết thương, cô không đành lòng, bèn đút từng miếng dưa nhỏ vào miệng Lệnh Hồ Xung.
Lệnh Hồ Xung ăn gần hết nửa trái dưa mới nghĩ đến Nghi Lâm chưa ăn miếng nào, bèn nói:
– Tiểu muội nên ăn một chút đi.
Nghi Lâm nói:
– Đợi đại ca ăn no xong, tiểu muội mới ăn.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Ta ăn đủ rồi, tiểu muội ăn đi.
Nghi Lâm cảm thấy khát nước từ lâu, lại đút thêm cho Lệnh Hồ Xung vài miếng nữa rồi mới cắt một miếng nhỏ ăn. Cô thấy Lệnh Hồ Xung nhìn mình không chớp mắt, mắc cỡ quay người lại, lưng hướng về Lệnh Hồ Xung.
Lệnh Hồ Xung đột nhiên khen:
– A! Thật là đẹp!
Giọng nói của Lệnh Hồ Xung đầy ý tán thưởng. Nghi Lâm mắc cỡ, không hiểu tại sao đại ca bỗng nhiên khen mình đẹp. Cô muốn đứng dậy chạy trốn nhưng nhất thời lại bỏ ý định đó, chỉ cảm thấy toàn thân nóng ran. Cô mắc cỡ đến nỗi ngay cả cái cổ cũng đỏ lên.
Lệnh Hồ Xung lại nói:
– Tiểu muội nhìn kìa, thật là đẹp! Tiểu muội có thấy gì không?
Nghi Lâm từ từ xoay người nhìn theo hướng tay Lệnh Hồ Xung đang chỉ về phía Tây, thấy xa xa có một cầu vồng xuất hiện phía sau rừng cây với bảy sắc màu biến ảo vô cùng rực rỡ. Bấy giờ, cô mới biết Lệnh Hồ Xung nói “Thật là đẹp” là để khen cầu vồng. Vừ a rồi cô đã hiểu lầm, bất giác cô lại mắc cỡ. Nhưng lần mắc cỡ này hàm chứa một chút thất vọng, so với lúc trước là cái tâm tình thẹn thùng ngấm ngầm vui sướng thì có chỗ bất đồng.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Tiểu muội lắng tai thử có nghe thấy gì không?
Nghi Lâm nghiêng tai lắng nghe. Từ nơi xa xa hướng cầu vồng mọc vọng lại tiếng nước chảy. Cô nói:
– Dường như có thác nước.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Đúng vậy. Trời mưa mấy ngày liền, trong khe núi nhất định có thác nước. Chúng ta đi đến đó xem đi.
Nghi Lâm nói:
– Đại ca… đại ca còn phải tịnh dưỡng thêm nhiều nữa.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Chỗ này toàn là đá lởm chởm, phong cảnh không đẹp chút nào. Chúng ta đi xem thác nước hay hơn.
Nghi Lâm không nỡ làm trái ý đại ca, bèn đỡ hắn đứng dậy. Khuôn mặt cô lại b ỗng nhiên đỏ bừng. Cô nghĩ: Ta đã ôm đại ca hai lần rồi, lần thứ nhất đại ca đã chết, lần thứ hai thì đang bị trọng thương nguy hiểm đến tính mạng nên ta phải ôm chạy. Lúc này, đại ca tuy đang bị trọng thương nhưng thần trí rất tỉnh táo, ta làm sao dám ôm đại ca thêm một lần nữa? Ý đại ca muốn đến bên thác nước đó, phải chăng… phải chăng… muốn ta…
Trong lúc cô ta do dự thì Lệnh Hồ Xung đã lượm một khúc cây làm gậy, chống xuống đất, chầm chậm bước đi về phía trước. Thì ra cô đã nghĩ sai.
Nghi Lâm vội chạy đến, đưa tay dìu Lệnh Hồ Xung, lòng tự trách: Ta làm sao vậy? Lệnh Hồ đại ca là một chính nhân quân tử, hôm nay sao tâm trí ta lại thất thường, ý nghĩ lại chao đảo như vậy? Dù sao, một mình ta ở bên cạnh một nam tử thì cũng phải đề phòng cẩn thận. Nhưng đại ca và Điền Bá Quang tuy cùng là nam tử lại khác nhau một trời một vực. Sao ta có thể ghép cả hai người một duộc như nhau?
Lệnh Hồ Xung tuy bước không vững nhưng vẫn cố tự chống chọi mà đi. Được một quãng, thấy một tảng đá to, Nghi Lâm dìu Lệnh Hồ Xung đến đó ngồi xuống nghỉ ngơi. Cô nói:
– Ở đây cũng đẹp vậy. Đại ca nhất định muốn đi xem thác nước ư?
Lệnh Hồ Xung cười nói:
– Tiểu muội nói ở đây đẹp thì ta với tiểu muội ở đây ngắm cảnh một chút.
Nghi Lâm nói:
– Được rồi. Phong cảnh ở bên kia đẹp, đại ca muốn tới đó thưởng thức, lòng khoan khoái thì vết thương sẽ lành nhanh hơn.
Lệnh Hồ Xung mỉm cười, đứng lên.
Hai người đi chầm chậm đến một thung lũng thì nghe tiếng nước chảy róc rách; lại đi thêm một đoạn nữa, tiếng nước chảy nghe càng rõ hơn. Sau khi đi xuyên qua một rừng tùng, họ thấy một thác nước giống như con bạch long từ vách núi đổ xuống. Lệnh Hồ Xung vui mừng nói:
– Bên Ngọc Nữ phong của Hoa Sơn ta cũng có một thác nước lớn hơn thác nước này, hình dạng cũng gần giống như vậy. Linh San sư muội và ta thường đến bên thác nước luyện kiếm. Có lúc cô ấy nghịch ngợm, còn chui vào trong thác nước nữa.
Nghi Lâm nghe Lệnh Hồ Xung nhắc đến “Linh San sư muội” lần thứ hai bỗng nhiên cô tỉnh ngộ: Đại ca bị trọng thương, lại nhất định muốn đến bên thác nước không phải để thưởng ngoạn phong cảnh mà là để nhớ đến Nhạc Linh San sư muội của đại ca.
Không hiểu sao, tim cô nhói đau giống như bị ai đánh một chùy thật mạnh. Lệnh Hồ Xung lại nói:
– Có một lần luyện kiếm bên thác nước, cô ấy bị sẩy chân trượt ngã suýt chút nữa té xuống dòng nước sâu. May mà ta chụp được y lại, thật là nguy hiểm.
Nghi Lâm lạnh lùng hỏi:
– Đại ca có nhiều sư muội không?
Lệnh Hồ Xung đáp:
– Phái Hoa Sơn ta tổng cộng có bảy nữ đệ tử; Linh San sư muội là con gái của sư phụ. Bọn chúng ta đều gọi y là tiểu sư muội; còn sáu người kia đều là đệ tử của sư mẫu.
Nghi Lâm nói:
– Ờ. Thì ra cô ta là tiểu thư của Nhạc sư bá. Cô ta… cô ta… cô ta và đại ca thân nhau lắm phải không?
Lệnh Hồ Xung từ từ ngồi xuống, nói:
– Ta là một đứa bé côi cút không cha không mẹ, mười lăm năm về trước được ân sư và sư mẫu thâu nhận làm môn hạ. Lúc đó, tiểu sư muội mới có ba tuổi. Ta lớn tuổi hơn nhiều, thường ẵm tiểu sư muội đi hái trái rừng, đi bắt thỏ, sống chung một nhà từ nhỏ đến lớn. Sư phụ sư mẫu không có con trai nên coi ta như con ruột, tiểu sư muội chẳng khác nào em ruột của ta.
Nghi Lâm ồ một tiếng rồi một lúc sau mới nói:
– Tiểu muội cũng là một đứa bé côi cút không cha không mẹ, từ ấu thơ được ân sư nuôi dưỡng nên xuất gia từ nhỏ.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Đáng tiếc, đáng tiếc!
Nghi Lâm quay đầu nhìn Lệnh Hồ Xung, ánh mắt lộ vẻ hoài nghi. Lệnh Hồ Xung nói:
– Nếu như tiểu muội không phải là môn hạ của Định Dật sư bá thì ta sẽ cầu xin sư mẫu nhận tiểu muội làm đệ tử. Sư huynh, sư đệ, sư muội, sư tỷ của chúng ta rất đông, có đến hai mươi mấy người; mọi người rất vui vẻ. Sau giờ luyện công, bọn ta cùng nhau kết bạn đi chơi; sư phụ sư mẫu cũng không quản lý. Tiểu muội mà gặp tiểu sư muội của ta nhất định sẽ rất thích và có thể hai người sẽ trở thành đôi bạn thân.
Nghi Lâm nói:
– Đáng tiếc là tiểu muội không có được cái phước như vậy, nhưng sống trong Bạch Vân am, sư phụ và các sư tỷ đối với tiểu muội rất tốt. Tiểu muội… tiểu muội… tiểu muội cũng sống rất vui.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Phải, phải. Ta nói sai rồi. Kiếm pháp của Định Dật sư thái rất thần diệu. Lúc sư phụ và sư mẫu ta bàn luận đến kiếm pháp của các phái, đối với sư phụ của tiểu muội thì hai vị rất khâm phục kiếm pháp của lão nhân gia. Phái Hằng Sơn đâu có thua gì phái Hoa Sơn ta?
Nghi Lâm nói:
– Lệnh Hồ đại ca, hôm đó đại ca nói với Điền Bá Quang là đánh đứng thì Điền Bá Quang đứng thứ mười bốn trong thiên hạ, còn Nhạc sư bá đứng thứ tám. Vậy thì sư phụ của tiểu muội đứng hàng thứ mấy?
Lệnh Hồ Xung cười lên rồi nói:
– Đó là ta nói gạt Điền Bá Quang, làm gì có chuyện ấy? Võ công mạnh hay yếu đều thay đổi mỗi ngày, có người ngày càng tiến bộ, có người tuổi già sức yếu thì ngày càng suy thoái, làm sao có thể sắp đặt thứ bậc trong thiên hạ được? Điền Bá Quang tuy võ công cao cường nhưng nói là đứng thứ mười bốn trong thiên hạ thì chưa chắc. Ta cố ý xếp hắn vào hạng cao một chút cốt để hắn vừa lòng.
Nghi Lâm nói:
– Thì ra đại ca gạt hắn.
Nghi Lâm nói xong, ngẩn ngơ nhìn thác nước một lúc rồi lại hỏi:
– Đại ca thường nói gạt người ta lắm sao?
Lệnh Hồ Xung cười nói:
– Còn phải tùy tình hình chứ không phải “thường” đâu. Có những người có thể gạt được, có những người không thể gạt được. Sư phụ và sư mẫu hỏi chuyện gì, ta tất nhiên không dám lừa dối.
Nghi Lâm ồ lên một tiếng rồi nói:
– Vậy còn trong sư huynh, sư đệ, sư tỷ, sư muội đồng môn của đại ca thì sao?
Ý cô muốn hỏi: “Đại ca có lừa dối Linh San sư muội của đại ca không?” nhưng không hiểu sao cô lại không dám hỏi thẳng ra như vậy. Lệnh Hồ Xung cười đáp:
– Điều đó còn phải tùy người tùy việc. Bọn ta thường đùa giỡn với nhau, nói chuyện mà không bịp nhau thì còn chi là thú vị nữa?
Cuối cùng Nghi Lâm hỏi:
– Ngay cả Linh San tỷ tỷ, đại ca cũng gạt ư?
Lệnh Hồ Xung từ trước tới giờ chưa nghĩ qua chuyện này. Hắn chau mày, trầm ngâm một lúc, nghĩ lại trong cuộc đời mình từ trước đến giờ có việc nào đã lừa gạt cô ấy, rồi nói:
– Nếu là việc quan trọng thì dĩ nhiên không thể gạt y được, nhưng lúc giỡn chơi, nói dối để làm trò cười thì thế nào cũng phải có.
Nghi Lâm sống trong Bạch Vân am, sư phụ giữ giới luật rất nghiêm, không cho phép đùa giỡn bao giờ; các vị sư tỷ ai cũng lạnh nhạt ít nói. Tuy mọi người rất thương yêu đùm bọc nhau nhưng không ai nói đùa lấy một câu, chuyện vui nhộn thì càng rất hiếm thấy. Môn hạ của hai vị sư bá Định Tĩnh và Định Nhàn có không ít đệ tử tục gia còn trẻ, nhưng họ cũng hiếm khi cùng với người xuất gia đồng môn nói cười. Từ lúc còn nhỏ, Nghi Lâm đã sống nơi tịch mịch lạnh lẽo này, ngoài giờ luyện võ ra là gõ mõ tụng kinh. Bây giờ nghe Lệnh Hồ Xung nói bọn đồng môn phái Hoa Sơn náo nhiệt như vậy, cô bất giác cao hứng, nghĩ bụng: Nếu mình có thể cùng với đại ca đi đến Hoa Sơn chơi thì thích thú biết mấy.
Nhưng cô lập tức nghĩ lại: Ra khỏi Bạch Vân am lần này ta đã gặp phong ba như vậy, chắc chắn sau khi trở về am thì sư phụ không cho phép xuất môn nữa. Ta đến Hoa Sơn vui chơi cái gì, sao lại si tâm vọng tưởng như vậy được?
Lòng cô bỗng nhiên se lại, mắt đỏ lên suýt nữa rơi lệ.
Lệnh Hồ Xung hoàn toàn không để ý đến cô, nhìn thác nước rồi nói:
– Ta và tiểu muội đang nghiên cứu một bộ kiếm pháp mượn sức mạnh của thác nước mà thi triển chiêu thức. Sư muội, sư muội biết có hiệu dụng gì không?
Nghi Lâm lắc đầu đáp:
– Tiểu muội không biết.
Giọng nói của cô đã có một chút nghẹn ngào nhưng Lệnh Hồ Xung vẫn không để ý đến điều đó.
Hắn tiếp tục nói:
– Chúng ta cùng với người động thủ, nếu người đó nội công rất thâm hậu thì đao kiếm và quyền chưởng thường đi đôi với nội lực. Nội lực vô hình hữu chất, có thể đánh văng kiếm của chúng ta đi. Ta và tiểu sư muội luyện kiếm trong thác nước, mong có thể dùng lực nước để xung kích nội lực của đối phương mà còn dùng chính lực của đối phương để đánh lại đối phương.
Nghi Lâm thấy Lệnh Hồ Xung nói rất hứng khởi bèn hỏi:
– Hai vị đã luyện thành kiếm pháp ấy chưa?
Lệnh Hồ Xung lắc đầu nói:
– Chưa, chưa được. Tự sáng chế ra một bộ kiếm pháp đâu dễ dàng như vậy? Vả lại, chúng ta đâu có sáng chế ra chiêu kiếm nào đâu mà chỉ nghĩ ra từ kiếm pháp bổn môn đã được sư phụ truyền dạy rồi chế ra thôi. Cứ coi như có một chút sáng chế mới, đó cũng chỉ để vui chơi, lúc gặp địch thủ thì chẳng hiệu dụng chút nào. Nếu không thì ta làm sao lại bị Điền Bá Quang đánh cho te tua, không còn sức chống đỡ?
Lệnh Hồ Xung đưa tay ra vạch một đường xuống đất, hớn hở nói:
– Ta lại nghĩ ra được một chiêu, đợi sau khi vết thương lành rồi, trở về sẽ cùng với tiểu sư muội chiết giải thử.
Nghi Lâm dịu dàng hỏi:
– Hai vị gọi bộ kiếm pháp này là gì?
Lệnh Hồ Xung cười nói:
– Ta đã nói rồi, bộ kiếm pháp này không thể đặt cái tên khác. Nhưng tiểu sư muội nhất định phải đặt cho nó một cái tên; gọi là Hồ – Linh kiếm pháp vì bộ kiếm pháp này do ta và sư muội cùng chế ra.
Nghi Lâm nói:
– Hồ – Linh kiếm pháp, Hồ – Linh kiếm pháp. Ôi, trong kiếm pháp này có tên đại ca và tên của cô ta, truyền đến đời sau, ai ai cũng biết là hai vị… hai vị đã cùng sáng chế ra.
Lệnh Hồ Xung cười nói:
– Tiểu sư muội của ta tính như con nít nên mới gọi như vậy thôi chớ chúng ta một chút bản lĩnh cũng không có, chẳng có tư cách gì, làm sao tự chế ra kiếm pháp được? Tiểu muội đừng có nói với ai, nếu mà người ta biết thì chắc họ cười chúng ta đến trẹo quai hàm mất.
Nghi Lâm nói:
– Dạ, tiểu muội quyết sẽ không nói cho ai biết.
Cô ngừng lại một chút rồi mỉm cười:
– Chuyện đại ca tự sáng chế ra kiếm pháp, người ta đã biết cả rồi.
Lệnh Hồ Xung giật mình kinh hãi nói:
– Sao? Linh San sư muội đã nói với người ta ư?
Nghi Lâm cười nói:
– Chính đại ca nói với Điền Bá Quang mà. Đại ca không phải nói là tự mình sáng chế ra một bộ kiếm pháp ngồi đâm ruồi nhặng sao?
Lệnh Hồ Xung cười lớn nói:
– Ta nói vớ nói vẩn với hắn mà tiểu muội cũng nhớ được ư?
Lệnh Hồ Xung cười lớn làm động đến vết thương; hắn đau quá phải chau mày lại. Nghi Lâm nói:
– Chao ôi, tiểu muội thật ngớ ngẩn đã làm cho vết thương của đại ca đau. Thôi đừng nói nữa, đại ca nên nằm ngủ một chút đi.
Lệnh Hồ Xung nhắm mắt lại, nhưng chỉ một lúc thì lại mở mắt ra nói:
– Ta chỉ biết phong cảnh ở đây đẹp nhưng bên thác nước lại không thấy cầu vồng đâu.
Nghi Lâm nói:
– Thác nước thì có cái đẹp của thác nước; cầu vồng có cái đẹp của cầu vồng.
Lệnh Hồ Xung gật đầu nói:
– Tiểu muội nói thật không sai, trên đời này nào có chuyện thập toàn thập mỹ. Có người chịu trăm đắng ngàn cay để đi cầu tìm một vật, khi được vật đó rồi thì không chừng lại muốn liệng đi.
Nghi Lâm mỉm cười nói:
– Lệnh Hồ đại ca, những câu nói của đại ca ẩn chứa Thiền cơ, nhưng đáng tiếc tiểu muội tu còn nông cạn, không hiểu rõ đạo lý trong đó. Nếu sư phụ nghe được, nhất định sẽ giải thích cho tiểu muội rõ.
Lệnh Hồ Xung thở dài nói:
– Cái gì là Thiền cơ với không Thiền cơ, ta không hiểu gì hết. Ui chao, ta mệt quá!
Lệnh Hồ Xung nói xong từ từ nhắm mắt lại, dần dần hơi thở trầm xuống. Hắn đã chìm vào trong giấc mộng. Nghi Lâm ngồi cạnh bên. Cô bẻ một cành cây, nhẹ nhàng xua ruồi muỗi cho đại ca ngủ yên. Cô ngồi hơn một canh giờ, cảm thấy hơi mệt mỏi, mơ hồ nhắm mắt muốn ngủ , bỗng nhiên lại nghĩ: Đợi lúc đại ca tỉnh dậy, nhất định rất đói bụng mà ở đây lại không có gì ăn. Ta đi hái thêm mấy trái dưa nữa, để có thể vừa giải khát vừa ăn cho no.
Thế là cô nhanh bước chạy về hướng đám dưa, hái thêm một trái. Cô sợ lúc mình đi khỏi có người hay dã thú đến xâm phạm Lệnh Hồ Xung nên vội vàng chạy nhanh về. Thấy đại ca vẫn còn an giấc, cô mới yên tâm, nhẹ nhàng ngồi xuống cạnh Lệnh Hồ Xung.
Lệnh Hồ Xung mở mắt ra, mỉm cười nói:
– Ta tưởng tiểu muội về rồi.
Nghi Lâm lấy làm lạ hỏi:
– Tiểu muội về đâu?
Lệnh Hồ Xung nói:
– Sư phụ và các sư tỷ của tiểu muội đang tìm kiếm tiểu muội đó. Họ nhất định rất nhớ tiểu muội.
Nghi Lâm không hề nghĩ đến chuyện này, nghe đại ca nói như vậy, cô sốt ruột vô cùng, lại nghĩ: Sáng mai về gặp sư phụ, không biết sư phụ lão nhân gia có trách phạt mình không?
Lệnh Hồ Xung nói:
– Tiểu muội, đa tạ tiểu muội đã chăm sóc cho ta nửa ngày. Cái mạng của ta đã được tiểu muội cứu sống rồi, tiểu muội nên đi về sớm một chút đi!
Nghi Lâm lắc đầu nói:
– Không, nơi hoang sơn dã lĩnh để đại ca ở một mình, không có người bên cạnh chăm sóc thì làm sao được?
Lệnh Hồ Xung đáp:
– Tiểu muội đến phủ Lưu sư thúc ở thành Hành Sơn, nói nhỏ với các sư đệ của ta, bọn họ sẽ đến đây chăm sóc ta.
Nghi Lâm xót xa, nghĩ bụng: Thì ra đại ca chỉ muốn tiểu sư muội của đại ca chăm sóc thôi, nên muốn đuổi ta về nhanh để mau gọi cô ta đến.
Nghi Lâm cầm lòng không được, nước mắt rơi xuống từng giọt. Lệnh Hồ Xung thấy cô ta bỗng nhiên rơi lệ, lấy làm lạ hỏi:
– Tiểu muội… tiểu muội… sao lại khóc. Tiểu muội sợ về bị sư phụ trách mắng phải không?
Nghi Lâm lắc đầu. Lệnh Hồ Xung lại nói:
– A, phải rồi, tiểu muội sợ trên đường lại đụng phải tên Điền Bá Quang. Không phải sợ, từ nay về sau hắn mà thấy tiểu muội thì chuồn ngay, không dám gặp mặt tiểu muội nữa đâu.
Nghi Lâm lại lắc đầu, nước mắt càng rơi xuống nhiều hơn. Lệnh Hồ Xung thấy cô ta càng khóc nhiều, lòng dâng trào cảm xúc, bèn nói:
– Được rồi, được rồi. Ta đã nói sai rồi, ta xin lỗi tiểu muội. Tiểu sư muội, sư muội đừng giận nữa.
Nghi Lâm nghe giọng nói của Lệnh Hồ Xung rất dịu dàng, lòng cô vơi bớt tủi buồn. Nhưng cô lại nghĩ: Đại ca nói những lời dịu dàng này rõ ràng là thói quen thường dùng để xin lỗi tiểu sư muội, lúc này y thuận miệng nói ra thôi.
Bỗng nhiên cô khóc òa lên, một lát sau mới nói:
– Tiểu muội đâu phải là tiểu sư muội của đại ca… Đại ca… lòng của đại ca chỉ nhớ đến tiểu sư muội của đại ca thôi!
Câu nói vừa thốt ra thì cô lập tức nghĩ lại: Mình là người xuất gia, sao lại có thể nói với đại ca những lời như vậy, quá trớn lắm rồi. Bất giác, mặt cô thẹn đỏ lên, quay đi hướng khác.
Lệnh Hồ Xung thấy cô bỗng nhiên đỏ mặt mà nước mắt chưa dứt, cứ tuôn rơi như những giọt nước lấp lánh nhỏ bé văng tung tóe bên thác nước, yêu kiều tươi đẹp không sao tả xiết, nghĩ thầm: Cô ta thật đẹp, không thua kém gì Linh San tiểu sư muội.
Lệnh Hồ Xung ngẩn người ra một lát rồi dịu dàng nói:
– Tiểu muội nhỏ tuổi hơn ta nhiều. Ngũ Nhạc kiếm phái của chúng ta đồng khí liên chi, mọi người đều là sư huynh, sư đệ, sư tỷ, sư muội của nhau. Tiểu muội tất nhiên là tiểu sư muội của ta rồi, ta có chỗ nào lầm lỗi với tiểu muội, tiểu muội nói cho ta nghe có được không?
Nghi Lâm đáp:
– Đại ca không có điều gì lầm lỗi với tiểu muội cả. Tiểu muội biết đại ca muốn tiểu muội mau mau rời khỏi đây để đại ca khỏi nhìn thấy thêm bực mình, làm đại ca bị xui xẻo. Đại ca đã nói rồi mà hễ gặp ni cô thì đánh bạc…
Cô nói đến đây lại òa lên khóc tiếp. Lệnh Hồ Xung không nhịn được tức cười, nghĩ bụng: Thì ra cô chiêu này còn ấm ức những câu mình nói trên Hồi Nhạn lâu. Kiểu này không xin lỗi thì không xong rồi. Hắn bèn nói:
– Lệnh Hồ Xung ta thật là đáng chết, ăn nói không biết lựa lời. Ngày hôm đó ở Hồi Nhạn lâu, ta đã nói năng bậy bạ, đắc tội cùng toàn thể quý phái từ trên xuống dưới, thật đáng đánh đòn, đáng đánh đòn.
Lệnh Hồ Xung nói xong liền giơ tay tự tát vào mặt mình hai cái bốp bốp. Nghi Lâm vội quay người lại nói:
– Đừng… đừng đánh… tiểu muội… không trách đại ca. Tiểu muội… tiểu muội chỉ sợ làm liên lụy đến đại ca.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Thật là đáng đánh!
Bốp một tiếng, hắn lại tát vào mặt mình một cái tóe lửa. Nghi Lâm vội nói:
– Tiểu muội đâu có giận. Lệnh Hồ đại ca, đại ca… đại ca đừng đánh nữa.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Tiểu muội nói là không giận ta nữa ư?
Nghi Lâm lắc đầu. Lệnh Hồ Xung lại nói:
– Tiểu muội không cười, đó không phải là còn đang giận ta ư?
Nghi Lâm đành miễn cưỡng cười lên, nhưng bỗng nhiên không hiểu sao lòng cô quặn đau không tả xiết. Cô không cầm được nữa, nước mắt chảy dài trên má, lại vội quay người đi. Lệnh Hồ Xung thấy cô cứ khóc hoài, liền buông tiếng thở dài. Nghi Lâm từ từ nín khóc, sụt sùi hỏi:
– Đại ca… sao đại ca lại thở dài?
Lệnh Hồ Xung cười thầm trong bụng: Quả nhiên con cừu non này đã trúng kế mình rồi.
Lệnh Hồ Xung làm bạn với Nhạc Linh San từ nhỏ. Nhạc Linh San thỉnh thoảng hay giở tính trẻ con, lúc bực mình là òa lên khóc, khóc dai ơi là dai, bất luận nói gì hay dỗ dành thế nào cô ta cũng không nín. Những lúc như vậy, Lệnh Hồ Xung bèn làm “khổ nhục kế” giống khi nãy, khiến cô ta tò mò quay lại hỏi. Nghi Lâm từ tấm bé chưa hề có thói nhõng nhẽo với ai, nên lại càng dễ rơi vào mưu kế của Lệnh Hồ Xung. Lệnh Hồ Xung lại thở dài, quay người đi không nói.
Nghi Lâm hỏi:
– Lệnh Hồ đại ca, đại ca giận rồi sao? Vừa rồi tiểu muội có lỗi với đại ca, đại ca… đại ca đừng để bụng.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Đâu có, tiểu muội đâu có lỗi lầm gì với ta.
Nghi Lâm thấy nét mặt Lệnh Hồ Xung vẫn u sầu, nào biết trong bụng hắn đang cảm thấy tức cười mà ngoài mặt làm ra bộ buồn bã. Cô sốt ruột nói:
– Tiểu muội đã hại đại ca phải tự đánh mình, tiểu muội… tiểu muội phải đền cho đại ca.
Cô nói xong liền nhấc tay lên bốp một tiếng, tự tát vào má phải của mình một cái, cái tát thứ hai toan đánh thì Lệnh Hồ Xung vội quay người lại, giơ tay nắm chặt lấy cổ tay cô, nhưng hắn dùng lực mạnh khiến vết thương trên người đau nhói, chịu không được khẽ rên lên một tiếng. Nghi Lâm vội nói:
– Ui chao! Mau… mau nằm xuống, đừng làm vết thương bị đau.
Cô nói xong liền đỡ Lệnh Hồ Xung nằm xuống, rồi tự trách:
– Tiểu muội thật là ngu ngốc, chuyện gì làm cũng không đúng. Lệnh Hồ đại ca, đại ca… đại ca đau lắm phải không?
Chỗ vết thương của Lệnh Hồ Xung đau đến quặn người, nếu bình thường thì hắn quyết không thừa nhận, nhưng lúc này hắn lại nghĩ ra một kế: Chỉ có như vậy thì cô ta mới chịu nín khóc mà cười lên.
Hắn liền chau mày lại, rên hừ hừ mấy tiếng. Nghi Lâm vô cùng hốt hoảng, nói:
– Chỉ cần không… không để máu chảy nữa mới được.
Cô đưa tay sờ lên trán đại ca. May thay, hắn không sốt. Qua một lúc sau, cô nhẹ nhàng hỏi:
– Có bớt đau chút nào không?
Lệnh Hồ Xung đáp:
– Còn đau lắm.
Nét mặt Nghi Lâm rầu rĩ, không biết nên làm thế nào. Lệnh Hồ Xung lại la lên:
– Ui chao đau quá! Lục… Lục sư đệ có ở đây thì đỡ biết mấy.
Nghi Lâm nói:
– Sao? Y có thuốc giảm đau ư?
Lệnh Hồ Xung nói:
– Phải đấy, cái miệng của hắn chính là liều thuốc giảm đau. Trước đây ta cũng từng bị thương, đau đớn vô cùng. Lục sư đệ nói chuyện khôi hài, ta nghe rất vui, nên quên hết mọi đau đớn. Nếu hắn có ở đây thì tốt biết mấy. Trời ơi… sao mà đau thế này… đau quá… Trời ơi là trời!
Nghi Lâm vô cùng khó xử . Là môn hạ của Định Dật sư thái, người nào cũng nghiêm mặt tụng kinh niệm Phật hay ngồi luyện công luyện kiếm, trong Bạch Vân am e rằng cả tháng hiếm khi nghe được một hai câu nói đùa. Muốn cô nói đùa một câu thì thật khó quá. Cô nghĩ bụng: Lục Đại Hữu sư huynh không có ở đây. Lệnh Hồ đại ca lại muốn nghe chuyện cười thì chỉ có mình ta kể cho đại ca nghe thôi, nhưng… nhưng… một mẩu chuyện cười ta cũng không biết.
Bỗng nhiên linh cơ xúc động, cô nghĩ ra một câu chuyện, bèn nói:
– Lệnh Hồ đại ca, nói đùa thì tiểu muội không biết nói nhưng trong Tàng kinh các, tiểu muội đã đọc qua một quyển kinh rất thú vị gọi là Bách dụ kinh. Đại ca đọc qua chưa?
Lệnh Hồ Xung lắc đầu đáp:
– Chưa đọc, cái gì ta cũng không đọc, kinh Phật lại càng không đọc.
Má Nghi Lâm từ từ ửng hồng, nói:
– Tiểu muội thật là ngu, hỏi toàn lời ngớ ngẩn. Đại ca không phải là đệ tử của Phật môn, tất nhiên không hề đọc kinh sách rồi.
Cô ngừng một chút rồi nói tiếp:
– Bộ Bách dụ kinh đó là do một cao tăng ở nước Thiên Trúc soạn ra, trong đó có rất nhiều cố sự vui.
Lệnh Hồ Xung vội nói:
– Hay quá, ta thích nghe những cố sự vui. Tiểu muội hãy kể vài chuyện cho ta nghe đi.
Nghi Lâm tủm tỉm cười. Trong Bách dụ kinh có vô số cố sự, bây giờ, từng câu chuyện lại hiện ra trong đầu cô. Cô nói:
– Được rồi, để tiểu muội kể câu chuyện “Dĩ lê đả phá đầu dụ” (chuyện lấy lưỡi cày đánh lên đầu). Ngày xưa có một người đầu bị hói ngay từ lúc sơ sinh, trên đầu không có một sợi tóc. Người hói đầu này và một người cày ruộng khác không biết tại sao lại tranh cãi với nhau. Người cày ruộng cầm lưỡi cày trong tay liền giơ lên đánh xuống đầu người đầu hói khiến y bị thương, chảy máu. Nhưng người đầu hói đó ngậm miệng chịu đau, không né tránh mà còn phát cười lên. Những người chứng kiến thấy vậy lấy làm kỳ lạ, hỏi sao lão không né tránh mà lại cười. Người đầu hói nói: “Tên cày ruộng này là một người ngu, thấy trên đầu ta không có sợi tóc nào cho là đầu ta cứng như đá, nên hắn dùng lưỡi cày đập lên. Nếu ta né tránh, há không phải là dạy cho hắn trở thành thông minh ư?”
Cô kể đến đây, Lệnh Hồ Xung cười to lên, rồi khen:
– Câu chuyện hay quá! Gã đầu hói này thật là thông minh, thông minh đến nỗi bị người ta đánh bất luận thế nào cũng không né tránh.
Nghi Lâm thấy Lệnh Hồ Xung cười rất tự nhiên, lòng cô cũng rất vui, bèn nói:
– Tiểu muội kể tiếp câu chuyện “Y dữ ngọc nữ dược, lệnh xuất trường đại dụ” (chuyện ông thầy thuốc dùng thuốc khiến một cô gái mau lớn). Ngày xưa có một ông vua sinh một cô công chúa. Ông vua rất nóng tính, thấy cô ta còn bé quá, muốn cho cô ta lớn nhanh lên bèn gọi ngự y vào, truyền ngự y điều chế ra một loại linh dược cho công chúa uống để công chúa lập tức mau lớn.
Ngự y tâu: “Linh dược thì có thể chế được nhưng phải tìm rất nhiều loại dược thảo, lại phải luyện chế rất công phu. Bây giờ thần xin đưa công chúa về nhà, đồng thời gấp rút bào chế thuốc, xin bệ hạ đừng nên thúc bách”. Quốc vương nói: “Rất tốt, quả nhân không thúc khanh đâu”. Ngự y liền ẵm công chúa về nhà, mỗi ngày bẩm báo với quốc vương rằng linh dược đang được luyện chế.
Qua hai mươi năm sau, ngự y tâu: “Muôn tâu bệ hạ, linh dược đã luyện chế xong rồi, hôm nay đã cho công chúa uống”. Thế rồi ngự y dẫn công chúa đến trước mặt quốc vương. Quốc vương thấy cô công chúa bé nhỏ năm xưa giờ đã lớn thành một thiếu nữ thướt tha, long tâm hớn hở, khen ngự y y đạo tinh thông, uống một liều linh dược mà có thể khiến cho ái nữ của ngài mau lớn, bèn ra lệnh ban thưởng cho ngự y vô số vàng bạc châu báu.
Lệnh Hồ Xung lại cười ha hả rồi nói:
– Tiểu muội nói quốc vương này tính tình nóng nảy nhưng kỳ thực lão không nóng nảy chút nào. Không phải lão ta đã đợi được hai mươi năm sao? Nếu ta là viên ngự y đó, ta chỉ cần một ngày công phu thì có thể đem công chúa bé nhỏ biến thành một thiếu nữ công chúa thướt tha mười bảy mười tám tuổi ngay.
Nghi Lâm mở to mắt hỏi:
– Đại ca dùng phương pháp gì?
Lệnh Hồ Xung mỉm cười nói:
– Bên ngoài thì bôi Thiên hương đoạn tục giao, trong thì cho uống Bạch vân hùng đảm hoàn.
Nghi Lâm cười nói:
– Đó là dược vật để trị thương, làm sao có thể khiến cho con người ta mau lớn được?
Lệnh Hồ Xung đáp:
– Trị hay không trị được vết thương ta không cần biết, chỉ cần tiểu muội bằng lòng giúp ta là được rồi.
Nghi Lâm cười nói:
– Đại ca muốn tiểu muội giúp ư?
Lệnh Hồ Xung đáp:
– Đúng vậy, sau khi ta ẵm cô công chúa bé nhỏ về nhà, ta sẽ mời bốn người thợ may…
Nghi Lâm càng ngạc nhiên hỏi:
– Mời bốn người thợ may để làm gì?
Lệnh Hồ Xung đáp:
– Để may một bộ xiêm y mới. Ta muốn họ đo kích cỡ người của tiểu muội, trong một đêm phải may xong bộ xiêm y cho công chúa để sáng sớm hôm sau tiểu muội mặc vào; đầu đội mũ Linh lung phụng, mình mặc Bách hoa cẩm y, chân đi hài thêu chỉ vàng. Dáng vẻ lộng lẫy, dung nhan yêu kiều diễm lệ, tiểu muội đi tới trước Kim loan điện, tung hô vạn tuế ba lần, cúi người xuống bái lạy rồi thưa: “Muôn tâu phụ vương, sau khi hài nhi uống linh đan diệu dược của ngự y Lệnh Hồ Xung, trong một đêm đã cao lớn như thế này đây”. Quốc vương thấy công chúa vô cùng xinh đẹp, khả ái như vậy, lòng sẽ vui sướng, đâu còn hỏi công chúa thật hay giả. Ngự y Lệnh Hồ Xung ta tất nhiên sẽ được trọng thưởng.
Nghi Lâm không nhịn được, nghe hắn nói xong là cười đến lộn cả ruột, vẹo cả người, một lúc sau mới nói:
– Đại ca quả nhiên thông minh hơn vị ngự y trong Bách dụ kinh nhiều, nhưng đáng tiếc tiểu muội… tiểu muội xấu như thế này, chẳng giống công chúa chút nào.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Nếu tiểu muội mà xấu thì trong thiên hạ này không còn ai đẹp cả. Từ xưa đến nay, hàng ngàn hàng vạn công chúa đâu có thấy ai đẹp như tiểu muội đâu?
Nghi Lâm nghe hắn cứ khen ngợi mình, lòng rất vui. Cô cười nói:
– Đại ca đã thấy được hàng ngàn hàng vạn công chúa rồi sao?
Lệnh Hồ Xung đáp:
– Tất nhiên rồi, ở trong mộng ta đều gặp qua từng người.
Nghi Lâm cười nói:
– Đại ca là người gì mà sao nằm mơ chỉ thấy toàn là công chúa vậy?
Lệnh Hồ Xung cười sảng khoái, rồi nói:
– Ngày nghĩ sao, đêm chiêm bao…
Nhưng hắn lập tức nghĩ lại, không nói nữa. Nghi Lâm là một nữ ni nhỏ tuổi trong trắng hồn nhiên, hắn cứ nói đùa hoài là đã phạm vào giới luật sư môn của cô ta, sao còn dám nói với cô ta những lời cợt nhả? Hắn nghĩ đến đây, bỗng sắc mặt nghiêm nghị giả bộ ngáp dài một cái.
Nghi Lâm nói:
– Lệnh Hồ đại ca, đại ca mệt rồi, nhắm mắt ngủ một lúc đi.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Hay quá, câu chuyện vui của tiểu muội thật hiệu nghiệm, vết thương của ta quả nhiên không đau nữa.
Hắn muốn Nghi Lâm nói chuyện vui để cô nín khóc mà cười lên. Bây giờ, cô đã nói cười vui vẻ, xem như hắn đã thành công, liền từ từ nhắm mắt lại.
Nghi Lâm ngồi bên cạnh Lệnh H ồ Xung, cầm cành cây nhè nhẹ phe phẩy xua ruồi nhặng. Tiếng ếch nhái kêu vang từ trong khe núi xa xa vọng lại giống như khúc nhạc ru. Đến lúc này Nghi Lâm đã rất mỏi mệt, cảm thấy đôi mắt nặng trĩu mở lên không được nữa; cô mơ màng đi vào cõi mộng.
Trong giấc mộng, cô thấy mình mặc xiêm y rực rỡ của công chúa, bước vào một cung điện nguy nga tráng lệ, bên cạnh là một thanh niên tuấn tú dắt tay mình. Chàng thanh niên này từa tựa như Lệnh Hồ Xung, ở dưới chân họ có đám mây nâng hai người nhẹ bay lên không trung, cô cảm thấy hạnh phúc không sao nói được. Bỗng nhiên, có một lão ni chống gậy đuổi đến, trừng mắt giận dữ, đó là sư phụ của cô. Nghi Lâm giật mình sợ hãi khi nghe tiếng sư phụ quát:
– Tiểu súc sinh, ngươi không giữ thanh quy giới luật, lại to gan dám đi làm công chúa, còn kề cận với tên lãng tử này nữa.
Lão ni nắm chặt cánh tay cô, dùng lực kéo mạnh một cái. Lúc này trước mắt cô tối đen, Lệnh Hồ Xung biến đâu mất, sư phụ cũng chẳng thấy đâu, chỉ còn mình trong đám mây tối đen đang rơi lộn nhào xuống. Nghi Lâm sợ quá la to:
– Lệnh Hồ đại ca! Lệnh Hồ đại ca!
Cô cảm thấy toàn thân mềm nhũn, tay chân không sao nhúc nhích được.
Cô thét lên vài tiếng, giật mình tỉnh dậy, thì ra chỉ là một giấc mơ. Cô thấy Lệnh Hồ Xung đang mở to mắt nhìn mình.
Nghi Lâm thẹn đỏ cả hai má, ấp úng nói:
– Tiểu muội… tiểu muội…
Lệnh Hồ Xung nói:
– Tiểu muội nằm mơ phải không?
Mặt Nghi Lâm lại đỏ lên, cô đáp:
– Tiểu muội cũng không biết có phải là nằm mơ không.
Bỗng nhiên, cô thấy thần sắc của Lệnh Hồ Xung vô cùng kỳ lạ; dường như hắn đang kìm chế sự đau đớn. Cô vội hỏi:
– Đại ca… vết thương của đại ca đau lắm phải không?
Lệnh Hồ Xung đáp:
– Không sao!
Hắn nói vậy nhưng giọng lại run run, những giọt mồ hôi lớn như hạt đậu lấm tấm trên trán. Hắn có vẻ vô cùng đau đớn, không cần hỏi cũng đã biết rồi.
Nghi Lâm hoảng sợ, nói lắp bắp:
– Làm sao bây giờ? Làm sao bây giờ?
Cô lấy khăn ra lau mồ hôi trên trán của Lệnh Hồ Xung, ngón tay của cô đụng lên trán hắn cảm thấy nóng như lửa. Cô nghe sư phụ nói sau khi người bị thương bởi đao kiếm, nếu phát sốt thì tình thế vô cùng nguy hiểm, trong lúc hoảng hốt này, cô không tự chủ được nữa, bèn cất tiếng niệm kinh:
– Nếu có vô lượng trăm ngàn muôn ức chúng sanh chịu khổ não, nghe Quán Thế Âm Bồ Tát này một lòng xưng danh. Quán Thế Âm Bồ Tát tức thời xem xét tiếng tăm kia, đều đặng giải thoát. Nếu có người trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát này, dẫu vào trong lửa lớn, lửa cháy chẳng đặng. Vì do sức oai thần của Bồ Tát này đặng như vậy. Nếu bị nước lớn làm trôi, xưng danh hiệu Bồ Tát, tức thời liền đặng chỗ cạn…
Cô niệm Diệu pháp Liên hoa kinh Quán Thế Âm Bồ Tát phổ môn phẩm lúc đầu giọng còn run run, nhưng niệm một lúc thì tinh thần dần dần trở lại ổn định.
Lệnh Hồ Xung nghe tiếng niệm kinh của Nghi Lâm trong trẻo mà thanh thoát, cô càng niệm càng hòa mình vào an tịnh, dường như đầy tín tâm đối với thần thông của kinh văn. Chợt nghe Nghi Lâm niệm tiếp:
– Nếu có người sắp bị hại, xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, thời dao gậy của người cầm liền gãy từng đoạn, mà được giải thoát. Nếu có quỷ Dạ xoa, La sát đầy trong cõi tam thiên đại thiên muốn đến hại người, nghe người xưng hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát thì các quỷ dữ đó còn không có thể dùng mắt dữ mà nhìn người, huống làm hại được? Dẫu lại có người có tội hoặc không tội, gông cùm xiềng xích trói buộc nơi thân, xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, thảy đều đứt rã, liền được giải thoát.
Lệnh Hồ Xung càng nghe càng thấy buồn cười, cuối cùng không nín được nữa, bèn hà một tiếng rồi phát cười lên.
Nghi Lâm lấy làm lạ hỏi:
– Đại ca cười… cười cái gì?
Lệnh Hồ Xung nói:
– Ta mà sớm biết như vậy thì hà tất học võ công làm chi cho mệt. Nếu có kẻ thù muốn đến giết hại ta, ta… ta chỉ cần xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, thì đao gậy của ác nhân đó sẽ gãy thành từng đoạn, há không phải là bình yên… bình yên cát tường ư?
Nghi Lâm nghiêm sắc mặt nói:
– Lệnh Hồ đại ca, đại ca không được khinh thường Bồ Tát, nếu tâm không thành thì niệm kinh cũng vô ích thôi.
Nói xong cô tiếp tục cất tiếng:
– Hoặc thú dữ vây quanh
Nanh vuốt nhọn đáng sợ
Do sức niệm Quán Âm
Vội vàng bỏ chạy thẳng
Rắn độc cùng bò cạp
Hơi độc khói lửa đốt
Do sức niệm Quán Âm
Theo tiếng tự bỏ đi
Mây sấm nổ sét đánh
Tuôn giá xối mưa lớn
Do sức niệm Quán Âm
Liền đặng tiêu tan cả
Chúng sanh bị khổ ách
Vô lượng khổ bức thân
Quán Âm sức trí diệu
Năng cứu khổ thế gian…
Lệnh Hồ Xung nghe Nghi Lâm niệm với cả tấm lòng thành, tiếng niệm kinh tuy nhỏ nhưng biểu thị toàn tâm toàn ý cầu xin Đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Dường như toàn bộ tâm linh của cô đều hướng về Bồ Tát tha thiết kh ẩn cầu, muốn Bồ Tát hiển đạt thần thông để giải thoát nỗi khổ đau của mình. Hình như cô đang nói:
– Quán Thế Âm Bồ Tát! Cầu xin ngài giải bỏ sự đau khổ trên người Lệnh Hồ đại ca, đem tất cả sự đau khổ của đại ca chuyển sang người đệ tử. Đệ tử có biến thành súc sinh hay vào địa ngục cũng cam lòng, chỉ cầu xin Bồ Tát giải thoát cho Lệnh Hồ đại ca tai qua nạn khỏi…
Đến lúc sau Lệnh Hồ Xung không còn nghe được ý nghĩa của kinh văn, chỉ nghe thanh âm từng câu từng câu cầu nguyện rất thành khẩn, rất thiết tha. Không hiểu sao mắt hắn đẫm lệ. Hắn từ nhỏ đã mồ côi cha mẹ, tuy sư phụ sư mẫu có ân sâu với hắn nhưng hắn quá bướng bỉnh nên bị trách phạt hơn là yêu thương; các sư huynh sư đệ, sư tỷ sư muội đều tôn kính hắn là đại sư huynh nên không ai dám trái ý hắn. Tuy hắn và sư muội Nhạc Linh San có mối giao tình nhưng trước nay, Linh San vẫn không lần nào quan tâm đến hắn như vậy, lại không thể tình nguyện đem ngàn vạn nỗi khổ của thế gian đặt lên người mình để cho hắn được bình yên, khoái lạc. Bất giác máu nóng trong ngực Lệnh Hồ Xung như muốn dâng tràn, trong ánh mắt hắn, dường như toàn thân Nghi Lâm ẩn hiện một vừng hào quang tinh khiết.
Tiếng niệm kinh của Nghi Lâm càng lúc càng nhẹ nhàng thanh thoát. Trước mắt cô dường như đang có một Bạch y đại sĩ tay cầm nhành dương vẫy nước Cam lồ, cứu khổ cứu nạn. Mỗi câu niệm “Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát” đều hướng về Bồ Tát thành khẩn cầu nguyện cho Lệnh Hồ Xung.
Lòng Lệnh Hồ Xung vừa cảm kích vừa được an ủi. Tiếng niệm Phật dịu dàng của Nghi Lâm đã đưa hắn đi vào giấc mộng không biết tự bao giờ.
Sau khi Nhạc Bất Quần thâu nhận Lâm Bình Chi vào môn tường liền dẫn đệ tử đi thẳng đến Lưu phủ phó hội. Lưu Chính Phong nghe được tin này, vừa ngạc nhiên vừa vui mừng. Quân tử kiếm chưởng môn phái Hoa Sơn tiếng tăm lừng lẫy trong võ lâm lại thân hành giá lâm đến phủ. Lão vội ra ngoài xa nghênh đón, miệng không ngớt lời cảm tạ. Nhạc Bất Quần rất khiêm tốn hòa nhã, vẻ mặt tươi cười nói những lời chúc mừng rồi cùng Lưu Chính Phong nắm tay nhau đi vào cổng. Thiên Môn đạo nhân, Định Dật sư thái, Dư Thương Hải, Văn tiên sinh, Hà Tam Thất… cùng xuống thềm nghênh tiếp.
Dư Thương Hải lòng dạ đen tối, nghĩ bụng: Chưởng môn phái Hoa Sơn thân hành đến đây chắc không phải nể mặt Lưu Chính Phong mà vì ta mà đến. Ngũ Nhạc kiếm phái của lão người đông thế mạnh, ta không nên gây sự với lão. Nếu Nhạc Bất Quần nói những lời không khiêm nhường thì ta sẽ hỏi trước vụ đệ tử Lệnh Hồ Xung của lão ngủ với kỹ nữ trong kỹ viện là hành vi gì? Nếu lão trở mặt thì bấy giờ đành phải động thủ.
Nào ngờ khi thấy Dư Thương Hải, Nhạc Bất Quần vòng tay xá dài rồi cung kính nói:
– Dư quán chủ, đã lâu không gặp, quán chủ ngày càng khang kiện hẳn ra.
Dư Thương Hải cung tay trả lễ rồi nói:
– Nhạc tiên sinh! Kính chào Nhạc huynh!
Mọi người nói với nhau mấy câu xã giao. Trong Lưu phủ lại có các vị tân khách từ các lộ lục tục kéo đến. Hôm nay là ngày chính thức “rửa tay gác kiếm” của Lưu Chính Phong. Đến giờ Tỵ hai khắc, Lưu Chính Phong quay vào nội đường; các đệ tử môn hạ của lão lo chiêu đãi tân khách.
Gần đến giờ Ngọ, năm sáu trăm vị tân khách từ xa kéo đến như nước chảy. Phó bang chủ Cái bang Trương Kim Ngao; Hạ lão phụng sư trong Lục hợp môn ở Trịnh Châu dẫn theo ba người con rể; Thiết lão lão trên đỉnh Thần Nữ dãy Tam Hạp Xuyên Ngạc; bang chủ Phan Hống bang Hải Sa, Đông Hải; Khúc Giang, Nhi Hữu, Thần đao Bạch Khắc và Thần bút Lô Tây Tư… lần lượt kéo đến.
Trong những người này, có người đã từng quen biết, có người chỉ hâm mộ danh tiếng mà trước nay chưa từng gặp qua Lưu Chính Phong. Lúc này, trên đại sảnh, mọi người chào hỏi nhau, làm quen với nhau, không khí rất huyên náo.
Thiên Môn đạo nhân và Định Dật sư thái vào nghỉ trong sương phòng riêng biệt, không muốn chào hỏi mọi người. Cả hai cùng nghĩ bụng: Trong những vị tân khách đến hôm nay, có người cố nhiên là có danh vị trên giang hồ, cũng có những người chẳng ra sao cả. Lưu Chính Phong là cao thủ phái Hành Sơn, sao lại không biết tự trọng mà kết giao bừa bãi như vậy, há chẳng làm bại hoại thanh danh của Ngũ Nhạc kiếm phái?
Tên của Nhạc Bất Quần tuy gọi là “Bất Quần” (không thích kết bạn) nhưng lại rất thích kết giao bằng hữu. Trong những vị tân khách đến có nhiều người vô danh tiểu tốt hoặc những đồ đệ danh tánh không rõ ràng, chỉ cần chủ động đến nói chuyện với lão thì Nhạc Bất Quần cũng nói cười vui vẻ chứ không chút gì lộ vẻ ta đây là chưởng môn của phái Hoa Sơn, một cao nhân nhất đẳng trên giang hồ.
Bọn đệ tử Lưu phủ chỉ huy nhà bếp phục dịch, trong ngoài sắp đặt hai trăm bàn tiệc. Thân thích của Lưu Chính Phong là Môn Khách, Trương Phong và bọn đệ tử của Lưu môn là Hướng Đại Niên, Mễ Vi Nghĩa cung kính mời các vị tân khách nhập tiệc. Theo địa vị và danh vọng trong võ lâm thì Thiên Môn đạo nhân, chưởng môn phái Thái Sơn lên ngồi ghế chủ tiệc. Nhưng Ngũ Nhạc kiếm phái đã kết minh với nhau; Thiên Môn đạo nhân, Nhạc Bất Quần, Định Dật sư thái đều có một nửa tư cách chủ nhân nên không ai tiện ngồi trên. Các vị tiền bối đều nhường nhau, không ai chịu ngồi vào ghế chủ tiệc.
Bỗng nghe hai tiếng cồng chiêng xèng xèng, tiếp theo là tiếng nhạc xập xình, tiếng loa thét oang oang dẹp đường, hiển nhiên là có quan nha gì đó đến trước cổng. Quần hùng lấy làm ngạc nhiên, chợt thấy Lưu Chính Phong mình mặc trường bào mới toanh, vội vàng từ nội đường chạy ra. Quần hùng hoan hô chúc mừng nhưng Lưu Chính Phong cung tay vái chào qua loa rồi đi thẳng ra ngoài cổng. Một lúc sau, lão cung kính đón tiếp một vị quan viên mình mặc công phục đi vào. Quần hùng cảm thấy kỳ lạ, tự hỏi:
– Lẽ nào viên quan này cũng là một cao thủ trong võ lâm?
Họ thấy viên quan này tuy mang phẩm phục của triều đình, nhưng hai mắt lờ đờ, mặt đầy tửu khí, hiển nhiên không phải là người có võ công. Nhạc Bất Quần nghĩ bụng:
– Lưu Chính Phong là đại thân sĩ ở thành Hành Sơn, lão thường kết giao với bọn quan nha. Hôm nay là ngày đại hỷ của lão, quan viên địa phương đến mừng cũng không có gì là lạ.
Viên quan ngang nhiên đi thẳng vào, bệ vệ đứng ở giữa, nha đầu quỳ xuố ng phía sau gã, hai tay giơ cao trình lên một cái khay có phủ gấm vàng, trong khay đặt một cuốn tròn. Viên quan cúi người tiếp lấy cuốn tròn đó rồi lớn tiếng nói:
– Thánh chỉ đến, Lưu Chính Phong hãy tiếp chỉ!
Quần hùng vừa nghe đều giật mình sợ hãi, nghĩ:
– Hôm nay là ngày rửa tay vào chậu vàng của Lưu Chính Phong. Treo kiếm quy ẩn là chuyện trên giang hồ, đâu có liên can gì đến triều đình, sao hoàng đế lại hạ thánh chỉ? Lẽ nào Lưu Chính Phong có mưu đồ đại nghịch, bị triều đình phát hiện? Nếu lão có gì nguy nan, bọn ta phải ra tay tương trợ.
Mọi người không hẹn mà đều có chung ý nghĩ, đứng dậy không nói gì, tay cầm sẵn đao kiếm. Họ liệu đoán viên quan đã đến đây tuyên chỉ thì nhất định có bọn quan binh bí mật bố trí bốn phía Lưu phủ, một trận đại chiến khó tránh khỏi xảy ra. Bọn họ và Lưu Chính Phong là chỗ thâm giao, quyết không thể khoanh tay đứng nhìn được. Bọn họ đã đến Lưu phủ dự tiệc tức nhiên cũng là người trong bọn nghịch đảng, có thể thờ ơ sao được? Bọn họ chỉ đợi Lưu Chính Phong biến sắc quát mắng thì cùng nhảy vào, băm nát tên quan chó má này nát như tương.
Nào ngờ Lưu Chính Phong vẫn rất bình tĩnh. Lão quỳ gối xuống, hướng về phía viên quan khấu đầu lạy ba lạy rồi lớn tiếng nói:
– Kẻ vi thần là Lưu Chính Phong xin nghe thánh chỉ, kính chúc hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế!
Quần hùng thấy vậy vô cùng kinh ngạc.
Viên quan mở cuộn vải tròn ra, tuyên đọc:
– Phụng thiên thừa vận, hoàng đế chiếu viết: “Theo Tuần phủ tỉnh Hồ Nam tấu, thứ dân Lưu Chính Phong ở huyện Hành Sơn chăm lo việc nghĩa, giỏi về cung mã; ở quê nhà kham tài đại dũng. Vậy phong chức tham tướng để từ nay vì triều đình gắng sức báo đáp, không phụ lòng trẫm. Khâm thử”.
Lưu Chính Phong lại khấu đầu đáp:
– Vi thần Lưu Chính Phong bái tạ hồng ân, kính chúc hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế.
Rồi lão đứng dậy hướng về viên quan khom người nói:
– Đa tạ Trương đại nhân đã chiếu cố đề bạt.
Viên quan vuốt râu mỉm cười nói:
– Chúc mừng, chúc mừng! Lưu tướng quân, từ nay tướng quân và ta đều cùng là bề tôi, hà tất phải khách khí như vậy.
Lưu Chính Phong đáp:
– Tiểu tướng nguyên là kẻ thảo dân thất phu, hôm nay được triều đình phong quan là nhờ ân trạch sâu dày của hoàng thượng, khiến cho tiểu tướng rạng rỡ tổ tông. Đó cũng là nhờ tuần phủ đại nhân và Trương đại nhân đã hết dạ tiến cử.
Viên quan cười nói:
– Không dám, không dám!
Lưu Chính Phong quay lại hỏi Phương Thiên Câu:
– Phương hiền đệ, lễ vật phụng kính Trương đại nhân đâu?
Phương Thiên Câu đáp:
– Tiểu đệ đã chuẩn bị sẵn cả rồi.
Gã nói xong liền quay người bưng ra một chiếc mâm, trên mâm đựng một bọc gấm.
Lưu Chính Phong giơ hai tay nhận lấy rồi cười nói:
– Chút lễ mọn này không đủ tỏ lòng thành, kính mong Trương đại nhân nhận cho.
Gã Trương đại nhân cười nói:
– Là huynh đệ với nhau, Lưu đại nhân đừng đa lễ như vậy.
Gã nói rồi đưa mắt ra hiệu cho tên sai đầu bên cạnh tiếp lấy. Lúc sai đầu nhận chiếc mâm, hai tay hắn trĩu xuống, rõ ràng lễ vật trong mâm không nhẹ, không phải bạc mà là vàng. Trương đại nhân cười híp mắt nói:
– Tiểu đệ đang thi hành công vụ, không ở lại lâu được. Nào, nào, nào; hãy rót ba bát rượu, chúc mừng Lưu tướng quân hôm nay được phong quan nhận chức. Chẳng bao lâu tướng quân lại được thăng quan tấn tước, ân trạch của hoàng thượng rộng lớn không biết bao nhiêu mà lường.
Tả hữu rót rượu mang đến. Trương đại nhân liên tiếp uống cạn ba bát rượu rồi cung tay chào, quay người đi ra cửa. Lưu Chính Phong nét mặt hớn hở tiễn đưa ra tận cổng lớn. Tiếng chiêng trống lại vang lên, Lưu phủ ngưng lễ tiễn khách.
Màn kịch này vượt ra ngoài ý nghĩ của quần hùng. Mọi người ngơ ngác nhìn nhau, không biết nói thế nào, vẻ mặt vừa bẽn lẽn vừa kinh ngạc.
Các vị tân khách đến Lưu phủ tuy không phải là người trong hắc đạo, cũng không phải là người tác loạn phạm thượng, nhưng họ đều có danh vọng trong võ lâm, là những nhân vật tự coi mình rất cao. Đối với quan nha, họ đã không coi ra gì; giờ thấy Lưu Chính Phong xu phụ quyền thế, được hoàng đế phong chức tham tướng, chẳng qua chỉ là chức quan võ nhỏ bằng hạt mè hạt đậu mà lão đã cảm kích vô cùng, làm những điệu bộ hành vi trâng tráo, lại ngang nhiên đưa hối lộ thì lòng họ rất coi thường lão. Có người không nhịn được, vẻ khinh khi lộ rõ trên mặt. Còn những vị tân khách lớn tuổi thì nghĩ: Xem tình hình này thì áo mũ của lão nhất định là dùng vàng bạc mà mua rồi, không biết lão xài hết bao nhiêu mới mua được việc tiến cử của quan tuần phủ. Lưu Chính Phong xưa nay là người chính trực, không hiểu sao đến lúc già còn tham danh vọng, lại dùng thủ đoạn đê hèn để mua một chức quan?
Lưu Chính Phong đi đến trước quần hùng, mặt mày đầy vẻ hân hoan, chào mời các vị tân khách. Không có ai ngồi thủ tọa, chiếc ghế thái sư đó vẫn để trống, ghế đầu bên trái là Hạ lão quyền sư ở Lục hợp môn là người cao niên nhất, ghế đầu bên phải là phó bang chúa Cái bang Trương Kim Ngao. Trương Kim Ngao tuy không phải là người võ nghệ cao cường nhưng Cái bang là bang hội lớn nhất trên giang hồ. Bang chủ Cái bang là Giải Phong võ công danh vọng rất cao, nên ai cũng kính nể.
Quần hùng lục tục ngồi xuống, người của Lưu phủ đến rót rượu. Hướng Đại Niên đưa lên một trà kỷ trên phủ gấm hoa. Rồi hắn bưng một cái chậu bằng vàng sáng loáng dài khoảng nửa thước, đựng đầy nước để lên trà kỷ. Bỗng nghe ngoài cổng vang lên ba tiếng cồng bong bong bong, tiếp theo là tám tiếng nổ đùng đùng của pháo đại. Bọn hậu bối đệ tử đang ở hậu sảnh hay ngồi trong hoa sảnh đều chạy đến xem rất náo nhiệt.
Lưu Chính Phong cười hoan hỉ đi vào sảnh đường cung tay vái chào một vòng. Quần hùng đều đứng lên đáp lễ.
Lưu Chính Phong lớn tiếng nói:
– Thưa các vị tiền bối anh hùng, thưa các vị hảo hán bằng hữu, thưa các vị thanh niên bằng hữu! Các vị đã chẳng ngại đường xa đến đây, Lưu Chính Phong này hân hạnh vô cùng, cảm kích khôn xiết. Hôm nay tiểu đệ rửa tay chậu vàng, từ nay không còn hỏi han đến những chuyện trên giang hồ nữa như các vị đã biết. Huynh đệ đã chịu ân điển của triều đình, làm một chức quan nho nhỏ. Người ta thường nói: “Hưởng lộc của vua thì phải hết đạo trung quân”. Hành vi trên giang hồ xét cho cùng là vì nghĩa; còn việc quốc gia là việc công, phải tuân giữ phép nước để báo ân vua; hai con đường này gần như mâu thuẫn với nhau làm cho Lưu Chính Phong này rất lấy làm khó nghĩ. Từ nay về sau, Lưu mỗ ra khỏi võ lâm, môn hạ đệ tử của Lưu mỗ nếu muốn gia nhập vào môn phái khác đương nhiên vẫn là bạn tốt của Lưu mỗ. Bao nhiêu ân oán thị phi trong võ lâm, Lưu mỗ sẽ không hỏi han tới nữa.
Lão nói xong lại cung tay vái xuống.
Quần hùng đã liệu đoán trước là lão sẽ nói như vậy, bèn nghĩ: Thâm tâm của lão muốn làm quan; người đã có ý chí như vậy thì miễn cưỡng sao được? Dù sao thì lão cũng không có lời gì với bọn mình. Vậy thì từ nay trong võ lâm, cứ xem như không có tên của lão mà thôi.
Có người lại nghĩ: Những năm gần đây, trên giang hồ, Ngũ Nhạc kiếm phái luôn luôn hành hiệp trượng nghĩa, được mọi người ngưỡng mộ khâm phục. Lưu Chính Phong lại bày ra chuyện này, đương nhiên trước mặt người ta không dám nói, nhưng sau lưng thì không tránh khỏi sự chê cười.
Người khác lại nghĩ: Người ta nói Ngũ Nhạc kiếm phái là môn phái hiệp nghĩa, nay vừa gặp thăng quan phát tài đã vội khép nép khấu đầu trước bọn quan nha thì còn đề cao hai chữ “hiệp nghĩa” làm gì nữa?
Mỗi người đều có những suy nghĩ khác nhau, trên đại sảnh yên lặng không một tiếng động. Đáng lý ra trước tình cảnh này thì mọi người đều hỏi thăm chúc mừng Lưu Chính Phong, nào là “Phúc thọ toàn quy”; “Cấp lưu dũng thoái”; “Đại trí đại dũng”… mới phải, nhưng hơn một ngàn người trên sảnh đường không ai nói một lời.
Lưu Chính Phong quay người nhìn ra ngoài rồi lớn tiếng nói:
– Đệ tử Lưu Chính Phong được ân sư thâu nhận làm môn hạ, truyền thụ võ nghệ, chưa làm rạng rỡ được môn phái Hành Sơn, đệ tử vô cùng xấu hổ. May thay có Mạc sư ca chủ trì bổn môn, Lưu Chính Phong này bất tài vô dụng, thì có thêm một Lưu mỗ cũng không phải nhiều, mà bớt đi một Lưu mỗ cũng không phải ít. Từ nay về sau, Lưu mỗ đã rửa tay chậu vàng, chuyên tâm làm quan, quyết không dùng võ nghệ ân sư truyền cho để cầu thăng quan tiến chức; những ân oán thị phi trên giang hồ hoặc tranh chấp môn phái Lưu mỗ quyết không hỏi tới, nếu trái lời thì xin như lưỡi kiếm này.
Lão xoay tay phải rút thanh trường kiếm trong tay áo ra khỏi vỏ, hai tay bẻ “cách” một tiếng, thanh kiếm gãy thành hai đoạn. Lão bẻ trường kiếm rồi thuận tay liệng hai đoạn kiếm xuống thềm, leng keng hai tiếng nhẹ, hai phần kiếm gãy đã cắm hút vào viên gạch xanh.
Quần hùng vô cùng kinh hãi khi nghe tiếng hai đoạn kiếm gãy cắm sâu vào viên gạch xanh. Lưỡi kiếm này hiển nhiên là một loại khí giới nát ngọc tan vàng, Lưu Chính Phong vận kình lực của ngón tay bẻ gãy kiếm không có gì lạ. Đằng này lão bẻ gãy bảo kiếm một cách nhẹ nhàng, không phí một chút sức lực thì công phu nội lực của lão thật là lợi hại, xứng đáng là cao thủ số một về chỉ pháp trong võ lâm.
Văn tiên sinh thở dài nói:
– Đáng tiếc, thật là đáng tiếc!
Chẳng biết Văn tiên sinh tiếc cho lưỡi bảo kiếm hay tiếc cho Lưu Chính Phong, một vị cao thủ lại cam tâm đi làm quan cho hoàng đế.
Lưu Chính Phong vẻ mặt hớn hở, xắn hai tay áo toan nhúng vào chậu vàng. Bỗng nghe có người ngoài cổng lớn lên tiếng:
– Dừng lại! Khoan đã!
Lưu Chính Phong hơi giật mình kinh hãi, ngẩng đầu lên nhìn thấy ngoài cổng lớn có bốn gã hán tử mình mặc áo vàng. Bốn gã vừa vào đến cửa đã chia ra đứng hai bên, lại có một hán tử dáng người rất cao, mình mặc áo vàng hiên ngang đi vào. Trong tay hắn cầm một lá cờ gấm thêu ngũ sắc, trên cờ điểm xuyết đầy trân châu bảo thạch, bay phấp phới phát ra những tia sáng rực rỡ. Rất nhiều người đã nhận ra lá cờ vàng, sợ hãi la lên:
– Cờ lệnh của minh chủ Ngũ Nhạc kiếm phái đã đến!
Gã hán tử cao người đi đến trước mặt Lưu Chính Phong, giơ cờ lên rồi nói:
– Lưu sư thúc, đệ tử phụng mệnh minh chủ cầm cờ lệnh của Ngũ Nhạc kiếm phái đến đây, mong đại lễ rửa tay chậu vàng của Lưu sư thúc tạm thời dừng lại.
Lưu Chính Phong khom người đáp:
– Không biết hiệu lệnh của minh chủ có dụng ý gì?
Gã hán tử đó nói:
– Đệ tử phụng mệnh hành sự, quả thật không biết ý chỉ của minh chủ là gì. Xin Lưu sư thúc thứ tội cho.
Lưu Chính Phong mỉm cười nói:
– Bất tất phải khách khí như vậy. Hiền điệt là Thiên trượng tùng Sử hiền điệt phải không?
Mặt lão tuy lộ vẻ tươi cười nhưng giọng nói run run, rõ ràng chuyện này đến quá đột ngột. Dù lão là người đã cầm kiếm xông pha trăm trận nhưng cũng không tránh khỏi bị chấn động tâm thần.
Gã hán tử đó chính là Thiên trượng tùng Sử Đăng Đạt, đệ tử của phái Tung Sơn. Gã nghe Lưu Chính Phong biết tên tự và ngoại hiệu của mình thì vô cùng đắc ý, khom lưng nói:
– Đệ tử Sử Đăng Đạt xin bái kiến Lưu sư thúc.
Gã bước lên trước vài bước hướng về Thiên Môn đạo nhân, Nhạc Bất Quần, Định Dật sư thái… hành lễ rồi nói:
– Đệ tử môn hạ phái Tung Sơn bái kiến các vị sư bá, sư thúc.
Bốn gã hán tử áo vàng cùng cúi người hành lễ.
Định Dật sư thái rất vui mừng, nghiêng người đáp lễ rồi nói:
– Sư phụ của ngươi đứng ra ngăn cản việc này thật không có gì hay bằng. Theo ta, chúng ta là người học võ, lấy nghĩa hiệp làm trọng, giao du tự tại trên giang hồ, việc gì phải nhọc sức ra làm quan? Nhưng ta thấy Lưu Chính Phong hiền đệ đã an bài tất cả, quyết không thèm nghe lời khuyên của lão ni này nên ta cũng không rườm lời làm gì cho mỏi miệng.
Lưu Chính Phong trịnh trọng nói:
– Năm xưa Ngũ Nhạc kiếm phái chúng ta kết minh, ước định tương trợ, bảo vệ chính khí trong võ lâm, gặp việc có liên quan đến năm phái, mọi người phải nghe theo hiệu lệnh của minh chủ. Lá cờ ngũ sắc này do năm phái cùng chế ra, thấy cờ lệnh như thấy minh chủ, dĩ nhiên là như vậy. Nhưng hôm nay, rửa tay chậu vàng là chuyện riêng của Lưu mỗ, đã không vi phạm quy chế đạo nghĩa của võ lâm, càng không liên can gì đến Ngũ Nhạc kiếm phái, nên không thể nhận sự ràng buộc của cờ lệnh minh chủ. Xin Sử hiền điệt bẩm lại với tôn sư, Lưu mỗ không tuân theo cờ lệnh, mong Tả sư huynh miễn tội cho.
Lão nói xong liền đi về phía chậu vàng.
Sử Đăng Đạt lạng người một cái, vọt lên đứng chắn trước chậu vàng. Tay phải gã giơ cao lá cờ, nói:
– Lưu sư thúc, sư phụ của đệ tử dặn đi dặn lại, cố xin sư thúc hoãn việc rửa tay chậu vàng. Sư phụ của đệ tử nói Ngũ Nhạc kiếm phái đồng khí liên chi, mọi người vẹn tình huynh đệ. Sư phụ của đệ tử truyền cờ lệnh này là muốn vẹn toàn tình nghĩa của Ngũ Nhạc kiếm phái và cũng vì để duy trì chính khí trong võ lâm, muốn mọi điều tốt đẹp cho sư thúc.
Lưu Chính Phong nói:
– Ta không sao hiểu nổi. Thiệp Lưu mỗ báo tin vui rửa tay gác kiếm đã sớm cung kính phân công người đem đến phái Tung Sơn; ngoài ra Trương Hàm cũng đã bẩm cáo với Tả sư huynh. Nếu như Tả sư huynh thật sự có hảo ý, sao không sớm can ngăn chuyện này? Đến giờ phút này mới phát cờ lệnh ra ngăn cản không phải là muốn ta nói lời rồi lại nuốt lời trước mặt các vị anh hùng trong thiên hạ khiến cho hảo hán trên giang hồ chế nhạo ta ư?
Sử Đăng Đạt nói:
– Sư phụ đệ tử đã dặn dò rằng Lưu sư thúc là hảo hán tử lừng danh của phái Hành Sơn, nghĩa hiệp cao ngất trời xanh, đồng đạo trong võ lâm trước nay đối với Lưu sư thúc rất tôn kính. Sư phụ của đệ tử cũng vô cùng khâm phục, dặn đệ tử vạn vạn lần không được thất lễ, nếu trái lời sẽ trừng trị nghiêm khắc không tha thứ. Đại danh của Lưu sư thúc vang dội khắp giang hồ, về chuyện này sư thúc bất tất phải lo.
Lưu Chính Phong mỉm cười nói:
– Đó là Tả minh chủ quá khen thôi, Lưu mỗ có danh phận gì đâu?
Định Dật sư thái thấy hai người cứ giằng co không dứt khoát, không nhịn được nữa, bèn nói xen vào:
– Lưu hiền đệ, việc này tạm gác lại có sao đâu. Hôm nay mọi người ở đây đều là hảo bằng hữu, thì có ai mà cười sư đệ nữa? Giả sử có một hai kẻ không biết gì, nói lời giễu cợt dù hiền đệ không trách họ nhưng bần ni sẽ không buông tha chúng đâu.
Lưu Chính Phong gật đầu nói:
– Định Dật sư thái cũng nói vậy thì xin hoãn việc rửa tay chậu vàng, đến giờ Ngọ ngày mai sẽ cử hành lại. Xin các vị bằng hữu đừng ai bỏ đi, hãy ở lại Hành Sơn hàn huyên thêm một ngày, chờ tại hạ giải thích tận tường cho các vị hiền điệt phái Tung Sơn rõ.
Lúc này bỗng nghe có tiếng con gái ở hậu đường la lên:
– Úi chao, ngươi làm gì vậy? Ta thích chơi với ai thì mặc kệ ta, ngươi quản được ta à?
Quần hùng sửng sốt vì nghe giọng nói cô ta. Thì ra cô bé này chính là Khúc Phi Yên, ngày hôm qua đã công kích Dư Thương Hải.
Lại nghe tiếng nói của một nam tử:
– Ngươi làm ơn ngồi yên ở đây cho ta nhờ, đừng chạy qua chạy lại lung tung, đợi một chút nữa, ta sẽ thả ngươi đi chơi.
Khúc Phi Yên nói:
– Thật là kỳ cục, đây đâu phải là nhà của ngươi, ta muốn theo Lưu tỷ tỷ đến hậu viên sao ngươi lại cản không cho ta đi?
Người đó nói:
– Thôi được! Ngươi muốn đi thì đi một mình, xin Lưu cô nương nán lại đây một chút.
Khúc Phi Yên nói:
– Lưu tỷ tỷ thấy bộ mặt ngươi là đã phát ghét; ngươi mau tránh xa ra cho ta đi. Lưu tỷ tỷ lại không biết ngươi là ai, ai khiến ngươi ở đây gây rắc rối.
Lại nghe giọng nói một cô gái khác:
– Muội muội, chúng ta đi, đừng lý luận với hắn nữa.
Gã đó nói:
– Lưu cô nương, xin cô nán lại đây một chút.
Lưu Chính Phong càng nghe càng tức mình. Lão nghĩ bụng:
– Tên cuồng đồ to gan nào dám đến phủ ta mà sỗ sàng, lại vô lễ với Tinh nhi của ta?
Đệ tử thứ hai của Lưu môn là Mễ Vi Nghĩa nghe vậy vội chạy ngay vào hậu đường, thấy sư muội và Khúc Phi Yên dắt tay nhau đứng ở trong sân, một gã thanh niên áo vàng giang hai tay ra ngăn chặn hai cô. Mễ Vi Nghĩa vừa thấy sắc phục người đó thì biết ngay là đệ tử phái Tung Sơn. Không dằn được tức giận, hắng giọng một cái rồi lớn tiếng nói:
– Vị sư huynh môn hạ của phái Tung Sơn, sao không vào đại sảnh ngồi chơi?
Gã đó ngạo nghễ nói:
– Không cần đâu. Ta phụng mệnh minh chủ đứng đây canh chừng quyến thuộc của Lưu gia, không cho một người nào trốn thoát.
Câu nói dù thanh âm không lớn nhưng lại kiêu căng khác thường; quần hùng trên đại sảnh đều nghe thấy và biến đổi sắc mặt.
Lưu Chính Phong cả giận, nhìn Sử Đăng Đạt hỏi:
– Các ngươi làm trò gì vậy?
Sử Đăng Đạt nói:
– Vạn sư đệ ra đây đi, ăn nói cẩn thận một chút. Lưu sư thúc đã đồng ý không rửa tay rồi.
Hán tử ở hậu đường đáp:
– Dạ! Vậy thì hay biết mấy.
Gã nói xong, từ hậu đường đi ra, hướng về Lưu Chính Phong khẽ khom lưng nói:
– Đệ tử Vạn Đại Bình, môn hạ phái Tung Sơn, tham kiến Lưu sư thúc.
Lưu Chính Phong giận đến run người, lớn tiếng nói:
– Phái Tung Sơn có bao nhiêu đệ tử đến đây, xin mời ra mặt hết đi!
Lão vừa nói dứt lời, trên nóc nhà, ngoài cổng lớn, trong góc sảnh, trong hậu viện, trước sau trái phải, mấy chục người đồng thanh đáp:
– Đệ tử phái Tung Sơn tham kiến Lưu sư thúc.
Giọng nói của mấy chục người đồng thời cất lên, âm thanh vang dội lại rất bất ngờ khiến quần hùng đều giật mình kinh hãi. Phía trên nóc nhà có hơn mười người mình mặc áo vàng canh giữ.
Những người trong đại sảnh đều ăn mặc đủ kiểu, hiển nhiên là bọn chúng đã sớm trà trộn vào trong hơn một ngàn tân khách ngấm ngầm theo dõi Lưu Chính Phong, nên không ai phát giác được.
Định Dật sư thái là người đầu tiên không kìm được tức giận, lớn tiếng quát:
– Đây… đây là ý đồ gì? Các ngươi khinh người quá lắm!
Sử Đăng Đạt đáp:
– Xin Định Dật sư bá thứ tội cho. Sư phụ đệ tử đã truyền hiệu lệnh dù bất cứ giá nào cũng phải khuyên răn cho được Lưu sư thúc, không thể để Lưu sư thúc rửa tay gác kiếm. Sư phụ sợ Lưu sư thúc không tuân phục hiệu lệnh nên mới đắc tội như vậy.
Tiếp đó, mười mấy người từ hậu đường đi ra, gồm phu nhân của Lưu Chính Phong, hai người con cùng với bảy tên đệ tử của Lưu phủ. Sau lưng mỗi người đều có một tên đệ tử phái Tung Sơn cầm trủy thủ chĩa vào lưng từng người.
Lưu Chính Phong to tiếng nói:
– Thưa các vị bằng hữu, không phải Lưu mỗ tự ý hành động. Hôm nay, Tả sư huynh lại uy hiếp như vậy, nếu Lưu mỗ khuất phục uy lực thì còn mặt mũi nào đứng trong trời đất nữa? Tả sư huynh không cho Lưu mỗ rửa tay gác kiếm, hà hà, Lưu mỗ đầu có thể rơi nhưng ý chí không thể khuất phục.
Lão nói xong bước lên một bước, hai tay toan nhúng vào chậu vàng.
Sử Đăng Đạt liền thét to:
– Dừng lại!
Gã cầm cờ lệnh phất ra, chắn trước mặt lão. Lưu Chính Phong phóng song chỉ, đâm thẳng vào hai mắt của gã. Sử Đăng Đạt giơ tay gạt ra, Lưu Chính Phong rút tay trái lại, song chỉ tay phải lại đâm thẳng vào hai mắt của gã. Sử Đăng Đạt không sao đỡ được đành phải thối lui. Lưu Chính Phong bức gã phải lùi lại, hai tay tiếp tục nhúng xuống chậu vàng. Bỗng nghe sau lưng có tiếng gió, có hai người xông đến. Lưu Chính Phong vẫn không quay đầu lại, chân trái đá ngược về sau.
Bốp một tiếng, một tên đệ tử phái Tung Sơn đã bị đá văng xa ra. Tay phải của lão chụp ngực của một tên đệ tử khác của phái Tung Sơn rồi thuận thế nhấc bổng lên ném về hướng Sử Đăng Đạt. Chân trái lão phản cước, tay phải chụp lấy người, hai động tác này diễn ra chỉ trong nháy mắt, vị trí chuẩn xác, động tác lại nhanh nhẹn, lão đích thực là một nội gia cao thủ phi thường.
Bọn đệ tử phái Tung Sơn sửng sốt, nhất thời không ai dám tiến lên. Tên đệ tử phái Tung Sơn đứng phía sau con trai của lão la lên:
– Lưu sư thúc, nếu sư thúc không dừng tay, đệ tử sẽ giết công tử của sư thúc ngay.
Lưu Chính Phong quay đầu lại liếc nhìn con trai rồi lạnh lùng nói:
– Anh hùng thiên hạ ở đây, ngươi dám to gan đụng đến một cọng lông của hài nhi ta thì mấy chục tên đệ tử phái Tung Sơn các ngươi sẽ bị băm nát như tương.
Lão nói lời này không phải chỉ là lời hăm dọa. Nếu bọn đệ tử phái Tung Sơn thực sự làm tổn thương đến con trai của lão thì nhất định sẽ gây nên sự công phẫn; quần hùng sẽ nổi lên đánh lại thì bọn đệ tử phái Tung Sơn khó mà chạy thoát. Lão quay người, hai tay đưa về phía chậu vàng, những tưởng lần này không ai có thể cản ngăn. Bỗng nhiên, lóe sáng một cái, một ám khí nhỏ xíu bay vút đến. Lưu Chính Phong lùi hai bước, chỉ nghe keng một tiếng nhỏ, ám khí đã đánh vào thành chậu vàng. Chiếc chậu vàng bị nghiêng rồi đổ lật úp xuống đất, nước chảy ra lênh láng.
Trên nóc nhà thấp thoáng một cái bóng vàng, một người nhảy xuống, giơ chân phải đạp lên chiếc chậu khiến chậu vàng bẹp dí. Gã này khoảng bốn mươi tuổi, dáng người tầm thước, thân thể gầy đét, hai chòm râu trên môi như râu chuột, cung tay nói:
– Lưu sư huynh; tiểu đệ phụng mệnh minh chủ không cho sư huynh rửa tay gác kiếm!
Lưu Chính Phong nhận ra gã này là tứ sư đệ Phí Bân của Tả Lãnh Thiền, chưởng môn phái Tung Sơn. Y là một cao thủ nổi danh trong võ lâm, có ngoại hi ệu là Đại tung dương thủ. Lưu Chính Phong biết trong tình hình này, phái Tung Sơn trước sau gì cũng đối phó với lão, không chỉ riêng gì gã đệ tứ đại đệ tử này. Chậu vàng đã bị hắn đạp dẹp, việc rửa tay gác kiếm không thể cử hành được nữa. Trước mắt chỉ có hai con đường là tận lực chiến đấu hay cam chịu nhẫn nhục. Lão lại nghĩ: phái Tung Sơn đang nắm giữ Ngũ Nhạc minh kỳ. Bọn chúng uy hiếp người như vậy, lẽ nào hơn một ngàn anh hùng hảo hán ở đây lại không ai đứng lên nói được một câu công bằng?
Lão cung tay đáp lễ, nói:
– Phí sư huynh đến đây sao không uống một bát rượu nhạt mà lại núp trên nóc nhà để phải khổ vì trời nắng thế này? Phái Tung Sơn đã đưa nhiều cao thủ bậc nhất khác đến đây, xin mời hiện thân hết đi. Nếu đối phó với Lưu mỗ thì một mình Phí sư huynh cũng đã thừa sức rồi; còn nếu muốn đối phó với các anh hùng hào kiệt ở đây thì e rằng phái Tung Sơn không đủ sức đâu.
Phí Bân mỉm cười nói:
– Lưu sư huynh sao lại nói ra những lời khiêu khích dễ xa nhau như vậy? Cứ coi như tại hạ là địch thủ của Lưu sư huynh, tại hạ cũng không chống lại được một chiêu Tiểu lạc nhạn thức vừa rồi của Lưu sư huynh. Phái Tung Sơn quyết không dám gây hấn với các vị anh hùng hảo hán ở đây, thậm chí ngay cả Lưu sư huynh cũng không dám đắc tội. Nhưng chỉ vì tính mệnh thân gia và hàng vạn đồng đạo trong võ lâm nên tại hạ cầu mong Lưu sư huynh không nên rửa tay gác kiếm.
Gã vừa nói xong, tất cả quần hùng trên sảnh đều kinh ngạc, nghĩ thầm: Lưu Chính Phong có rửa tay gác kiếm hay không thì tại sao lại có liên can đến tính mệnh của các thân gia và hàng vạn đồng đạo trong võ lâm?
Lưu Chính Phong đáp:
– Phí sư huynh nói như vậy, chẳng phải là đã quá đề cao tiểu đệ ư? Lưu mỗ chỉ là một kẻ tầm thường trong phái Hành Sơn, con cái còn nhỏ, môn hạ cũng chỉ thu được tám chín tên đệ tử không thành tài, thực sự không đủ để đánh giá hơn thua. Nhất cử nhất động của Lưu mỗ làm sao có thể liên quan đến tính mệnh thân gia và hàng vạn đồng đạo trong võ lâm?
Định Dật sư thái nói xen vào:
– Đúng vậy! Lưu hiền đệ rửa tay gác kiếm để đi làm một chức quan nhỏ như hạt đậu, thực sự mà nói, bần ni cũng thấy rất uổng phí. Nhưng mỗi người đều có chí hướng riêng, hiền đệ muốn thăng quan phát tài, chỉ cần không làm hại đến trăm họ, không làm bại hoại nghĩa khí đồng đạo võ lâm thì người ngoài cũng không thể cản trở được. Ta thấy Lưu hiền đệ cũng không có bản lĩnh to tát để có thể làm hại nhiều đồng đạo trong võ lâm.
Phí Bân nói:
– Định Dật sư thái, sư thái là người tu hành trong Phật môn tất nhiên không hiểu rõ được mánh lới ma giáo của người khác. Nếu cái mưu đồ lớn lao này mà trót lọt, không những đồng đạo trong võ lâm bị hại vô số kể mà trăm họ lương thiện trong thiên hạ còn bị vạ lây. Xin các vị nghĩ xem, Lưu tam gia phái Hành Sơn là một bậc anh hùng hào kiệt lừng danh trên giang hồ, tại sao có thể cam tâm hạ mình đi làm một cẩu quan hẹp hòi bẩn thỉu như vậy? Gia sản của Lưu tam gia lắm của nhiều tiền, còn muốn thăng quan phát tài nữa làm gì? Trong chuyện này, tất còn có nguyên nhân không thể nói cho người khác biết được.
Quần hùng nghĩ bụng: Gã nói cũng có lý. Ta đã sớm hoài nghi một con người như Lưu Chính Phong lại đi làm chức quan võ nhỏ bé như vậy thật là chẳng ra trò trống gì cả.
Lưu Chính Phong chẳng những không giận mà còn cười, nói:
– Phí sư huynh, sư huynh muốn ngậm máu phun người cũng nên xem lời nói có đúng vậy không. Các vị sư huynh khác của phái Tung Sơn xin mời hiện thân ra đi.
Chỉ nghe phía Đông, phía Tây, trên nóc nhà đồng loạt có tiếng người đáp:
– Được!
Hai cái bóng vàng thoáng qua, hai người đã đứng trước cửa sảnh đường, công phu khinh thân của họ cũng giống như Phí Bân nhảy xuống vừa rồi. Gã đứng phía Đông là một người mập mạp, cao to bệ vệ. Bọn Định Dật sư thái nhận ra gã là nhị sư đệ Thác tháp thủ Đinh Miễn của chưởng môn nhân phái Tung Sơn. Gã đứng phía Tây gầy nhom như cây tre là Tiên hạc thủ Lục Bách, ngồi ghế thứ ba trong phái Tung Sơn. Hai người cùng cung tay nói:
– Xin chào Lưu tam gia, xin chào các vị anh hùng.
Hai gã Đinh Miễn và Lục Bách trong võ lâm uy danh vang lừng, quần hùng đều đứng dậy đáp lễ. Họ thấy các tay cao thủ của phái Tung Sơn lần lượt đến thì trong lòng ngấm ngầm lo ngại, biết chuyện hôm nay không dễ gì êm xuôi được, chỉ sợ Lưu Chính Phong khó lòng tránh khỏi thất bại.
Định Dật sư thái nói với giọng tức giận:
– Lưu hiền đệ, hiền đệ không cần phải sợ hãi. Chuyện thiên hạ không thể qua được chữ “lý”, đừng nhìn người ta có thế đông người mà sợ. Lẽ nào bằng hữu các phái Thái Sơn, Hoa Sơn, Hằng Sơn đến đây lại để mặc ai muốn làm gì thì làm sao?
Lưu Chính Phong cười với vẻ khổ não, nói:
– Định Dật sư thái, chuyện này vốn là chuyện của phái Hành Sơn, nói ra thật xấu hổ, lại làm cho các vị bằng hữu phải bận tâm. Bây giờ, Lưu mỗ đã hiểu rồi. Chắc là Mạc Đại sư ca của Lưu mỗ đã đưa cáo trạng lên Tả minh chủ phái Tung Sơn, nói Lưu mỗ làm nhiều chuyện không hay không phải, để các huynh đệ phái Tung Sơn đến đây hỏi tội. Được lắm, được lắm, Lưu mỗ thất lễ nhiều với Mạc sư ca, để Lưu mỗ nhận tội với Mạc sư ca là xong.
Phí Bân đưa mắt đảo khắp đại sảnh một lượt, ánh mắt của gã tạo thành một làn tinh quang sáng chói, rõ ràng là nội công rất thâm hậu. Gã nói:
– Việc này tại sao lại có liên quan đến Mạc Đại tiên sinh? Xin mời Mạc Đại tiên sinh ra đây để cho mọi người hiểu rõ.
Gã nói mấy câu này xong, đại sảnh lặng yên như tờ, một lúc sau cũng không thấy Tiêu Tương dạ vũ Mạc Đại tiên sinh xuất hiện.
Lưu Chính Phong cười nhăn nhó nói:
– Sư huynh sư đệ Lưu mỗ bất hòa, các vị bằng hữu trong võ lâm đều biết rồi thì cũng không nên giấu giếm làm chi nữa. Tiểu đệ nhờ di sản của tiền nhân để lại, nên trong phủ tương đối sung túc, còn Mạc sư huynh thì gia cảnh lại bần hàn. Đã là bằng hữu với nhau thì tiền tài là chuyện bình thường, huống hồ lại là sư huynh sư đệ? Nhưng Mạc sư ca lại tỵ hiềm điều này, tuyệt đối không bước chân đến nhà tiểu đệ. Sư huynh sư đệ Lưu mỗ đã nhiều năm không qua lại, không gặp nhau thì hôm nay Mạc sư ca dĩ nhiên không quang lâm rồi. Lòng Lưu mỗ không phục ở chỗ là Tả minh chủ chỉ nghe lời nói một bên của Mạc sư ca mà phái nhiều vị sư huynh đến để đối phó với tiểu đệ; ngay cả hiền thê và nhi tử của Lưu mỗ cũng đều trở thành tù nhân dưới thềm kia. Vậy… vậy đây không phải là chuyện nhỏ mà xé ra to ư?
*****
Nguồn: truyenkimdung


