Lệnh Hồ Xung giật mình kinh hãi, không hiểu do đâu công lực trong mấy tháng vừa qua lại tiến nhanh đến nỗi kiếm đâm sâu vào vách đá ngập đến tận chuôi. Nội lực trên lưỡi kiếm phải cao thâm đến bậc nào mới có thể sử kiếm đâm vào đá như đâm vào cây mục chứ? Cả sư phụ sư nương cũng chưa chắc sử kiếm được như vậy. Chàng ngây người một lúc rồi rút lưỡi kiếm ra, có cảm giác như vách đá này rất mỏng, chỉ dày khoảng hai ba tấc là đến khoảng không, sau vách đá là một hang động.
Lệnh Hồ Xung nổi tính hiếu kỳ, liền vung kiếm đâm thêm một nhát nữa. Cách một tiếng, lưỡi kiếm gãy làm hai. Thì ra lần này hắn vận nội kình không đủ, ngay cả vách đá khoảng hai ba tấc cũng không cách nào đâm xuyên qua được. Hắn chửi tục một câu, ra ngoài động ôm lấy một tảng đá to vận lực ném vào vách đá. Tảng đá ném thật mạnh, sau vách đá nghe loáng thoáng có tiếng động truyền đến, hiển nhiên ở sau là một khoảng không khá rộng. Hắn vận nội lực ném tiếp, bỗng nghe đùng một tiếng, tảng đá bay xuyên qua vách đá rớt xuống nghe tiếng lạch cạch không dứt, hình như tảng đá không ngừng lăn đi.
Lệnh Hồ Xung phát hiện sau vách đá còn có một cái động khác, trong thoáng chốc nỗi phiền muộn chất chứa đầy lòng đều tan mất. Chàng lại đi bê đá ném vào mấy lần nữa, vách đá bị thủng một lỗ lớn, có thể chui đầu qua. Chàng lại bê đá ném thêm lên vách đá cho cái lỗ rộng ra rồi đốt lửa lên, chui sang. Hóa ra bên trong là một cái hang hẹp. Lúc chàng cúi đầu nhìn, đột nhiên toàn thân toát mồ hôi. Dưới chân có một bộ xương khô nằm đó.
Tình cảnh này vượt quá sức liệu đoán. Chàng định thần lại, nghĩ thầm: Lẽ nào đây là ngôi mộ cổ của tiền nhân? Nhưng sao bộ xương này không nằm ngay mà lại phủ phục xuống như thế này? Nhìn kiểu dáng bộ xương như vậy thì cái hang nhỏ hẹp này quyết không phải là lối vào nhà mồ.
Lệnh Hồ Xung cúi xuống nhìn bộ xương, thấy áo của người chết đã mục nát hết, bên bộ xương còn đặt hai cây búa to phản chiếu ánh sáng khi ánh lửa rọi vào.
Lệnh Hồ Xung nhặt cây búa lên, thấy nặng khoảng hơn bốn mươi cân. Chàng nhấc búa chém vào vách đá bên cạnh; cạch một tiếng, một tảng đá to rơi xuống. Chàng ngẩn người ra, nghĩ: Cây búa này bén như vậy, không phải là vật tầm thường, nhất định là khí giới của một vị tiền bối trong võ lâm.
Lệnh Hồ Xung lại thấy chỗ vết búa chém rất ngọt, ngoài ra, vách đá còn có nhiều vết đao, vết búa khác chém vào. Chàng tập trung suy nghĩ một lát, bất giác ngẩn người ra, rồi cầm đuốc theo con đường đi xuống. Trong hang đầy những vết búa chém, Lệnh Hồ Xung kinh hãi nghĩ: Thì ra hang này là do người dùng búa phá để mở đường ra. Đúng rồi, người này bị giam cầm trong lòng núi, nên dùng búa phá núi để thoát thân, nhưng không đủ sức, chỉ còn cách động vài tấc thì đã kiệt sức mà chết. Ôi, quả là số mệnh người này rất xui xẻo.
Chàng đi thêm mười trượng nữa, vẫn chưa tới đầu hang bên kia, lại nghĩ: Người này phá núi mở đường được thì chắc chắn nghị lực rất sắt đá, võ công rất cao cường, thật xưa nay hiếm có.
Bất giác chàng sinh lòng khâm phục. Chàng đi thêm vài bước nữa, thấy dưới đất có hai bộ xương khô, một bộ ngồi tựa vào vách, bộ kia nằm khoanh tròn lại. Lệnh Hồ Xung thầm nghĩ: Thì ra bị giam trong núi không phải chỉ có một người.
Lệnh Hồ Xung lại nghĩ: Nơi này là đất cấm của phái Hoa Sơn ta, người ngoài không dễ đến được. Chẳng lẽ các bộ xương này đều là các vị tiền bối vi phạm môn quy của phái Hoa Sơn bị giam cho đến chết ở đây?
Lệnh Hồ Xung đi thêm vài trượng rồi thuận đường quay người sang hướng trái. Trước mắt chàng hiện ra một thạch động rất lớn có thể chứa đủ một ngàn người, trong động lại có bảy bộ xương ngồi nằm khác nhau, bên cạnh bộ xương nào cũng có khí giới. Khí giới gồm một cặp thiết bài, một cặp phán quan bút, một cây thiết côn, một cây thục đồng côn, một thứ giống như lưỡi tầm sét, một thứ là thanh đao hai lưỡi có ba răng nhọn hoắt như răng chó sói, một thứ có lưỡi không giống đao cũng chẳng giống kiếm, xưa nay chàng chưa bao giờ gặp qua. Lệnh Hồ Xung nghĩ thầm: Những người sử dụng các thứ khí giới kỳ lạ và người sử dụng hai cây búa quyết không phải là đệ tử của bổn môn.
Cách đó không xa, dưới đất có khoảng mười thanh trường kiếm. Lệnh Hồ Xung nhặt lên một thanh, thấy cây kiếm ngắn hơn kiếm thường nhưng lưỡi lại lớn gấp đôi, cầm nghe rất nặng. Chàng nghĩ: Đây là kiếm của phái Thái Sơn.
Lệnh Hồ Xung xem một thanh khác thấy nhẹ và mềm, chính là khí giới của phái Hằng Sơn; có thanh hình bán nguyệt, là một trong ba loại trường kiếm mà phái Hành Sơn sử dụng; có thanh lưỡi không có sống, mũi kiếm rất nhọn và vô cùng sắc bén, là thứ khí giới mà vài vị tiền bối của phái Tung Sơn thích dùng. Còn ba thanh kiếm kia xem chiều dài, độ nặng chính là kiếm của bổn môn. Chàng càng lúc càng hoang mang: Tại sao ở đây có nhiều khí giới của Ngũ Nhạc kiếm phái?
Lệnh Hồ Xung cầm đuốc soi bốn vách động, chỉ thấy trên vách đá bên phải cách mặt đất mấy trượng có một tảng đá lớn giống như một cái bệ, trên vách có khắc mười sáu chữ lớn:
Ngũ Nhạc kiếm phái
Vô sỉ hạ lưu
Tỉ võ bất thắng
Ám toán hại nhân
Tạm dịch là:
Than ôi, Ngũ Nhạc kiếm phái
Toàn quân vô sỉ, hạ lưu
Đánh nhau đã không thủ thắng
Ngấm ngầm dùng mẹo hại người
Bốn chữ xếp thành một hàng, tất cả có bốn hàng, mỗi chữ dài hơn một thước được khắc sâu vào vách đá. Người xưa đã dùng thứ khí giới cực kỳ bén nhọn để khắc, vết khắc sâu đến mấy tấc. Mười sáu chữ này trông rất oai phong, tựa hồ như bạt kiếm giương cung. Lại thấy bên cạnh mười sáu chữ lớn khắc vô số chữ nhỏ, nào là: “Đê hèn vô lại; thật đáng sỉ nhục; khiếp nhược; hèn hạ…” toàn là những câu nguyền rủa hoặc thóa mạ. Lệnh Hồ Xung xem xong, tức cành hông, nghĩ bụng: Thì ra những người này bị Ngũ Nhạc kiếm phái ta giam cầm ở đây. Họ quá phẫn uất, không thể chửi cho ai nghe được bèn khắc lên vách đá những lời thóa mạ người khác. Hành động này mới đúng là quân đê hèn vô sỉ.
Chàng lại nghĩ tiếp: Không biết họ là người như thế nào? Đã là thù địch với Ngũ Nhạc kiếm phái tất chẳng phải người tốt lành gì.
Lúc Lệnh Hồ Xung cầm đuốc rọi lên vách đá còn thấy khắc một hàng chữ: “Phạm Tùng, Triệu Hạt phá kiếm pháp Hằng Sơn ở đây”. Bên hàng chữ này có vô số đồ hình: cứ hai người là một đồ hình, một người sử kiếm còn người kia sử búa. Chỉ đếm sơ qua, ít nhất cũng có năm sáu trăm đồ hình, hiển nhiên là người sử búa đang phá giải kiếm pháp của người sử kiếm.
Bên cạnh những đồ hình lại xuất hiện một hàng chữ: “Trương Thừa Vân, Trương Thừa Phong tận phá Hoa Sơn kiếm pháp”. Lệnh Hồ Xung đùng đùng nổi giận, chửi thầm: Quả là bọn chuột nhắt vô liêm sỉ, to gan ngông cuồng! Kiếm pháp Hoa Sơn ta tinh vi ảo diệu, trong thiên hạ mấy ai có thể chống đỡ được, một chữ “phá” cũng không dám nói, càng không có ai dám nói hai chữ “tận phá” bao giờ.
Chàng lượm thanh trường kiếm của phái Thái Sơn lên, vận nội lực để chém bạt hàng chữ xấc láo này. Choang một tiếng, tia lửa văng tung tóe, chữ “tận” bị chém mất một góc, nhưng từ nhát kiếm này, chàng nhận ra vách đá vô cùng cứng rắn, muốn xóa những đồ hình và chữ khắc trên vách đá dù có lợi khí cũng không dễ xóa được.
Lệnh Hồ Xung định thần lại, nhìn hàng chữ bên đồ hình. Hình người sử kiếm tuy chỉ được phác họa vài nét rất sơ sài, nhưng cũng có thể nhận ra chính là chiêu Hữu phụng lai nghi thuộc kiếm pháp căn bản của bổn môn; thế kiếm bay lượn phát ra nhẹ nhàng linh động. Chiêu này đang chiết giải với hình người trong tay cầm một thứ khí giới thẳng đuột, không biết nó là côn hay là trường mâu. Thứ khí giới thẳng đuột này chỉ vào mũi kiếm của đối phương với tư thế chậm chạp dị thường. Lệnh Hồ Xung lạnh lùng cười hề hề, thầm nghĩ: Chiêu Hữu phụng lai nghi này của bổn môn còn ẩn giấu năm tuyệt chiêu nữa, chiêu thức vụng về của ngươi làm sao có thể phá giải được?
Nhưng chàng xem lại hình người trong bức đồ hình cầm khí giới thẳng đuột giống như cây côn đang thuận thế phóng vào mũi kiếm của người ra chiêu Hữu phụng lai nghi. Chiêu Hữu phụng lai nghi cứ một chiêu thì có năm chiêu kế tiếp nhưng cây côn của người kia dường như tiềm ẩn đến sáu bảy chiêu kế tiếp, rất có khả năng đối phó với những chiêu tiếp theo của Hữu phụng lai nghi.
Lệnh Hồ Xung chăm chú nhìn những nét khắc sơ sài tạc hình người giao đấu, vừa sợ hãi vừa kỳ dị, nghĩ: Chiêu Hữu phụng lai nghi của bổn môn, chiêu số rất tầm thường nhưng uy lực rất lợi hại; địch thủ biết mà đỡ gạt né tránh thì không sao, nếu họ cố gắng chiết giải tất sẽ thất bại. Nhưng chiêu côn kia của đối phương thực sự có thể phá được chiêu Hữu phụng lai nghi của phái ta. Đây… đây… đây…
Lệnh Hồ Xung từ chỗ kinh hãi ngạc nhiên chuyển sang khâm phục, lòng không kìm được nỗi lo sợ. Chàng ngây người nhìn hai đồ hình này không biết bao lâu, bỗng nhiên cảm thấy tay phải đau rát. Thì ra bó đuốc đã cháy đến tận tay. Chàng vội liệng bó đuốc đi, nghĩ bụng: Bó đuốc đã cháy hết rồi, trong động tối đen như mực.
Lệnh Hồ Xung vội chạy đến trước động, lấy mười mấy nhánh tùng khô làm đuốc rồi chạy vào trong động, đốt lửa lên. Chàng vẫn nhìn hai hình người này rồi nghĩ thầm: Nếu công lực của người sử côn kia tương đương với người sử kiếm của bổn môn thì người sử kiếm của bổn môn không khéo sẽ bị thương mất. Nếu công lực của đối phương cao hơn thì lúc hai thứ khí giới giao nhau, người sử kiếm bổn môn lập tức mất mạng ngay. Chiêu Hữu phụng lai nghi của phái ta… đích thực đã bị người ta phá rồi, không còn nghi ngờ gì nữa.
Lệnh Hồ Xung nghiêng đầu nhìn đồ hình thứ hai, thấy người sử kiếm của bổn môn sử chiêu Thương tùng nghênh khách. Tinh thần chàng chấn động. Năm xưa, Lệnh Hồ Xung luyện chiêu này mất một tháng mới xong, trở thành một tuyệt chiêu lúc lâm địch. Chàng có chút hoảng sợ, chỉ e chiêu này lại bị người phá giải được. Chàng nhìn hình người sử côn lại thấy trong tay y có đến năm cây côn phân ra đánh vào năm bộ vị dưới hạ bàn của hình người sử kiếm. Lệnh Hồ Xung ngây người ra hỏi: Sao lại có đến năm cây côn? Nhưng khi xem kỹ tư thế của hình người sử côn, hắn liền hiểu ra: Đây không phải là năm cây côn mà vì trong nháy mắt y liên tục phóng ra năm phát nhắm vào năm chỗ trong hạ bàn của đối phương. Nhưng y nhanh ta cũng nhanh, chưa chắc kịp phóng ra liên tiếp năm côn được đâu. Chiêu Thương tùng nghênh khách chắc y phá giải không nổi.
Chàng đang ra chiều tự đắc, bỗng nhiên lại ngẩn người ra rồi tự hỏi: Nếu y không liên tục xuất ra năm côn mà chỉ đánh một côn vào một phương vị nào đó thì ta làm sao né tránh đây?
Lệnh Hồ Xung nhặt một thanh trường kiếm của bổn môn, sử chiêu Thương tùng nghênh khách, lại xem kỹ đồ hình trên vách đá, tưởng tượng bị côn của đối phương đánh đến. Nếu biết được đối phương đánh vào chỗ nào thì tự mình có cách để đối phó, nhưng cây côn của đối phương có thể đánh vào bất kỳ bộ vị nào cũng được, lúc đó trường kiếm của mình đã đâm ra ngoài thì chắc thu về không kịp. Trừ khi chiêu kiếm này phóng ra đâm chết đối phương trước, nếu không thì hạ bàn của mình tất bị đánh trúng. Nhưng đối phương đã là cao thủ, há có thể hy vọng một kiếm mà đâm chết được sao? Nhìn thấy thế địch nhân hạ thấp vai xuống, chân bước tới thì nhất định trong đường tơ kẽ tóc, sẽ né được chiêu kiếm của mình. Chiêu kiếm này mà bị đối phương né được rồi phản công lại thì không thể tránh vào đâu được. Như vậy tuyệt chiêu Thương tùng nghênh khách của phái Hoa Sơn há không phải đã bị người phá được rồi sao?
Lệnh Hồ Xung hồi tưởng lại ba lần ra chiêu Thương tùng nghênh khách đều thủ thắng. Nếu đối phương thấy đồ hình trên vách đá, biết dùng chiêu này mà phản kích, dù sử côn, sử thương, sử mâu, sử gậy thì mình cũng đã mất mạng rồi, còn đâu thằng Lệnh Hồ Xung tồn tại trên thế gian này nữa?
Lệnh Hồ Xung càng nghĩ càng kinh hãi, trán toát mồ hôi hột, lẩm bẩm: Không phải, không phải. Nếu chiêu Thương tùng nghênh khách thật sự có cách phá giải như thế này thì sao sư phụ không biết? Sao sư phụ không cho ta biết trước?
Đối với chiêu Thương tùng nghênh khách, chàng rất tinh thục yếu quyết song nhìn thấy hình người sử năm cây côn cực kỳ lợi hại, tuy trên vách chỉ vẽ hình năm cây côn rất ngắn nhưng mỗi cây lại dường như đánh mạnh vào đùi, vào chân.
Chàng lại xem phía dưới, thấy vách đá khắc toàn những tuyệt chiêu của bổn môn mà đối phương cũng sử toàn chiêu cực kỳ xảo diệu hiểm ác để phá. Lệnh Hồ Xung càng xem càng sợ hãi. Lúc xem đến chiêu Vô biên lạc mộc thấy cây côn của đối phương phản chiêu yếu ớt như không có chút sức lực nào, chỉ thủ chứ không công, bất giác chàng thở phào một cái rồi nghĩ: Chiêu này ngươi phá không được rồi.
Lệnh Hồ Xung nhớ lại tháng chạp năm ngoái, sư phụ thấy tuyết rơi phất phơ nhiều nên rất cao hứng, bèn tập hợp bọn đệ tử lại để giảng luận về kiếm pháp. Sau cùng, sư phụ thi triển chiêu Vô biên lạc mộc, chiêu kiếm của sư phụ rất thần tốc, đường kiếm lấp loáng trên không giống như những đóa hoa tuyết tung bay, ngay cả đến sư nương cũng vỗ tay khen ngợi. Bà nói: “Sư ca, tiểu muội chịu phục sư ca chiêu kiếm này rồi; phái Hoa Sơn phải có sư ca làm chưởng môn nhân là đúng rồi”. Sư phụ cười nói: “Người đứng đầu phái Hoa Sơn phải dựa vào đức chứ không dựa vào lực, chưa chắc sử được một chiêu kiếm thuần thục như vậy thì có thể làm được chưởng môn nhân”. Sư nương cười nói: “Xấu hổ quá! Đức hạnh của sư ca cao hơn tiểu muội sao?” Sư phụ cười cười không nói nữa. Sư nương hiếm khi chịu phục ai, thường thích cùng với sư phụ tranh thắng, thế mà bà phải phục chiêu Vô biên lạc mộc thì phải biết nó lợi hại biết chừng nào. Sau đó, sư phụ giảng giải chiêu thức này được đặt tên từ một câu trong Đường thi, gọi là Vô biên lạc mộc gì gì đó, sư phụ có đọc qua nhưng chàng không nhớ rõ. Lá trên trăm ngàn cây cổ thụ rơi xuống bay chầm chậm trong gió, chiêu kiếm pháp này hầu như chiếu cố đến cả bốn phương tám hướng.
Chàng lại nhìn tiếp hình người sử côn nhưng thấy y đứng ở tư thế co rúm trông rất khó coi, chiêu số cũng chẳng ra chương pháp nào cả. Lệnh Hồ Xung cảm thấy nực cười. Bỗng nhiên, nét mặt đang tươi cười của chàng sựng lại; hắn thấy lạnh đến tận xương tủy. Lệnh Hồ Xung nhìn chằm chằm vào cây côn trong tay người đó, càng nhìn càng cảm thấy đầu côn ra chiêu cực kỳ xảo diệu. Chiêu Vô biên lạc mộc phóng ra chín chiêu, mười chiêu, mười một, mười hai chiêu; mỗi thế kiếm đều nhằm đâm vào côn. Ngược lại, cây côn này lúc mới nhìn qua thấy ra chiêu rất vụng về, nhìn kỹ lại rất xảo diệu; hình người trông yếu ớt nhưng thực ra rất mạnh mẽ. Người sử côn dùng cách lấy tĩnh chế động, lấy cái vụng về chế cái tinh xảo.
Trong chốc lát, niềm tin của chàng đối với võ công bổn phái hoàn toàn mất hết. Lệnh Hồ Xung cảm thấy dù mình có luyện được kiếm thuật bổn môn tinh diệu bằng sư phụ mà gặp phải người sử côn này cũng chẳng khác gì bị người khác cột tay trói chân không còn cách gì để kháng cự, vậy thì kiếm thuật của bổn môn có học đến đâu cũng vô dụng thôi. Chẳng lẽ kiếm thuật của phái Hoa Sơn thực không thể chống nổi một đòn của đối phương sao? Trước mắt, những bộ xương ở trong động đã mục rã lâu rồi, ít nhất cũng ba bốn chục năm, vậy mà sao đến nay Ngũ Nhạc kiếm phái vẫn còn xưng hùng trên giang hồ, chưa từng nghe nói đến kiếm pháp của một phái nào bị người khác phá giải? Nhưng nếu nói những đồ hình trên vách đá chẳng qua chỉ là đấu nhau trên giấy thì cũng không phải. Để xem kiếm pháp của phái Tung Sơn có bị người khác phá hay không. Nhưng chàng biết rõ kiếm pháp phái Hoa Sơn nếu bất ngờ gặp phải những chiêu số cực kỳ cao minh của đối phương thì cũng chỉ còn con đường thất bại mà thôi.
Lệnh Hồ Xung như bị ai điểm trúng huyệt đạo. Chàng đứng trơ bất động, từng ý nghĩ xuất hiện rồi lại tan biến ngay. Không biết trải qua bao lâu, bỗng nghe tiếng người gọi:
– Đại sư ca, đại sư ca! Đại sư ca đang ở đâu vậy?
Lệnh Hồ Xung giật mình, từ trong thạch động vội chạy ra con đường hẹp rồi chui qua lỗ hổng, trở lại sơn động của mình. Nghe tiếng Lục Đại Hữu từ ngoài sườn núi vọng lại, Lệnh Hồ Xung từ trong động chạy ra, đi vòng về phía sau sườn núi đến tảng đá lớn, ngồi xếp bằng ngay ngắn rồi nói:
– Ta đang ngồi luyện công ở đây. Lục sư đệ, có chuyện gì vậy?
Lục Đại Hữu nghe tiếng liền chạy đến, vui mừng nói:
– Đại sư ca ở đây ư? Tiểu đệ đem cơm lên cho đại sư ca đây.
Lệnh Hồ Xung quan sát các chiêu số trên vách đá từ lúc bình minh. Chàng để hết tâm trí vào các bức đồ hình, không biết thời gian trôi qua nhanh, bây giờ đã sau giờ Ngọ rồi. Sơn động là nơi chàng đến để tĩnh tâm ăn năn sám hối tội lỗi của mình; Lục Đại Hữu không dám tự tiện đi vào. Sơn động này rất hẹp, vừa nhìn không thấy Lệnh Hồ Xung ở trong, gã liền đến bên sườn núi tìm kiếm.
Lệnh Hồ Xung thấy trên trán của Lục Đại Hữu có dán một miếng thuốc lớn, máu rỉ ra thấm qua miếng thuốc dán, rõ ràng là gã bị thương không nhẹ, vội hỏi:
– Ui chao! Mặt mũi sư đệ bị sao vậy?
Lục Đại Hữu nói:
– Sáng nay tiểu đệ luyện kiếm không cẩn thận, lúc rút kiếm lại lỡ rạch một đường, thật đáng xấu hổ.
Lệnh Hồ Xung thấy vẻ mặt của gã vừa xấu hổ vừa tức giận, đoán rằng có lý do khác, bèn nói:
– Lục sư đệ, sư đệ bị thương ra sao? Chẳng lẽ ngay cả ta, sư đệ cũng muốn nói dối sao?
Lục Đại Hữu đùng đùng nổi giận nói:
– Đại sư ca, tiểu đệ đâu dám nói dối đại sư ca, chỉ vì sợ đại sư ca nổi nóng nên không dám nói thật mà thôi.
Lệnh Hồ Xung lấy làm lạ. Sư huynh sư đệ trong bổn môn xưa nay đối với nhau rất hòa nhã, không bao giờ có chuyện đánh lộn hoặc tỉ đấu đến đổ máu. Lẽ nào có địch nhân bên ngoài lên núi?
Lệnh Hồ Xung nói:
– Ai đã làm cho sư đệ bị thương?
Lục Đại Hữu nói:
– Sáng nay, tiểu đệ và Lâm sư đệ luyện kiếm. Hắn mới vừa học xong chiêu Hữu phụng lai nghi, tiểu đệ sơ ý bị hắn vạch kiếm lên mặt làm bị thương.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Bọn sư huynh sư đệ tập dượt kiếm pháp với nhau, gặp lúc lỡ tay làm bị thương là chuyện bình thường, không nên để bụng làm gì. Lâm sư đệ mới học kiếm pháp nên thu phát chiêu chưa theo ý muốn, trách hắn làm sao được, chắc tại Lục sư đệ vô ý mà thôi. Uy lực của chiêu Hữu phụng lai nghi không nhỏ, phải cẩn thận ứng phó mới được.
Lục Đại Hữu nói:
– Đúng vậy, nhưng tiểu đệ làm sao ngờ được… Gã họ Lâm nhập môn mới được vài tháng mà đã luyện được chiêu Hữu phụng lai nghi; còn tiểu đệ bái sư đã trên năm năm rồi, sư phụ mới bảo đại sư ca truyền cho tiểu đệ một chiêu.
Lệnh Hồ Xung hơi sững sờ, lòng nghĩ Lâm sư đệ mới nhập môn mấy tháng mà đã được học xong chiêu Hữu phụng lai nghi thì quả là hắn tiến bộ quá nhanh. Nếu không phải trời phú cho hắn thông minh tài trí hơn người, hắn chưa học xong căn bản đã cầu sự thành đạt nhanh như vậy thì ngày sau sẽ rất tai hại cho việc luyện công. Không biết tại sao sư phụ lại truyền cho hắn nhanh như vậy?
Lục Đại Hữu lại nói:
– Tiểu đệ thấy chiêu này thì giật mình kinh hãi liền bị hắn đả thương. Đã vậy tiểu sư muội còn đứng bên cạnh vỗ tay reo lên: “Lục hầu nhi, ngay cả đồ đệ của tiểu muội mà Lục sư ca cũng đánh không lại, sau này còn dám ra oai trước mặt tiểu muội nữa không?” Gã tiểu tử họ Lâm đó tự biết mình có lỗi nên chạy đến định buộc vết thương cho tiểu đệ liền bị tiểu đệ đá cho lộn nhào. Tiểu sư muội giận nói: “Lục hầu nhi, người ta có lòng tốt muốn băng bó vết thương cho Lục sư ca, sao Lục sư ca lại đánh người ta? Phải chăng Lục sư ca thẹn quá mà hóa giận?” Đại sư ca, thì ra tiểu sư muội lén lút truyền cho hắn chiêu Hữu phụng lai nghi này.
Lệnh Hồ Xung nghe đến đây, lòng đau như cắt. Chiêu Hữu phụng lai nghi này rất khó luyện vì nó biến hóa rất phức tạp, lại tiềm tàng nhiều bí quyết. Tiểu sư muội đã dạy Lâm sư đệ chiêu kiếm pháp này nhất định cô rất hao tâm tổn sức, mất nhiều công phu. Hóa ra những ngày cô ta không lên núi là những ngày ở gần Lâm sư đệ.
Bản tính Nhạc Linh San hiếu động, không bao giờ chịu nhẫn nại làm những chuyện tỉ mỉ. Cô ta lại cương cường hiếu thắng, tự luyện kiếm cho mình thì được còn muốn dạy cho ai thì người đó khó mà mong được cô ta hết lòng chỉ điểm. Vậy mà bây giờ, cô lại đem chiêu Hữu phụng lai nghi biến hóa phức tạp truyền cho Lâm Bình Chi đủ biết cô ta yêu mến gã sư đệ này biết chừng nào. Trải qua một lúc lâu, Lệnh Hồ Xung mới bình tĩnh lại, thản nhiên hỏi:
– Sư đệ sao lại đi luyện kiếm với Lâm sư đệ?
Lục Đại Hữu đáp:
– Ngày hôm qua, tiểu đệ và đại sư ca nói với nhau mấy câu đó, tiểu sư muội có vẻ không vui, dọc đường xuống núi cô ta cứ cằn nhằn tiểu đệ, sáng sớm hôm nay lại kéo tiểu đệ đi cùng với Lâm sư đệ chiết chiêu. Tiểu đệ không chút cảnh giác, cứ nghĩ chiết chiêu là chuyện bình thường. Nào ngờ tiểu sư muội ngấm ngầm dạy cho tên tiểu tử họ Lâm mấy tuyệt chiêu; tiểu đệ ra tay sơ ý bị trúng đòn hại ngầm của hắn.
Lệnh Hồ Xung càng nghe càng hiểu rõ mọi chuyện. Nhất định là trong những ngày này, Nhạc Linh San và Lâm Bình Chi rất thân thiết với nhau mà Lục Đại Hữu lại rất yêu mến mình nên gã thấy chướng mắt; không kìm được giận đã thốt ra những lời châm chọc, thậm chí còn sinh sự nhục mạ Lâm Bình Chi. Chàng bèn hỏi:
– Sư đệ thóa mạ Lâm sư đệ mấy lần rồi phải không?
Lục Đại Hữu hằn học đáp:
– Tiểu đệ không chửi cái thứ mặt trắng đê tiện vô liêm sỉ đó thì còn chửi ai? Hắn thấy tiểu đệ thì sợ lắm; tiểu đệ chửi hắn, hắn không bao giờ dám mở miệng cãi lại, vừa thấy tiểu đệ liền lủi đi chỗ khác. Không ngờ tên tiểu tử này lại thâm hiểm như vậy. Hừ, hắn thì có được mấy hơi, nếu không có tiểu sư muội đứng sau lưng làm hậu thuẫn thì tên tiểu tử này làm sao đả thương tiểu đệ nổi?
Lệnh Hồ Xung lúc này đau khổ, tức giận đến cùng cực. Chàng nhớ lại chiêu côn chuyên đả phá tuyệt chiêu Hữu phụng lai nghi khắc trên vách đá trong hậu động, liền lượm một cành cây dưới đất, tiện tay đưa ra một tư thế ra hiệu, định truyền lại chiêu này cho Lục Đại Hữu. Nhưng chàng lại chuyển ý, nghĩ bụng: Lục sư đệ đang căm hận tên tiểu tử họ Lâm. Nếu lục sư đệ ra chiêu nhất định sẽ làm gã họ Lâm bị trọng thương; sư phụ và sư nương sẽ truy xét ra thì cả mình và Lục sư đệ nhất định sẽ bị trừng phạt nặng. Chuyện này vạn lần không thể làm được.
Lệnh Hồ Xung liền nói:
– Một lần thất bại, một lần khôn ra, về sau đừng mắc bẫy hắn nữa là yên thân. Mình là sư huynh sư đệ với nhau, lúc cùng nhau chiết chiêu, những chuyện thắng bại nho nhỏ đừng để bụng làm gì.
Lục Đại Hữu nói:
– Đúng. Nhưng đại sư ca ơi, tiểu đệ có thể không để bụng, còn đại sư ca… đại sư ca lại có thể làm ngơ được sao?
Lệnh Hồ Xung biết gã nói đến chuyện Nhạc Linh San, lại cảm thấy trong lòng quặn đau dữ dội, da mặt co rúm lại.
Lục Đại Hữu vừa nói ra liền biết câu nói của mình đã khiến cho đại sư ca đau lòng. Gã cuống quýt:
– Tiểu đệ… tiểu đệ đã nói sai rồi.
Lệnh Hồ Xung cầm tay gã ôn tồn nói:
– Lục sư đệ đâu có nói sai. Sao ta có thể làm ngơ được? Nhưng… nhưng…
Chàng ngừng một lát rồi nói tiếp:
– Lục sư đệ! Từ nay về sau, chúng ta đừng đề cập đến chuyện này nữa.
Lục Đại Hữu nói:
– Dạ! Đại sư ca, đại sư ca đã từng dạy cho tiểu đệ chiêu Hữu phụng lai nghi này rồi, nhưng lúc đó tiểu đệ không chú ý lắm nên mới bị mắc bẫy của tiểu tử họ Lâm. Tiểu đệ nhất định dụng hết tâm sức luyện cho thật giỏi, thật tinh thông để tiểu tử này biết đại sư ca dạy giỏi hay tiểu sư muội dạy giỏi.
Lệnh Hồ Xung cười đau đớn, nói:
– Ha ha, chiêu Hữu phụng lai nghi đó thực ra chẳng là cái cóc gì cả.
Lục Đại Hữu thấy tinh thần của Lệnh Hồ Xung suy sụp thì cho rằng tại tiểu sư muội lãnh đạm nên đại sư ca đâm ra buồn chán. Gã không dám nói thêm gì nữa, bày cơm rượu chờ Lệnh Hồ Xung ăn xong rồi thu dọn cáo từ xuống núi.
Lệnh Hồ Xung nhắm mắt dưỡng thần một lúc, rồi đốt một cành thông, đến hậu động xem tiếp những chiêu kiếm trên vách đá. Lúc đầu, chàng chỉ nghĩ đến chuyện Nhạc Linh San truyền thụ kiếm thuật cho Lâm Bình Chi nên không thể chú tâm đến các đồ hình trên vách đá được, những nét khắc sơ sài vạch thành hình người trên vách tựa hồ từng hình đều hóa thành Nhạc Linh San và Lâm Bình Chi. Một người đang dạy, một người đang học, vẻ mặt họ rất tình tứ. Trước mắt Lệnh Hồ Xung cứ thấp thoáng tướng mạo tuấn tú của Lâm Bình Chi, bất giác chàng thở dài, nghĩ bụng: Tướng mạo Lâm sư đệ vốn tuấn tú hơn ta gấp mười lần, tuổi lại nhỏ hơn ta khá nhiều và chỉ lớn hơn tiểu sư muội một hai tuổi, hèn gì hai người dễ thân nhau đến như vậy.
Đột nhiên, Lệnh Hồ Xung bỗng chăm chú nhìn người sử kiếm trong đồ hình trên vách xuất ra một chiêu kiếm. Người sử kiếm từ tư thế vận kình lực, đường chiêu kiếm đi, lại giống hệt chiêu Vô song vô đối Ninh thị nhất kiếm của Nhạc phu nhân. Lệnh Hồ Xung giật mình kinh hãi, nghĩ bụng: Chiêu kiếm này là do sư nương ta sáng chế, sao trên vách đá lại sớm có người khắc ra? Chuyện này quả thật cổ quái.
Lệnh Hồ Xung quan sát tỉ mỉ đồ hình, mới phát hiện những chiêu trên vách đá có chỗ khác biệt những chiêu kiếm của Nhạc phu nhân sáng chế ra. Chiêu kiếm trên vách đá nội lực hùng hậu mà giản dị, không khoe khoang, hiển nhiên là do đàn ông xuất chiêu, đúng là những chiêu kiếm không giống như chiêu thức của Nhạc phu nhân vì còn ngấm ngầm ẩn tàng vô số những biến hóa về sau. Bởi vì nó đơn giản nên càng lợi hại. Lệnh Hồ Xung gật đầu lẩm bẩm: Chiêu kiếm do sư nương ta sáng chế cũng trùng với kiếm ý của tiền nhân. Điều này cũng không có gì lạ vì cả hai cũng lấy kiếm pháp Hoa Sơn làm căn bản mà biến hóa ra, công lực và trí tuệ của hai người này chẳng kém nhau bao nhiêu, tất nhiên trong cách sáng chế chiêu thức phải khác nhau chút ít.
Chàng lại nghĩ tiếp: Nếu nói như vậy thì những chiêu kiếm trên vách đá có rất nhiều điểm mà ngay cả sư phụ và sư nương đều không biết. Chẳng lẽ sư phụ lại chưa học hết những kiếm pháp cao thâm của bổn môn?
Chàng thấy cây côn trong tay đối thủ điểm thẳng tới, đầu côn điểm chuẩn xác vào mũi kiếm, cả kiếm và côn hợp thành một đường thẳng.
Lệnh Hồ Xung vừa thấy đường thẳng này không kìm chế được, phải la hoảng lên:
– Không xong rồi!
Cây đuốc trong tay rơi xuống đất, trong động tối thui. Chàng hoảng sợ vô cùng, tự hỏi: Phải làm sao đây? Phải làm sao đây?
Lệnh Hồ Xung nhìn rất rõ từng côn từng kiếm chạm nhau; côn cứng mà kiếm thì mềm, đôi bên lại vận toàn lực thì trường kiếm chắc sẽ gãy đôi. Kình lực của đôi bên đều liên miên bất tuyệt; cây côn thừa thế đâm thẳng tới, còn hậu kình trên kiếm sẽ đánh phản lại chính mình mà không có cách nào phá giải được.
Trong đầu Lệnh Hồ Xung lại lóe lên một ý nghĩ: Có thật là không có cách nào phá giải được sao? Cũng chưa chắc đâu. Lưỡi kiếm bị gãy, còn cây côn của đối phương phóng nhanh đến thì chỉ còn cách liệng cây kiếm gãy đi mà quỳ phục xuống, nếu không thì nằm xoài về phía trước mới có thể tránh được thế đánh của côn. Nhưng sư phụ và sư nương đều là những kiếm thuật danh gia, có địa vị lẫy lừng liệu có thể chịu làm tư thế đó không? Tất nhiên họ thà chết chứ không chịu nhục, ôi, thất bại thê thảm! Thất bại thê thảm rồi!
Một lúc lâu sau, Lệnh Hồ Xung lấy đao và đá đánh lửa đốt đuốc lên, lại tiếp tục quan sát vách đá, chỉ thấy kiếm càng xuất càng kỳ diệu, càng lúc càng tinh thâm, mấy chục chiêu sau biến ảo khôn cùng, kỳ bí vô phương. Nhưng bất luận chiêu kiếm lợi hại ra sao, cây côn của đối phương vẫn có cách chế ngự. Đồ hình kiếm pháp của phái Hoa Sơn ở khắp nơi đều khắc hình người sử kiếm liệng trường kiếm đi mà quỳ gối phủ phục trước mặt người sử côn. Bao nhiêu căm phẫn trong lòng Lệnh Hồ Xung đều tan biến, chỉ còn lại một nỗi buồn man mác. Tuy hắn cảm thấy đồ hình người sử côn đầy sự kiêu ngạo khinh bạc, nhưng kiếm pháp của phái Hoa Sơn bị tận phá sạch sành sanh không còn cách gì để tranh hùng nữa là sự thực một trăm phần trăm không còn nghi ngờ nữa.
Tối hôm đó, Lệnh Hồ Xung đi quanh quẩn tới lui không biết bao nhiêu lần. Trong đời mình, chưa bao giờ chàng bị hụt hẫng trầm trọng như vậy. Chàng nghĩ thầm: Phái Hoa Sơn ta được liệt vào Ngũ Nhạc kiếm phái, là một danh môn chánh phái tiếng tăm lẫy lừng từ lâu trong võ lâm mà sao võ công lại tệ hại như vậy? Trên vách đá, ít nhất có đến hơn một trăm chiêu kiếm ngay cả sư phụ và sư nương cũng chưa biết đến, nhưng giả sử có luyện kiếm pháp của bổn môn cao thâm đến đâu thì bản thân sư phụ cũng thua kém xa, như vậy thì còn dùng làm được gì nữa? Chỉ cần đối phương biết cách phá giải thì ngay cả đệ nhất cao thủ của bổn môn cũng phải liệng kiếm đầu hàng; nếu không chịu thua thì chỉ còn tự sát mà thôi.
Lệnh Hồ Xung đi lại loanh quanh càng thấy lo lắng khổ não. Cây đuốc đã tắt rụi. Không biết trải qua bao lâu, chàng lại đốt cây đuốc khác, nhìn hình người quỳ gối đầu hàng, càng nghĩ càng tức giận, vung trường kiếm lên đâm thẳng vào vách đá, nhưng khi mũi kiếm vừa đụng đến vách đá, chàng bỗng nghĩ: Bậc đại trượng phu phải quang minh lỗi lạc, thua thì chịu thua, thắng thì bảo thắng. Phái Hoa Sơn ta đã không bằng người thì còn gì để nói nữa? Chàng bèn liệng trường kiếm, thở dài.
Chàng lại đi xem những đồ hình khác trên vách đá, thấy kiếm pháp của bốn phái Tung Sơn, Hành Sơn, Thái Sơn, Hằng Sơn cũng hoàn toàn bị đối thủ phá sạch, không thể cứu vãn nổi, sau cùng cũng quỳ xuống đầu hàng.
Lệnh Hồ Xung ở sư môn đã lâu ngày nên hiểu biết rất rộng, chiêu kiếm của các phái tuy chàng không hiểu rõ chỗ tinh thâm nhưng những điều cốt yếu đều đã được nghe qua. Vách tường bên phải khắc những chiêu kiếm của bổn phái không có chiêu nào là không cao minh lợi hại nhưng mỗi chiêu rốt cuộc cũng bị đối phương phá sạch.
Ngoài sự kinh hãi, lòng Lệnh Hồ Xung còn tràn ngập mối nghi ngờ: Lai lịch của Phạm Tùng, Triệu Hạt, Trương Thừa Phong, Trương Thừa Vân thế nào? Sao họ lại nghĩ ra được mà khắc lên vách đá những cách phá giải các loại kiếm pháp của Ngũ Nhạc kiếm phái, mà mình lại chưa từng nghe người trong võ lâm nói tới họ? Sao Ngũ Nhạc kiếm phái ta lại giữ được oai danh cho đến ngày nay?
Lệnh Hồ Xung nhận thấy Ngũ Nhạc kiếm phái ngày nay vẫn còn oai danh lừng lẫy, thực không có chút gì là giả dối để lừa thiên hạ. Trong Ngũ Nhạc kiếm phái mấy nghìn người từ sư trưởng đến đệ tử sở dĩ có thể đứng vững được trong võ lâm hoàn toàn là nhờ các đồ hình trên vách đá chưa bị bại lộ ra ngoài. Chàng lại nghĩ: Sao ta không giơ búa lên chém vào các đồ hình trên vách đá để xóa hết đi, không để lại một vết tích gì trên thế gian này? Như vậy sẽ làm cho oai danh của Ngũ Nhạc kiếm phái được bảo toàn, cứ coi như trước nay ta chưa phát hiện ra hậu động này là được.
Lệnh Hồ Xung quay người nhặt cây búa to lên, xoay lại đứng trước vách đá. Nhưng khi xem đến những chiêu số kỳ diệu trên vách thì lại không nỡ phá đi. Chàng trầm ngâm một hồi rồi lớn tiếng nói:
– Lệnh Hồ Xung đâu phải là kẻ có thể làm những hành vi đê tiện vô liêm sỉ này.
Bỗng nhiên chàng lại nghĩ đến vị tiên sinh mặc áo bào xanh bịt mặt: Kiếm thuật của người đó cao thâm như vậy, chắc có liên quan đến các đồ hình trong động này. Người này là ai? Người này là ai?
Lệnh Hồ Xung trở về động suy nghĩ cả nửa ngày, lại đến hậu động quan sát các đồ hình trên vách đá; hết đi ra rồi lại đi vào không biết bao nhiêu lần. Trời đã xế chiều, bỗng nghe tiếng bước chân vọng lại, Nhạc Linh San xách thùng cơm đi lên. Lệnh Hồ Xung vui mừng, vội chạy đến sườn núi đón rồi gọi:
– Tiểu sư muội!
Giọng chàng run run vì quá xúc động.
Nhạc Linh San không đáp. Cô lên tới đỉnh núi, đặt mạnh thùng cơm lên tảng đá to, không thèm liếc nhìn Lệnh Hồ Xung một cái liền quay người bỏ xuống núi.
Lệnh Hồ Xung vội gọi:
– Tiểu sư muội, tiểu sư muội làm sao vậy?
Nhạc Linh San hừ một tiếng, chân phải bước nhanh xuống núi. Mặc cho Lệnh Hồ Xung gọi hoài, cô vẫn không đáp một tiếng, cũng không thèm quay đầu lại liếc nhìn. Lệnh Hồ Xung hoang mang không biết phải làm sao; mở thùng cơm ra thấy có đủ cơm trắng, hai đĩa rau và một hồ rượu nhỏ. Chàng ngơ ngẩn nhìn thùng cơm hồi lâu rồi bất giác đờ người ra.
Mấy lần Lệnh Hồ Xung muốn ăn cơm nhưng chỉ ăn được một miếng thì cảm thấy miệng khô lưỡi đắng, không sao nuốt nổi nên không ăn nữa. Chàng tự hỏi: Nếu tiểu sư muội giận ta, sao lại đích thân đem cơm lên cho ta? Còn nếu y không giận ta, sao một tiếng cũng không nói, mắt cũng không thèm liếc nhìn ta một chút? Chẳng lẽ Lục sư đệ bị bệnh nên y phải đem cơm lên? Nhưng nếu Lục sư đệ không đem cơm lên thì bọn ngũ sư đệ, thất sư đệ, bát sư đệ… đều có thể đem cơm lên được, tại sao tiểu sư muội lại muốn tự mình đem cơm?
Những suy nghĩ của Lệnh Hồ Xung như thủy triều lên xuống từng đợt nối tiếp. Mải suy đoán những tâm tình của Nhạc Linh San, chàng dẹp hết những suy nghĩ về võ công trên vách đá ở hậu động.
Chiều hôm sau, Nhạc Linh San lại đem cơm lên. Cô ta vẫn không thèm liếc chàng một cái, một câu cũng không nói, lúc xuống núi cô ta còn hát vang bài sơn ca Phúc Kiến. Lòng Lệnh Hồ Xung đau như dao cắt, thầm nghĩ: Thì ra cô ta cố ý chọc tức mình.
Chiều ngày thứ ba, Nhạc Linh San lại đem thùng cơm đặt mạnh lên trên tảng đá rồi quay người bỏ đi. Lệnh Hồ Xung không nhịn được nữa bèn gọi:
– Tiểu sư muội, xin dừng bước, ta có chuyện muốn nói với sư muội.
Nhạc Linh San quay người lại nói:
– Có chuyện gì, cứ nói ra đi!
Lệnh Hồ Xung thấy vẻ mặt cô ta lạnh lùng như bao phủ một lớp sương dày đặc, không một chút tươi cười, chàng lẩm bẩm nói:
– Tiểu sư muội… sư muội… sư muội…
Nhạc Linh San nói:
– Tiểu sư muội làm sao?
Lệnh Hồ Xung nói:
– Ta… ta…
Bình thường chàng rất tự nhiên, miệng lưỡi lanh lợi nhưng lúc này lại nói không nên lời.
Nhạc Linh San nói:
– Đại sư ca không nói được, tiểu muội đi đây.
Cô nói xong liền quay người bỏ đi.
Lệnh Hồ Xung sốt ruột, nghĩ rằng cô xuống núi thì đến chiều mai mới lên lại, hôm nay không hỏi cho rõ ràng thì đêm nay lại đau khổ dằn vặt, làm sao ta có thể chịu đựng nổi? Huống chi nhìn vẻ mặt cô như vậy, không chừng chiều mai cô ta sẽ không lên nữa, thậm chí có thể một tháng cũng không lên. Tình hình cấp bách, hắn bèn giơ tay kéo tay áo của cô lại. Nhạc Linh San giận nói:
– Buông tay ra!
Cô giật mạnh tay. Roạt một tiếng, tay áo bị rách trễ xuống, để lộ ra nửa cánh tay trắng nõn.
Nhạc Linh San vừa thẹn vừa giận, cảm thấy cánh tay lộ ra không biết giấu vào đâu. Cô tuy là người học võ, nhưng còn câu nệ tiểu tiết theo chuẩn mực của người con gái khuê các, bỗng nhiên bị để lộ ra hơn nửa cánh tay, cô lúng ta lúng túng nói:
– Đại sư ca… cả gan…
Lệnh Hồ Xung vội nói:
– Tiểu sư muội xin… xin lỗi. Ta… ta không cố ý.
Nhạc Linh San lấy tay áo bên phải che cánh tay trái lại rồi lớn tiếng nói:
– Đại sư ca muốn nói cái gì?
Lệnh Hồ Xung nói:
– Ta không hiểu, tại sao tiểu muội đối xử với ta như vậy? Nếu đúng thật ta đắc tội với tiểu sư muội, thì sư muội… sư muội… rút kiếm đâm lên người ta mười bảy mười tám nhát, ta… có chết cũng không oán hận.
Nhạc Linh San cười nhạt nói:
– Đại sư ca là đại sư huynh, chúng tôi làm sao dám đắc tội với đại sư ca, còn nói chi đến chuyện đâm mười bảy mười tám nhát? Chúng tôi là sư đệ sư muội của đại sư ca, đại sư ca không đánh mắng đã là cám ơn trời đất lắm rồi.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Ta suy nghĩ nát nước mà không ra, không biết mình có chỗ nào đắc tội với sư muội?
Nhạc Linh San hậm hực nói:
– Đại sư ca không biết ư? Đại sư ca bảo Lục hầu nhi tâu rỗi trước mặt gia gia và má má, đại sư ca đã rõ lắm rồi mà.
Lệnh Hồ Xung rất lấy làm kỳ, hỏi:
– Ta bảo Lục sư đệ tâu rỗi với sư phụ và sư nương ư? Tâu rỗi… tiểu sư muội sao?
Nhạc Linh San nói:
– Đại sư ca biết rõ gia gia và má má rất yêu thương tiểu muội, có tâu tiểu muội cũng uổng công. Đại sư ca lại quỷ quái bảo y đi tâu… hừ hừ. Đại sư ca còn làm bộ giả vờ, chẳng lẽ đại sư ca thật sự không biết?
Lệnh Hồ Xung chấn động tâm thần, lòng càng cảm thấy đau xót, liền nói:
– Lục sư đệ và Lâm sư đệ tỉ kiếm bị thương, sư phụ và sư nương đều biết, vì vậy mà trách phạt Lâm sư đệ có phải không?
Lệnh Hồ Xung nghĩ thầm: Chỉ vì sư phụ và sư nương trách phạt Lâm sư đệ, nên cô ta giận mình như vậy.
Nhạc Linh San nói:
– Sư huynh sư đệ tỉ kiếm với nhau, một người bị thua, một người lại không cố ý đả thương người. Vậy mà gia gia lại thiên vị Lục hầu nhi, trách mắng Tiểu Lâm tử một trận, gia gia còn nói Tiểu Lâm tử công lực chưa đủ, không nên học chiêu Hữu phụng lai nghi và cấm tiểu muội dạy gã luyện kiếm. Hay lắm, đại sư ca thắng rồi! Nhưng… nhưng… tiểu muội… tiểu muội cũng không để ý đến đại sư ca đâu, vĩnh viễn không nhìn mặt sư ca nữa.
Bảy chữ “vĩnh viễn không nhìn mặt sư ca” bình thường cô ta vẫn hay nói với Lệnh Hồ Xung lúc vui đùa nhõng nhẽo, nhưng trước đây cô nói thì cặp mắt đưa đẩy, miệng cười chúm chím, nào có ý “không nhìn đại sư ca” đâu? Nhưng lần này vẻ mặt cô nghiêm khắc, trong lời nói đầy quyết tâm đoạn tuyệt thật rồi.
Lệnh Hồ Xung tiến đến một bước, nói:
– Tiểu sư muội, ta…
Lệnh Hồ Xung muốn nói: Ta thật không có bảo Lục sư đệ đi thưa gửi sư phụ và sư nương đâu. Nhưng chàng nghĩ lại: Ta không thẹn với lòng, chuyện này mình không làm thì việc cóc gì mà cầu xin lòng thương hại của sư muội.
Lệnh Hồ Xung nói một chữ “ta” thì không nói nữa.
– Đại sư ca làm sao?
Lệnh Hồ Xung lắc đầu nói:
– Ta không sao! Ta chỉ nghĩ: Sư phụ và sư nương cấm tiểu sư muội dạy Lâm sư đệ luyện kiếm cũng không phải là chuyện gì lớn lao, mà sao tiểu sư muội giận ta đến như vậy?
Nhạc Linh San ửng hồng hai má, nói:
– Tiểu muội giận đại sư ca thì tiểu muội cứ giận đại sư ca! Chủ ý của đại sư ca là phá hoại chuyện này, cho rằng tiểu muội không dạy Lâm sư đệ luyện kiếm thì mỗi ngày có thể lên đây bầu bạn với đại sư ca chứ gì? Hừ, tiểu muội vĩnh viễn không nhìn mặt đại sư ca nữa.
Cô nói xong, chân phải dậm mạnh rồi đi thẳng xuống núi.
Lần này Lệnh Hồ Xung không dám đưa tay kéo cô lại nữa. Chàng đau khổ vô cùng, tai lại nghe dưới núi vang lên âm thanh véo von trong trẻo của cô hát khúc sơn ca Phúc Kiến. Lệnh Hồ Xung đi đến bên sườn núi và nhìn xuống thấy cái bóng thướt tha của cô đang chuyển qua thung lũng, thấp thoáng thấy cánh tay trái lồng vào ống tay phải, bất giác lo sợ: Ta đã kéo rách tay áo của sư muội, nếu sư muội nói với sư phụ và sư nương thì hai vị lão nhân gia sẽ bảo ta khinh bạc vô lễ với tiểu sư muội. Vậy… vậy… vậy thì làm sao mới được? Nếu chuyện này đồn đãi ra ngoài thì bọn sư đệ sư muội đều coi thường ta hết ráo.
Lệnh Hồ Xung nghĩ lại: Thật tình ta không hề khinh bạc tiểu sư muội. Người ta thích nghĩ thế nào thì mặc kệ họ, ta giữ làm sao được?
Nhưng Lệnh Hồ Xung nghĩ đến chuyện tiểu sư muội chỉ vì không được dạy kiếm cho Lâm Bình Chi mà lại tức giận như vậy thì không cầm được nỗi xót xa.
Lúc đầu, chàng còn yên tâm lý giải: Tiểu sư muội nhỏ tuổi hiếu động, mà ta phải ở trên này sám hối, không ai chuyện trò giải buồn với tiểu sư muội thì tiểu sư muội tìm Lâm sư đệ tuổi tác suýt soát để bầu bạn là đúng. Kỳ thực hắn có tình ý gì đâu?
Nhưng Lệnh Hồ Xung lại nghĩ: Ta và tiểu sư muội sống cùng một nhà với nhau từ thuở nhỏ, tình nghĩa sâu nặng biết dường nào? Lâm sư đệ đến Hoa Sơn chẳng qua chỉ mới vài tháng, mối thân sơ hậu bạc phải khác nhau chứ. Chàng nghĩ đến đây lòng lại đau đớn như bị dao cắt.
Tối hôm đó, Lệnh Hồ Xung từ trong động đi đến bên sườn núi, rồi từ bên sườn núi đi vào trong động, cứ đi ra đi vào, không biết đến bao nhiêu lần. Hôm sau cũng lại như vậy, lòng chàng chỉ nhớ đến Nhạc Linh San, còn đối với đồ hình trên vách đá ở hậu động và chuyện đêm hôm đó bỗng nhiên xuất hiện người mặc thanh bào đều dẹp qua một bên.
Đến chạng vạng tối Lục Đại Hữu đem cơm đến. Gã để cơm và thức ăn trên tảng đá, dọn ra rồi nói:
– Mời đại sư ca dùng cơm.
Lệnh Hồ Xung ừ một tiếng rồi cầm đũa bát và miếng cơm vào miệng mà không sao nuốt được.
Chàng nhìn xuống núi rồi từ từ để bát cơm xuống. Lục Đại Hữu nói:
– Đại sư ca, sắc mặt đại sư ca khó coi lắm, có phải trong người không được khỏe?
Lệnh Hồ Xung lắc đầu nói:
– Không sao!
Lục Đại Hữu nói:
– Ngày hôm qua tiểu đệ đi hái mớ nấm này về nấu cho đại sư ca ăn. Đại sư ca nếm mùi vị thế nào?
Lệnh Hồ Xung không nói gì, sợ làm phật ý gã, liền gắp hai miếng nấm lên ăn rồi khen:
– Ngon lắm!
Nấm đông cô có mùi vị thơm ngon, nhưng bây giờ chàng nếm thử cảm thấy không có chút ngon lành gì cả.
Lục Đại Hữu cười hi hi nói:
– Đại sư ca, tiểu đệ báo cho đại sư ca một tin rất hay là bắt đầu từ ngày hôm qua trở đi, sư phụ và sư nương cấm không cho Tiểu Lâm tử theo tiểu sư muội học kiếm nữa.
Lệnh Hồ Xung lạnh lùng nói:
– Sư đệ đấu kiếm không lại Lâm sư đệ, thì khóc lóc nói cho sư phụ và sư nương biết phải không?
Lục Đại Hữu nhảy bổ lên nói:
– Ai nói tiểu đệ đấu không lại? Tiểu đệ… vì tiểu đệ…
Hắn nói đến đây thì im bặt không nói nữa.
Lệnh Hồ Xung đã biết rõ rồi, tuy Lâm Bình Chi nhờ chiêu Hữu phụng lai nghi mà xuất kỳ bất ý đả thương được Lục Đại Hữu, nhưng Lục Đại Hữu đã nhập môn lâu ngày, bất luận thế nào Lâm Bình Chi cũng không phải là đối thủ của hắn. Sở dĩ hắn mách với sư phụ và sư nương thực ra cũng chỉ vì mình. Lệnh Hồ Xung bỗng nghĩ: Thì ra các sư đệ và sư muội đều có lòng thương xót ta, đều biết tiểu sư muội từ nay không còn đến với ta nữa. Chỉ vì Lục sư đệ là sư đệ thâm giao với ta mới nghĩ cách giúp ta cứu vãn tình thế. Hừ hừ, bậc đại trượng phu há chịu ai thương xót?
Bỗng nhiên Lệnh Hồ Xung phát giận như điên, cầm bát cơm và đĩa rau liệng xuống vực thẳm rồi la lên:
– Ai cần ngươi nhiều chuyện? Ai cần ngươi nhiều chuyện?
Lục Đại Hữu giật mình sợ hãi. Hắn đối với đại sư ca trước giờ một lòng kính trọng khâm phục, không ngờ lại khích động cho đại sư ca phẫn nộ như vậy. Hắn hoảng loạn, càng hoảng loạn thì càng thụt lùi, miệng chỉ nói được:
– Đại sư ca, đại… sư ca.
Lệnh Hồ Xung ném hết cơm rau xuống vực thẳm mà nỗi tức giận vẫn chưa nguôi. Tiện tay hắn ném tiếp từng cục đá to xuống vực. Lục Đại Hữu nói:
– Đại sư ca, tiểu đệ làm chuyện không đúng. Đại sư ca… đánh đòn đi.
Trong tay Lệnh Hồ Xung đang cầm cục đá to, nghe hắn nói vậy, quay người lại lớn tiếng nói:
– Tiểu đệ có điều gì không đúng?
Lục Đại Hữu sợ quá thụt lùi một bước, ấp úng nói:
– Tiểu đệ… tiểu đệ… tiểu đệ không biết.
Lệnh Hồ Xung thở dài, ném cục đá ra xa, nắm hai tay Lục Đại Hữu rồi dịu dàng nói:
– Lục sư đệ, ta xin lỗi. Ta đang phiền muộn trong lòng chứ không có liên can gì đến sư đệ đâu.
Lục Đại Hữu thở phào rồi nói:
– Tiểu đệ xuống bới cơm khác cho đại sư ca ăn.
Lệnh Hồ Xung lắc đầu nói:
– Không. Không cần, ta không muốn ăn.
Lục Đại Hữu thấy trên tảng đá thức ăn trong thùng đem lên ngày hôm qua còn y nguyên. Hắn không khỏi lo âu, bèn nói:
– Đại sư ca, ngày hôm qua đại sư ca cũng không ăn cơm ư?
Lệnh Hồ Xung cười gượng đáp:
– Sư đệ bất tất phải bận lòng. Mấy ngày nay ta đắng miệng, không muốn ăn cơm mà thôi.
Lục Đại Hữu không dám nói nhiều. Hôm sau, chưa đến giờ thì Lục Đại Hữu đã mang cơm lên núi, thầm nghĩ: Hôm nay ta đem lên một hũ rượu ngon, lại nấu hai món thức ăn nóng sốt, bất luận thế nào cũng phải khuyên đại sư ca ăn được vài bát.
Hắn lên đến đỉnh núi, thấy Lệnh Hồ Xung đang nằm trên tảng đá trong động, vẻ mặt rất tiều tụy.
Hắn hơi kinh hãi, bèn gọi:
– Đại sư ca, đại sư ca coi thử đây là cái gì?
Hắn lắc hồ rượu rồi mở nắp hồ rượu ra, khắp hang động đều thơm lừng mùi rượu.
Lệnh Hồ Xung liền đón hũ rượu, uống một hơi hết nửa hũ, rồi khen:
– Rượu ngon quá!
Lục Đại Hữu khoái chí, nói:
– Để tiểu đệ dọn cơm cho đại sư ca ăn.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Không, mấy ngày nay ta không muốn ăn.
Lục Đại Hữu nói:
– Chỉ ăn một bát thôi mà.
Hắn nói xong, bới một bát cơm đầy đưa cho Lệnh Hồ Xung. Lệnh Hồ Xung thấy hắn lo cho mình như vậy, đành nói:
– Được rồi, để ta uống hết rượu rồi hãy ăn cơm.
Nhưng Lệnh Hồ Xung lại không ăn bát cơm này. Ngày hôm sau lúc Lục Đại Hữu đem cơm đến, thấy bát cơm vẫn nguyên vẹn trên tảng đá, Lệnh Hồ Xung lại nằm dưới đất ngủ. Lục Đại Hữu thấy hai má Lệnh Hồ Xung đỏ bừng, bèn đưa tay lên trán hắn, thấy trán nóng hổi, rõ ràng là hắn đang sốt cao. Gã không khỏi lo sợ, hỏi khẽ:
– Đại sư ca, đại sư ca bị bệnh phải không?
Lệnh Hồ Xung nói:
– Rượu, rượu, đưa rượu cho ta!
Tuy Lục Đại Hữu có mang rượu đến nhưng gã không dám đưa cho đại sư ca; gã chỉ rót một bát nước lạnh đưa tới bên miệng. Lệnh Hồ Xung ngồi dậy, bưng bát nước uống cạn rồi nói:
– Rượu ngon, rượu ngon quá!
Chàng ngã người ngẩng mặt lên trời miệng vẫn lẩm bẩm:
– Rượu ngon, rượu ngon quá!
Lục Đại Hữu biết bệnh tình của Lệnh Hồ Xung khá nặng, rất lo âu. Gã ch ợt nhớ sư phụ và sư nương sáng sớm hôm sau có việc phải xuống núi, liền chạy xuống núi đi báo cho Lao Đức Nặc và các sư huynh sư đệ biết. Tuy Nhạc Bất Quần có nghiêm huấn ngoài mỗi ngày một lần đem cơm ra không ai được phép lên núi gặp Lệnh Hồ Xung, nên khi biết Lệnh Hồ Xung bị bệnh, bọn họ muốn lên thăm hắn lại sợ phạm môn quy. Vì vậy cả bọn vẫn không dám cùng nhau lên núi mà bàn bạc chia nhau mỗi ngày lên núi thăm bệnh. Trước tiên là Lao Đức Nặc và Lương Phát.
Lục Đại Hữu lại đi báo cho Nhạc Linh San biết Lệnh Hồ Xung bệnh nặng. Cô ta vẫn chưa nguôi giận, lạnh lùng nói:
– Nội công của đại sư ca thâm hậu, sao lại bị bệnh được? Tiểu muội không lên đó nữa đâu.
Bệnh tình của Lệnh Hồ Xung rất trầm trọng, liên tiếp bốn ngày bốn đêm hắn hôn mê bất tỉnh. Lục Đại Hữu nài nỉ cầu xin Nhạc Linh San lên núi thăm Lệnh Hồ Xung, suýt chút nữa thì hắn đã quỳ trước mặt cô ta, Nhạc Linh San mới tin Lệnh Hồ Xung bệnh thật, cũng sốt ruột vội cùng với Lục Đại Hữu lên núi. Chỉ thấy hai má của Lệnh Hồ Xung hóp lại, râu mọc xồm xoàm đầy cả mặt, điệu bộ ung dung lúc bình thường dường như không còn nữa. Nhạc Linh San vô cùng áy náy, cô đến bên Lệnh Hồ Xung nhỏ nhẹ nói:
– Đại sư ca, tiểu muội đến thăm đại sư ca đây, đại sư ca đừng giận tiểu muội nữa được không?
Vẻ mặt Lệnh Hồ Xung ngẩn ngơ, mở to mắt nhìn cô ta không chớp, ánh mắt lộ vẻ mơ màng tựa hồ như không hề quen biết cô. Nhạc Linh San nói:
– Đại sư ca, tiểu muội đây mà, sao đại sư ca không nhìn ra tiểu muội?
Ánh mắt Lệnh Hồ Xung vẫn đờ đẫn, một lúc sau hắn mới nhắm mắt lại ngủ vùi, cho đến lúc Lục Đại Hữu và Nhạc Linh San xuống núi hắn vẫn chưa tỉnh lại.
Lệnh Hồ Xung bệnh hơn một tháng mới thuyên giảm dần. Trong hơn một tháng này, Nhạc Linh San đến thăm ba lần. Lần thứ hai thần trí Lệnh Hồ Xung đã bình phục, thấy cô chàng rất vui mừng. Lần thứ ba lúc cô ta đến thăm, Lệnh Hồ Xung đã ngồi dậy được, ăn chút thức ăn mà cô đem đến.
Nhưng từ lần đó trở đi, cô ta không hề lên núi nữa. Sau khi Lệnh Hồ Xung tự mình có thể đứng dậy, ngày nào chàng cũng đứng hơn cả buổi bên sườn núi trông ngóng hình bóng của tiểu sư muội, nhưng mỗi lần chỉ thấy nếu không phải là vực thẳm tịch mịch thì là hình dáng Lục Đại Hữu đang leo lên núi.
Một hôm vào lúc chiều tối, Lệnh Hồ Xung vẫn cứ nhìn đăm đăm xuống núi, thấy có hai dáng người đang đi lên với khinh công thần tốc dị thường. Người đi trước áo quần tha thướt, đúng là một phụ nữ. Lệnh Hồ Xung thấy khinh công của hai người này thật cao siêu, họ đi trên vách núi dốc hiểm trở mà chẳng khác gì đi dưới đất bằng, nhìn kỹ lại thì ra là sư phụ và sư nương. Chàng vui mừng khôn xiết, lớn tiếng gọi:
– Sư phụ, sư nương!
Trong khoảnh khắc Nhạc Bất Quần và Nhạc phu nhân đi song song lên đỉnh núi, trong tay Nhạc phu nhân xách một thùng cơm. Theo luật lệ của phái Hoa Sơn mấy đời truyền lại, khi đệ tử bị phạt lên đỉnh núi quay mặt vào tường sám hối, ngoài việc đem cơm lên thì sư huynh sư đệ đồng môn không được lên núi trò chuyện; ngay cả đệ tử của người bị phạt cũng không được lên yết kiến sư phụ. Nào ngờ Nhạc Bất Quần và Nhạc phu nhân lại thân hành lên thăm hắn, Lệnh Hồ Xung khôn xiết vui mừng, chạy đến bái phục xuống rồi ôm hai chân Nhạc Bất Quần kêu lên:
– Sư phụ sư nương, đệ tử nhớ vô cùng.
Nhạc Bất Quần hơi chau mày. Lão biết tên đệ tử này rất giàu tình cảm, khó tự kìm chế được mình mà đây là điều đại kỵ trong việc tu luyện khí công thượng thừa của phái Hoa Sơn. Trước khi lên núi, hai vợ chồng Nhạc Bất Quần đã hỏi nguyên nhân bệnh tình của Lệnh Hồ Xung, bọn đệ tử tuy chưa nói rõ nhưng qua cách ấp a ấp úng của chúng, họ đoán ra được hắn bệnh là do Nhạc Linh San mà ra. Khi họ kêu con gái đến để hỏi cho rõ đầu đuôi ngọn ngành, thấy cô cũng ấp a ấp úng thì càng biết rõ hơn. Bây giờ thấy Lệnh Hồ Xung biểu lộ chân tình, lão biết ngay hắn ở trên này ăn năn sám hối đã nửa năm trời mà không tiến bộ được chút nào cả. Lão không được vui, hừ một tiếng.
Nhạc phu nhân đưa tay đỡ Lệnh Hồ Xung dậy, thấy vẻ mặt của hắn tiều tụy, nét vui tươi nhanh nhẹn ngày trước không còn nữa; bà không kìm được lòng thương xót, dịu dàng nói:
– Xung nhi, sư phụ ngươi và ta mới từ Quan Ngoại về, nghe tin ngươi bị bệnh nặng. Bây giờ đã đỡ nhiều chưa?
Mặt Lệnh Hồ Xung nóng lên, nước mắt muốn chực trào ra. Chàng nói:
– Đệ tử đã khỏe rồi. Sư phụ sư nương, hai vị lão nhân gia đi đường vất vả, hôm nay mới vừa về thì đã đến… đến thăm đệ tử.
Lệnh Hồ Xung nói đến đây thì xúc động nghẹn ngào, liền quay đầu đi, lau nước mắt.
Nhạc phu nhân lấy trong thùng cơm ra một bát sâm thang rồi nói:
– Đây là sâm thang nấu từ loại dã sơn nhân sâm ở Quan Ngoại, rất bổ cho sức khỏe. Ngươi mau uống đi.
Lệnh Hồ Xung nghĩ sư phụ sư nương vừa vượt vạn dặm từ Quan Ngoại về, trước tiên đã đem nhân sâm đến cho mình nên lòng cảm kích vô cùng. Tay run run, chàng bưng lấy bát sâm khiến bát sâm bị đổ ra chút ít. Nhạc phu nhân đưa tay đỡ bát sâm cho chàng uống. Lệnh Hồ Xung vội há to miệng uống hết bát sâm, rồi nói:
– Đa tạ sư phụ sư nương!
Nhạc Bất Quần đưa ngón tay ra chẩn mạch cho Lệnh Hồ Xung, thấy mạch đập quá nhanh. Lão suy đoán biết so với trước đây, nội công của hắn đã sa sút nhiều, lại càng không vui, lạnh nhạt nói:
– Bệnh thì khỏi rồi!
Một lúc sau lão lại nói tiếp:
– Xung nhi, mấy tháng nay ngươi ở đây sám hối, đã làm được những gì? Tại sao nội công ngươi không tiến bộ mà còn sa sút?
Lệnh Hồ Xung cúi đầu nói:
– Dạ, xin sư phụ sư nương tha tội.
Nhạc phu nhân mỉm cười nói:
– Xung nhi bị bệnh nặng, bây giờ chưa khỏi hẳn, nội công tất nhiên là không bằng ngày trước. Chẳng lẽ sư huynh muốn hắn càng bệnh thì nội công càng cao cường thêm ư?
Nhạc Bất Quần lắc đầu nói:
– Ta nắm tay hắn không phải để biết thân thể mạnh hay yếu mà để kiểm tra sự tu luyện nội công của hắn; mà nội công thì không liên quan đến chuyện bệnh hay không bệnh. Nội công của bổn môn không giống với phái khác, hễ chuyên cần luyện tập thì ngay cả lúc bị bệnh cũng có thể không ngừng tăng tiến. Huống hồ Xung nhi luyện khí công của bổn môn đã hơn chục năm rồi, nếu không bị thương thì không thể sinh bệnh. Tóm lại… tóm lại là vì hắn không kìm được thất tình lục dục mà thôi.
Nhạc phu nhân biết chồng nói đúng, nhìn Lệnh Hồ Xung nói:
– Xung nhi, sư phụ ngươi trước nay vẫn thường răn dạy, muốn ngươi dụng công luyện khí luyện kiếm, phạt ngươi phải ở một mình trên đây sám hối, thực ra cũng không phải là trách phạt thật mà chỉ mong ngươi không bị những chuyện bên ngoài làm phiền nhiễu. Trong một năm nay đáng lẽ khí công và kiếm thuật của ngươi phải tiến bộ vượt bực mới phải. Không ngờ… không ngờ… ôi…
Lệnh Hồ Xung vô cùng hoảng sợ, đáp nhỏ:
– Đệ tử biết tội rồi, từ hôm nay trở đi sẽ cố gắng dụng công thật tốt.
Nhạc Bất Quần nói:
– Trong võ lâm xảy ra nhiều chuyện. Ta và sư nương của ngươi những năm tháng gần đây bôn ba khắp nơi, trước mắt đã thấy những mầm mống hiểm họa khó giải trừ được, rồi đây tất có đại nạn nên trong lòng thực sự bất an.
Lão ngừng một lúc rồi nói tiếp:
– Ngươi là đại đệ tử của bổn môn; ta và sư nương ngươi đặt kỳ vọng vào ngươi, mong ngày sau ngươi có thể vì chúng ta mà chia sẻ trách nhiệm nặng nề để làm rạng rỡ danh tiếng phái Hoa Sơn. Nhưng ngươi đã vướng bận vào chuyện tư tình nhi nữ, không cầu tiến, hoang phế võ công, khiến cho hai chúng ta thất vọng vô cùng.
Lệnh Hồ Xung thấy nét mặt sư phụ đầy vẻ bực bội, vừa hổ thẹn vừa lo sợ liền bái phục xuống đất, nói:
– Đệ tử, đệ tử đáng chết, đã phụ lòng kỳ vọng của sư phụ sư nương.
Nhạc Bất Quần đưa tay đỡ hắn dậy, mỉm cười nói:
– Ngươi đã biết lỗi thì được rồi. Nửa tháng sau, ta sẽ đến khảo nghiệm kiếm pháp của ngươi.
Lão nói xong liền quay người xuống núi.
Lệnh Hồ Xung gọi:
– Sư phụ, có một chuyện…
Chàng muốn bẩm báo với sư phụ chuyện các đồ hình trên vách đá trong hậu động và người mặc áo bào xanh nhưng Nhạc Bất Quần đã khoát tay rồi đi thẳng xuống núi luôn.
Nhạc phu nhân nói nhỏ:
– Trong nửa tháng này, ngươi nên dụng công luyện kiếm pháp cho thuần thục. Chuyện này có liên quan lớn đến tương lai của ngươi, ngàn vạn lần không được xao lãng.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Dạ! Sư nương…
Chàng lại muốn nói chuyện các chiêu kiếm trên vách đá và người áo xanh; Nhạc phu nhân cười chỉ vào cái bóng sau lưng Nhạc Bất Quần, khoát tay rồi quay người đi xuống núi, nhanh bước chạy theo chồng.
Lệnh Hồ Xung tự nhủ: Tại sao sư nương nói chuyện luyện kiếm có liên quan đến tương lai của ta, không thể xao lãng được? Tại sao sư nương phải đợi sư phụ đi trước rồi mới nói nhỏ dặn dò ta? Phải chăng… phải chăng…
Nghĩ đến chuyện này, trống ngực hắn đập thình thịch, hai má nóng bừng, không dám suy nghĩ tiếp nữa. Tận trong thâm tâm, hắn nảy sinh một kỳ vọng: Chẳng lẽ sư phụ và sư nương biết ta vì tiểu sư muội mà sinh bệnh, nên sẽ đem tiểu sư muội gả cho ta sao? Sư nương dặn ta phải dụng công luyện cho thật giỏi, bất luận khí công hay kiếm thuật đều phải xứng đáng thừa hưởng chân truyền của sư phụ. Sư phụ không tiện nói rõ, sư nương lại coi ta như con ruột nên mới nói nhỏ dặn dò ta, nếu không thì còn có chuyện gì khác có thể liên quan đến tương lai của ta?
Lệnh Hồ Xung nghĩ đến đây, tinh thần phấn chấn, cầm kiếm lên, luyện lại một lượt những bộ kiếm pháp cao thâm mà sư phụ đã truyền thụ. Nhưng các đồ hình trên vách đá trong hậu động đã ăn sâu vào trí não, bất luận sử đến chiêu kiếm nào, chàng liền nhớ ngay đến những cách phá giải. Chàng sử mới nửa chừng thì dừng lại, nghĩ thầm: Những đồ hình trên vách đá trong hậu động lần này chưa kịp bẩm báo với sư phụ sư nương, nửa tháng sau khi hai vị lên đây, sau khi xem xét tỉ mỉ tất hai vị có thể giải đáp những thắc mắc của ta.
Những lời nói của Nhạc phu nhân khiến cho tinh thần Lệnh Hồ Xung phấn chấn nhưng trong nửa tháng, việc tu luyện khí công và kiếm thuật lại không tiến bộ nhiều, suốt ngày chỉ lo nghĩ vẩn vơ: Sư phụ và sư nương đem tiểu sư muội gả cho ta, không biết cô ta có ưng thuận hay không? Nếu ta thật sự có thể kết thành vợ chồng với sư muội, không biết sư muội có quên đi được mối tình với Lâm sư đệ hay không? Thực ra, Lâm sư đệ mới nhập sư môn, nhờ cô dạy kiếm pháp, lúc bình thường chỉ nói chuyện bầu bạn giải khuây với cô ta mà thôi, hai người chưa chắc đã có tình ý gì, sao bằng ta và tiểu sư muội cùng lớn lên với nhau, hơn mười năm tình nghĩa sớm tối có nhau? Ngày hôm đó suýt chút nữa ta bị Dư Thương Hải đánh cho một chưởng toi mạng, may nhờ Lâm sư đệ đưa ra lời giải cứu. Chuyện này suốt đời ta không thể quên, sau này ta sẽ có dịp báo ân cho Lâm sư đệ. Nếu Lâm sư đệ gặp nguy hiểm, ta sẽ không màng đến tính mệnh mà xả thân cứu hắn.
Thấm thoát nửa tháng trôi qua, một hôm sau giờ Ngọ, vợ chồng Nhạc Bất Quần lại cùng nhau lên núi. Cùng đi theo còn có Thi Đới Tử, Lục Đại Hữu và Nhạc Linh San. Lệnh Hồ Xung thấy tiểu sư muội cũng đến, lúc ra bái chào sư phụ sư nương, giọng chàng run run.
Nhạc phu nhân thấy tinh thần Lệnh Hồ Xung phấn chấn, sắc mặt khác xa với nửa tháng trước, bà thoáng vui mừng gật đầu nói:
– Linh nhi, ngươi dọn cơm cho đại sư ca ăn đi để hắn còn luyện kiếm nữa.
Nhạc Linh San dạ một tiếng rồi đem thùng cơm đi vào thạch động để trên tảng đá to. Cô lấy bát đũa ra, bới đầy một bát cơm trắng rồi cười nói:
– Đại sư ca, xin mời dùng cơm!
Lệnh Hồ Xung nói:
– Đa… đa tạ.
Nhạc Linh San cười nói:
– Sao? Đại sư ca còn phát nóng lạnh ư? Sao giọng nói lại run run như vậy?
Lệnh Hồ Xung đáp:
– Không… không có gì cả.
Chàng nghĩ thầm: Nếu sau này, sớm tối lúc mình ăn cơm đều có tiểu sư muội bên cạnh thì suốt đời Lệnh Hồ Xung này không mong muốn gì hơn nữa.
Chàng chẳng còn để tâm đến chuyện ăn uống, chỉ và hai ba đũa đã hết bát cơm. Nhạc Linh San nói:
– Để tiểu muội bới cơm thêm cho đại sư ca.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Đa tạ, ta không ăn nữa đâu. Sư phụ và sư nương đang đợi bên ngoài.
Lệnh Hồ Xung ra ngoài động, thấy hai vợ chồng Nhạc Bất Quần đang sánh vai ngồi trên tảng đá.
Lệnh Hồ Xung đi đến trước, cúi người hành lễ, muốn nói nhiều điều tự dưng lại cảm thấy không ổn. Lục Đại Hữu nháy mắt với chàng, nét mặt hớn hở. Lệnh Hồ Xung thầm nghĩ: Chắc Lục sư đệ đã biết được tin gì nên gã mừng cho mình.
Nhạc Bất Quần đưa mắt nhìn Lệnh Hồ Xung mấy lần, một lúc sau mới nói:
– Hôm qua, Căn Minh từ Trường An về nói là ở Trường An, Điền Bá Quang vừa gây ra mấy vụ đại án.
Lệnh Hồ Xung ngẩn người ra nói:
– Điền Bá Quang đến Trường An rồi ư? Hắn lại làm nhiều chuyện tác tệ rồi.
Nhạc Bất Quần nói:
– Còn phải nói nữa, hắn ở thành Trường An trong một đêm đã gây ra chín vụ đại án. Chưa hết, hắn còn viết lên tường của mỗi nhà chín chữ to: “Vạn lý độc hành Điền Bá Quang mượn tạm”.
Lệnh Hồ Xung hừ lên một tiếng, cả giận nói:
– Thành Trường An gần núi Hoa Sơn ta, hắn để lại chín chữ to này rõ ràng là có ý giỡn mặt phái Hoa Sơn chúng ta. Sư phụ, chúng ta…
Nhạc Bất Quần nói:
– Chúng ta làm sao?
Lệnh Hồ Xung nói:
– Nhưng sư phụ và sư nương có thân phận tôn quý, không nên để tên ác tặc này làm dơ bảo kiếm. Còn công phu của đệ tử lại không đủ nên không phải là đối thủ của tên ác tặc này. Huống hồ đệ tử thân đang mắc tội, không thể xuống núi truy tìm tên ác tặc, nhưng cứ để hắn hoành hành tự do dưới chân núi Hoa Sơn như vậy thì thật là đáng giận.
Nhạc Bất Quần nói:
– Nếu ngươi thực sự muốn giết tên ác tặc này, ta sẽ cho phép ngươi xuống núi để lấy công chuộc tội. Vậy ngươi diễn lại cho ta xem chiêu Vô song vô đối Ninh thị nhất kiếm mà sư nương của ngươi đã truyền. Trong nửa năm nay, xem ra ngươi cũng đã lĩnh hội được bảy tám phần, cứ xin sư nương chỉ điểm thêm cho, chẳng lẽ đấu không lại tên ác tặc họ Điền sao?
Lệnh Hồ Xung ngẩn người ra, nghĩ bụng: Sư nương chưa truyền chiêu kiếm này cho ta.
Nhưng chàng lại chuyển ý nghĩ, đã hiểu ra: Ngày hôm đó sư nương đã diễn chiêu kiếm này, tuy chưa chính thức truyền cho ta nhưng đối với công phu của bổn môn ta đã học khá tinh thông, tự ta có thể biết được yếu chỉ trong chiêu kiếm. Vì vậy, sư phụ mới đánh giá ta trong nửa năm ở đây đã kiên trì luyện tập nên học được khá nhiều rồi.
Lòng dạ Lệnh Hồ Xung rối beng, chàng lẩm bẩm: Vô song vô đối Ninh thị nhất kiếm, Vô song vô đối Ninh thị nhất kiếm!
Trán chàng toát mồ hôi hột. Lúc mới lên núi, chàng nghĩ chiêu kiếm này vô cùng tinh diệu, đã từng đem ra diễn thử. Nhưng từ lúc được xem các đồ hình trên vách đá trong hậu động, chàng phát hiện bất cứ chiêu kiếm nào của phái Hoa Sơn cũng bị người ta phá giải; chiêu Ninh thị nhất kiếm này lại càng bị thất bại te tua không thể tả nổi. Tự chàng đã mất niềm tin vào chiêu kiếm này, đó là điều chàng đã mấy lần muốn thốt ra: Chiêu kiếm này đã vô dụng rồi; nó bị người ta phá giải rồi. Nhưng trước mặt Thi Đới Tử và Lục Đại Hữu, chàng không tiện chỉ trích chiêu kiếm mà sư nương từng rất tự hào.
Nhạc Bất Quần thấy vẻ mặt Lệnh Hồ Xung khác lạ bèn nói:
– Chiêu này ngươi chưa luyện xong phải không? Vậy cũng không sao. Chiêu kiếm này là cực chỉ võ công của phái Hoa Sơn ta, hỏa hầu của ngươi chưa đủ, chưa thể luyện đến nơi đến chốn được, sau này tự ngươi dần dần bổ túc thêm.
Nhạc phu nhân cười nói:
– Xung nhi, còn chưa khấu tạ sư phụ ngươi ư? Sư phụ ngươi đã đồng ý truyền cho ngươi tâm pháp của Tử hà công rồi đó.
Lệnh Hồ Xung run run đáp:
– Dạ, đa tạ sư phụ.
Hắn toan quỳ mọp xuống đất bái lạy.
Nhạc Bất Quần đưa tay ngăn lại, cười nói:
– Tử hà công là khí công tâm pháp cao nhất của bổn môn, sở dĩ ta không dễ dàng đem truyền cho ngươi không phải là ta có ý tiếc rẻ. Chỉ vì sau khi luyện công phu này, tâm phải vô tạp niệm, ý phải dũng mãnh tinh tấn, không được rà rê chút nào, nếu không sẽ rất tai hại cho người luyện, dần dần có thể sẽ bị tẩu hỏa nhập ma. Xung nhi, trước tiên ta muốn xem nửa năm gần đây trình độ công phu của ngươi ra sao, rồi mới quyết định có nên hay không nên truyền cho ngươi khẩu quyết Tử hà công này.
Thi Đới Tử, Lục Đại Hữu, Nhạc Linh San nghe đại sư ca được truyền thụ Tử hà công, khuôn mặt đều lộ vẻ vô cùng hâm mộ. Cả ba đều biết rằng uy lực của Tử hà công rất lớn, trước nay từng nghe nói trong Hoa Sơn cửu công thì đệ nhất là Tử hà công. Tuy họ biết trong bổn môn võ công không ai mạnh bằng Lệnh Hồ Xung, sau này tất nhiên sẽ là người kế tục ngôi vị chưởng môn, nắm quyền coi sóc môn hộ phái Hoa Sơn nhưng không ngờ sư phụ lại đem đệ nhất thần công của bổn môn ra truyền cho đại sư ca nhanh như vậy. Lục Đại Hữu nói:
– Đại sư ca dụng công rất chăm chỉ, ngày nào đệ tử đem cơm lên đều thấy đại sư ca không luyện công thì cũng chăm chỉ luyện kiếm.
Nhạc Linh San liếc xéo gã một cái, nghĩ bụng: Cái tên Lục hầu nhi này thật là xạo, chỉ muốn bợ đít đại sư ca.
Nhạc phu nhân cười nói:
– Xung nhi, xuất kiếm đi! Ba sư đồ chúng ta cùng đi đấu với tên Điền Bá Quang. Đừng để đến lúc nguy cấp mới ôm chân đức Phật, khi lâm trận mới mài thương; nếu khỏi mài thương thì tốt hơn.
Lệnh Hồ Xung lấy làm lạ hỏi:
– Sư nương, sư nương nói cả ba chúng ta cùng đi đấu với Điền Bá Quang ư?
Nhạc phu nhân cười nói:
– Ngươi ra mặt khiêu chiến với hắn, ta và sư phụ ngươi sẽ đứng trong bóng tối giúp ngươi; bất luận ai giết được hắn cũng đều nói là ngươi giết để tránh khỏi đồng đạo võ lâm sẽ nói ta và sư phụ ngươi thiếu tự trọng.
Nhạc Linh San vỗ tay cười nói:
– Vậy thì hay quá. Đã có gia gia má má hậu thuẫn, ngay cả hài nhi cũng dám khiêu chiến với hắn; sau khi hắn chết cứ nói là hài nhi giết, không phải là tuyệt diệu sao?
Nhạc phu nhân cười nói:
– Con nhỏ này nói càn, ngươi tưởng dễ giết hắn lắm sao? Đại sư ca ngươi thừa chết thiếu sống, đã từng đấu mấy trăm chiêu với Điền Bá Quang, biết rõ thực hư của đối phương, chứ chút công phu nhỏ xíu của ngươi thì đã ăn nhằm gì. Vả lại, ngươi là con gái nhà tử tế, ngay cả cái tên của tên ác tặc này cũng không được nhắc đến, lại càng không được nói chuyện giáp mặt động thủ với hắn.
Đột nhiên nghe soạt một tiếng, thanh kiếm đã phóng đến ngực Lệnh Hồ Xung.
Bà đang cười nói với con gái, không ngờ trong nháy mắt đã rút trường kiếm sau lưng ra đâm thẳng đến chỗ yếu hiểm của Lệnh Hồ Xung. Lệnh Hồ Xung ứng biến cũng rất mau lẹ, liền rút trường kiếm ra đỡ, choang một tiếng, song kiếm giao nhau, chân trái Lệnh Hồ Xung lùi một bước. Nhạc phu nhân phóng liên tiếp sáu chiêu nghe veo véo, sáu tiếng choảng choảng liên hồi, Lệnh Hồ Xung đã đỡ gạt trường kiếm của bà. Nhạc phu nhân quát:
– Trả chiêu đi!
Bà đột ngột thay đổi kiếm pháp, vung kiếm đâm dọc chém ngang cực nhanh, không phải là kiếm pháp của phái Hoa Sơn. Lệnh Hồ Xung biết ngay sư nương đang thi triển phép khoái đao của Điền Bá Quang để tự mình lãnh ngộ mà tìm cách phá giải, sau này mới hy vọng diệt được cường địch.
Lệnh Hồ Xung thấy Nhạc phu nhân xuất chiêu càng lúc càng nhanh, chiêu trước và chiêu sau liên tiếp không còn nhận ra nữa. Nhạc Linh San nói với phụ thân:
– Gia gia, chiêu số này của má má cực kỳ nhanh, nhưng cũng chỉ là kiếm pháp chứ không phải đao pháp. Hài nhi e rằng khoái đao của Điền Bá Quang không đúng như vậy.
Nhạc Bất Quần mỉm cười nói:
– Võ công của Điền Bá Quang vô cùng lợi hại, muốn dùng đao pháp của hắn mà xuất chiêu thì không dễ đâu. Má má của ngươi cũng không mô phỏng đúng đao pháp của hắn, chỉ muốn phát huy chữ “khoái” cho hết cái lâm ly tận chí của chiêu kiếm. Muốn trừ khử Điền Bá Quang, điều cần nhất không phải tìm điểm yếu trong đao pháp mà là tìm cách chế ngự đao pháp thần tốc của hắn để phá giải. Ngươi nhìn kìa, hay quá, Hữu phụng lai nghi.
Lão thấy vai trái của Lệnh Hồ Xung hơi thấp xuống, kiếm quyết tay trái chếch qua rồi khuỷu tay phải co lại, toan ra chiêu Hữu phụng lai nghi. Chiêu này mà dùng vào lúc này thì rất hợp cách, lão vui mừng liền lớn tiếng reo lên.
Không ngờ lão vừa nói chữ “nghi” ra khỏi miệng thì chiêu kiếm của Lệnh Hồ Xung phóng ra lại bất lực, không thể xuyên qua được làn kiếm quang dày đặc của Nhạc phu nhân. Nhạc Bất Quần nhẹ buông tiếng thở dài, nghĩ thầm:
– Chiêu này hắn sử tệ quá.
Nhạc phu nhân ra tay không nương tình. Ba kiếm choảng choảng choảng bức bách Lệnh Hồ Xung đến nỗi tay chân luống cuống.
*****
Nguồn: truyenkimdung


