Tiếu Ngạo Giang Hồ Tác giả: Kim Dung Số Chương: 56 Trạng thái: Hoàn thành

TNGH - Chương 11 - Trong hậu động tình đầu nồng thắm

UDECAREER20/05/2024~71 phút đọc

Sắc mặt Nhạc Bất Quần càng lúc càng nghiêm khắc. Một lúc sau, lão mới hỏi:

– Ngươi biết rõ thiếu nữ họ Khúc kia là người trong Ma giáo, sao không cho nó một kiếm giết đi? Tuy tổ phụ của nó có ơn cứu mạng ngươi nhưng rõ ràng người trong Ma giáo mua ơn bán nghĩa. Chúng làm nhiều thủ đoạn nhằm gây chia rẽ Ngũ Nhạc kiếm phái ta, ngươi không phải thằng ngốc, sao lại không hiểu? Chuyện chúng cứu mạng ngươi bên trong ẩn chứa một âm mưu rất lớn. Lưu Chính Phong là hạng người thông minh tài giỏi như vậy cũng không tránh khỏi cạm bẫy của chúng để đến nỗi thân bại danh liệt, người nhà bị giết hết. Thủ đoạn của bọn Ma giáo hiểm độc vô cùng, ngươi đã nhìn thấy tận mắt. Khi chúng ta đi từ Hồ Nam về đến Hoa Sơn, ta không hề nghe ngươi nói một câu lên án bọn Ma giáo. Xung nhi, ta thấy sau khi bọn chúng cứu mạng ngươi, ngươi không còn phân biệt được chính tà, ngay gian chút nào, đã vậy còn quá hồ đồ nữa. Chuyện như vậy có liên quan rất lớn đến việc an thân lập mệnh của ngươi về sau, ngươi không thể xem nhẹ được.

Lệnh Hồ Xung hồi tưởng lại ngày nào giữa đêm khuya ở chốn hoang sơn, lắng tai nghe Khúc Dương và Lưu Chính Phong hợp tấu đàn sáo. Nếu nói Khúc Dương có tâm địa hiểm độc, cố ý hãm hại Lưu Chính Phong thì vạn lần không thể tin được.

Nhạc Bất Quần thấy sắc mặt Lệnh Hồ Xung có vẻ do dự, hiển nhiên là hắn chưa tin vào lời mình nói. Lão hỏi tiếp:

– Xung nhi, chuyện này quan hệ đến sự hưng suy vinh nhục của phái Hoa Sơn ta và cũng quan hệ đến sự an nguy thành bại của ngươi nữa. Ta chỉ hỏi ngươi: sau này thấy người trong Ma giáo, ngươi có căm ghét như kẻ thù mà quyết giết chúng hay không?

Lệnh Hồ Xung trầm ngâm nhìn sư phụ, lòng vẫn bán tín bán nghi, tự hỏi: Sau này nếu ta thấy người trong Ma giáo có nên hỏi chuyện thị phi cho rõ ràng hay rút kiếm giết ngay?

Chàng không biết phải hành xử vấn đề này thế nào, nên khi sư phụ hỏi, chẳng biết phải trả lời sao.

Nhạc Bất Quần chăm chú nhìn Lệnh Hồ Xung một lúc lâu, thấy hắn không đáp; lão thở dài, nói:

– Lúc này, ngươi trả lời một cách gượng gạo cũng vô nghĩa thôi. Lần này ngươi xuống núi đã làm tổn hại thanh danh của phái ta rất nhiều. Ta phạt ngươi quay mặt vào tường một năm để ngươi suy nghĩ cho thật chín chắn về những chuyện này.

Lệnh Hồ Xung cúi người đáp:

– Dạ, đệ tử xin kính cẩn nhận hình phạt.

Nhạc Linh San nói:

– Quay mặt vào tường một năm ư? Vậy thì trong vòng một năm, mỗi ngày phải quay mặt vào tường mấy giờ?

Nhạc Bất Quần nói:

– Sao lại mấy giờ? Mỗi ngày từ sáng đến tối, ngoài lúc ăn ngủ ra, phải quay mặt vào tường để suy nghĩ.

Nhạc Linh San vội nói:

– Vậy thì làm sao được? Quay mặt vào tường khiến người ta buồn đến chết ư? Chẳng lẽ ngay cả đi đại tiện, tiểu tiện cũng không được phép ư?

Nhạc phu nhân quát:

– Con gái gì mà nói năng khiếm nhã vậy?

Nhạc Bất Quần nói:

– Quay mặt vào tường một năm có gì là nặng? Năm xưa, tổ sư của ngươi phạm tội đã từng bị phạt quay mặt vào tường ba năm sáu tháng trên ngọn Ngọc Nữ không rời một bước.

Nhạc Linh San lè lưỡi nói:

– Vậy thì quay mặt vào tường một năm coi như là nhẹ ư? Kỳ thực đại sư ca nói “Hễ gặp ni cô đánh bạc tất thua” hoàn toàn là do lòng tốt muốn cứu người chứ có cố ý thóa mạ ai đâu.

Nhạc Bất Quần nói:

– Chính vì lòng tốt nên ta mới phạt hắn một năm quay mặt vào tường. Nếu hắn có ý đồ đen tối, ta đã tát cho hắn rớt răng, cắt cái lưỡi hắn đi rồi.

Nhạc phu nhân nói:

– Linh nhi, ngươi không được lý sự với gia gia nữa. Đại sư ca của ngươi ở trên ngọn Ngọc Nữ để ăn năn hối lỗi, ngươi đừng có lên đó tán gẫu với hắn, nếu không thì ý định tốt đẹp của gia gia ngươi đối với hắn sẽ bị ngươi làm hỏng đi.

Nhạc Linh San nói:

– Giam đại sư ca ở trên ngọn Ngọc Nữ còn cho là có ý định tốt sao? Không cho hài nhi được chuyện trò với đại sư ca thì lúc tịch mịch có ai để đại ca chuyện trò giải sầu? Trong một năm, ai sẽ cùng luyện kiếm với hài nhi?

Nhạc phu nhân nói:

– Ngươi đi tán gẫu với hắn, hắn còn quay mặt vào tường ăn năn sám hối sao được? Bao nhiêu sư huynh sư tỷ trên núi ai cũng có thể cùng ngươi luyện kiếm được cả.

Nhạc Linh San nghiêng đầu suy nghĩ một lúc lại hỏi:

– Vậy thì trên đó đại sư ca ăn cái gì? Một năm không xuống núi đại ca phải nhịn ăn chết đói sao?

Nhạc phu nhân nói:

– Ngươi không phải lo, sẽ có người đem cơm cho hắn.

Chạng vạng tối hôm đó, Lệnh Hồ Xung bái biệt sư phụ, sư nương và bọn sư đệ, sư muội, mang thanh trường kiếm tự đi lên ngọn Ngọc Nữ cao vút.

Đỉnh núi có một sơn động làm nơi giam cầm đệ tử các đời của phái Hoa Sơn vi phạm môn quy. Đỉnh núi này nhẵn nhụi, không một cành cây ngọn cỏ nào sống được; ngoài sơn động ra, không còn cái gì khác. Hoa Sơn vốn cây cỏ xanh um, cảnh sắc tuyệt đẹp nhưng trên đỉ nh núi lại khác hẳn. Từ ngàn xưa tương truyền rằng nơi đây là một hạt trân châu đính trên cây thoa của nàng Ngọc Nữ. Các tổ sư phái Hoa Sơn dùng đỉnh núi này làm nơi phạt bọn đệ tử, chủ yếu vì chỗ này không có cây cỏ, không có côn trùng chim muông. Bọn đệ tử bị phạt phải quay mặt vào tường ăn năn hối lỗi không bị ngoại cảnh chi phối, tâm hồn sẽ lắng đọng, an tĩnh.

Lệnh Hồ Xung đi vào sơn động nhìn thấy dưới đất có một tảng đá to bóng loáng, nghĩ bụng: Mấy trăm năm nay, không biết đã có bao nhiêu vị tiền bối phái Hoa Sơn đã từng ngồi lên khiến cho tảng đá này trơn bóng thế này. Lệnh Hồ Xung ngày nay là tên đệ tử đệ nhất ma mãnh, càn quấy của phái Hoa Sơn; tảng đá này mà ta không ngồi lên thì còn ai xứng đáng ngồi nữa? Mà đợi đến ngày hôm nay mới phái ta đến ngồi trên tảng đá này thì có thể coi như ta đã được khoan hồng lắm rồi.

Chàng giơ tay vỗ vỗ vào tảng đá, nói:

– Tảng đá ơi là tảng đá, ngươi đã chịu cô quạnh nhiều năm. Hôm nay đã có Lệnh Hồ Xung đến làm bạn với ngươi đây.

Lệnh Hồ Xung ngồi lên tảng đá, đối diện bức tường đá không quá một thước. Hắn thấy bên trái bức tường ai đó đã khắc ba chữ to “Phong Thanh Dương”, chắc là dùng kiếm để khắc. Nét khắc điêu luyện, sâu vào đến nửa tấc. Hắn nghĩ thầm: Phong Thanh Dương là ai? Có lẽ là một vị tiền bối của bổn phái, đã từng bị phạt quay mặt vào tường. A, đúng rồi, tổ sư gia của ta thuộc hàng chữ “Phong”, vị Phong tiền bối này là thái sư bá hoặc là thái sư thúc tổ của ta. Ba chữ này được khắc bằng kình lực phi phàm như vậy, thì võ công của người nhất định vô cùng thâm hậu. Tại sao sư phụ sư nương trước giờ không đề cập qua chuyện này? Chắc là vị tiền bối ấy không còn trên đời này nữa.

Chàng nhắm mắt ngồi luyện công khoảng nửa canh giờ, đứng dậy thư giãn một chút rồi đi vào thạch động, quay mặt vào tường trầm tư: Sau này ta gặp người trong Ma giáo thì có nên hỏi chuyện thị phi cho rõ ràng hay rút kiếm giết chúng ngay? Chẳng lẽ trong Ma giáo thực sự không có người tốt ư? Nhưng nếu đã là người tốt, tại sao lại gia nhập Ma giáo? Nếu coi như nhất thời lầm đường lạc lối thì cũng nên lập tức rút khỏi Ma giáo mới phải; đã không rút lui là cam tâm cùng với gian tà gây tai họa cho thế nhân.

Lúc này, đầu óc của Lệnh Hồ Xung lại hiện lên rất nhiều tình cảnh, đều là những chuyện ác mà bình thường sư phụ sư nương cùng với các vị tiền bối trên giang hồ kể lại những hành động người trong Ma giáo hại người. Cả nhà Vu lão quyền sư ở Giang Tây gồm hai mươi ba người bị Ma giáo bắt rồi đem đóng đinh lên cây cổ thụ, ngay cả đứa bé ba tuổi cũng không tha. Hai người con trai của Vu lão quyền sư đau đớn suốt ba ngày ba đêm mới chết. Chưởng môn nhân Long Phụng đao ở phủ Tế Nam là Triệu Đăng Khôi cưới con dâu, lúc tân khách đến đầy sảnh, người Ma giáo xông vào cắt thủ cấp của cặp vợ chồng tân nhân đặt ở giữa sảnh đường, nói là làm quà chúc lễ. Hắc lão anh hùng ở Hán Dương mừng đại thọ bảy mươi tuổi, các hảo hán khắp nơi đều đến chúc thọ, không ngờ bị bọn Ma giáo chôn thuốc nổ dưới đại sảnh, châm lửa đốt ngòi dẫn vào cho nổ; anh hùng hảo hán lớp chết lớp bị thương không biết bao nhiêu mà kể. Kỷ sư thúc phái Thái Sơn trong vụ này bị mất một cánh tay, chuyện này do chính miệng Kỷ sư thúc nói ra, tất nhiên tuyệt đối không thể là bịa đặt được. Chàng lại nghĩ đến hai năm trước, trên đại lộ ở Trịnh Châu gặp Tôn sư thúc phái Tung Sơn; hai tay hai chân của lão đều bị chặt đứt hết, hai mắt cũng bị khoét đi, không ngừng kêu la: “Ma giáo hại ta, nhất định phải báo thù! Ma giáo hại ta, nhất định phải báo thù!” Lúc đó phái Tung Sơn đã có người đến tiếp ứng, nhưng Tôn sư thúc bị thương nặng như vậy thì làm sao có thể chữa trị được? Lệnh Hồ Xung nghĩ đến hai mắt của lão bị khoét, bất giác thấy lạnh xương sống, nghĩ thầm: Người trong Ma giáo làm nhiều chuyện ác như vậy, ông cháu Khúc Dương ra tay cứu mình, nhất định không phải là do lòng tốt. Sư phụ hỏi ta sau này gặp người trong Ma giáo có nên hạ sát hay không mà ta còn do dự gì nữa? Đương nhiên là phải rút kiếm ra giết liền.

Lệnh Hồ Xung đả thông được vấn đề này, lòng thấy vô cùng thoải mái. Chàng huýt dài một tiếng, nhắm mắt nhảy lộn ra ngoài động, lúc đang lơ lửng trong không, chàng nhẹ nhàng xoay người hướng ra phía trước rồi hạ xuống, đứng vững lại, trố mắt nhìn thì thấy hai chân mình vừa đạp xuống mép sườn núi, cách bờ vực không đầy hai thước. Vừa rồi nếu chàng dùng lực nhảy mạnh hơn một chút, vượt quá hai thước thì sẽ bị rơi xuống vực sâu vạn trượng, xương thịt đã nát như tương. Lúc nhắm mắt quay người, chàng đã tính toán trước rồi. Ấy là do khi đã quyết định chủ ý gặp người trong Ma giáo thì ra tay giết ngay, lòng không còn vướng bận gì nữa, liền chơi một trò mạo hiểm.

Lệnh Hồ Xung lại nghĩ: Lá gan ta chắc chưa lớn lắm, ít ra nên nhảy ra xa một thước nữa mới xứng danh nam tử.

Bỗng nghe sau lưng có người vỗ tay, cười nói:

– Đại sư ca nhảy tuyệt quá chừng!

Đó chính là giọng nói của Nhạc Linh San. Lệnh Hồ Xung vui mừng quay người lại, thấy Nhạc Linh San tay xách một thùng cơm, cười hì hì nói:

– Đại sư ca, tiểu muội đem cơm đến cho đại sư ca đây!

Cô để thùng cơm xuống, đi vào thạch động, xoay người ngồi xuống tảng đá to, rồi nói:

– Đại sư ca ở đây nhắm mắt xoay mình nhảy trông rất ngộ nghĩnh; tiểu muội cũng muốn làm thử xem.

Lệnh Hồ Xung nghĩ trò chơi này nguy hiểm vô cùng, hành động của mình vừa rồi cũng do một lúc liều mạng mà ra. Võ công của Nhạc Linh San còn thua xa mình, nếu tính trật một chút thì thật là tai hại. Nhưng chàng thấy cô đang cao hứng, cũng không dám ngăn cản, lập tức đứng bên sườn núi để đề phòng. Bản tánh Nhạc Linh San vốn hiếu thắng nên cô muốn hơn đại sư ca, ngấm ngầm tính luồng lực đạo cùng bộ vị, điểm hai chân xuống đất, phóng người lên khoảng không rồi nhẹ nhàng quay người phóng ra phía trước. Cô muốn mình nhảy xa ra gần bờ vực hơn Lệnh Hồ Xung. Lúc vọt người lên, cô vận nội lực mạnh hơn một chút, nên khi thân người rơi xuống, đột nhiên cô sợ hãi mở mắt nhìn, chỉ thấy trước mắt là vực thẳm không đáy. Cô sợ hãi thét to lên.

Lệnh Hồ Xung đưa tay ra nắm chặt cánh tay trái của cô lại. Nhạc Linh San rơi xuống đất, thấy hai chân cách bờ vực chỉ khoảng một thước, đúng là xa hơn Lệnh Hồ Xung. Cô định thần lại, cười nói:

– Đại sư ca, tiểu muội rơi xa hơn đại ca nhiều.

Lệnh Hồ Xung thấy cô ta sợ hãi đến nỗi mặt không còn chút máu, liền vỗ nhẹ lưng cô, cười nói:

– Lần sau chúng ta đừng chơi trò này nữa. Sư phụ sư nương mà biết được sẽ mắng ta một trận, phạt ta phải quay mặt vào tường thêm một năm nữa đó.

Nhạc Linh San đã định thần lại, lùi ra sau hai bước, cười nói:

– Vậy thì tiểu muội cũng bị phạt. Cả hai chúng ta ở đây cùng quay mặt vào tường há chẳng thú vị lắm sao? Ngày ngày, chúng ta có thể thi với nhau xem ai nhảy xa hơn.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Chúng ta ngày ngày ở đây quay mặt vào tường ư?

Chàng nói xong, đưa mắt nhìn vào thạch động, bất giác trong đầu bâng khuâng, thầm nghĩ: Nếu ta được cùng tiểu sư muội ở đây ngày đêm không rời nhau trong một năm thì ngay cả thần tiên cũng không hạnh phúc bằng ta. Ôi, làm gì có chuyện đó được!

Hắn bèn nói:

– Chỉ sợ sư phụ bắt sư muội quay mặt vào tường trong Chính khí hiên, không cho rời một bước. Vậy thì chúng ta cả năm không thể gặp nhau được.

Nhạc Linh San nói:

– Như vậy không công bằng. Tại sao đại sư ca có thể ở đây chơi mà lại bắt tiểu muội giam mình ở Chính khí hiên?

Nhưng cô nghĩ phụ mẫu quyết không cho phép mình ngày đêm ở trên đỉnh núi bầu bạn với đại sư ca, liền nói lảng sang chuyện khác:

– Đại sư ca, má má đã phái Lục hầu nhi đưa cơm đến cho đại sư ca. Tiểu muội nói với hầu nhi: “Lục sư ca, mỗi ngày sư ca phải trèo lên xuống đỉnh núi cao vút này, dù sư ca có là hầu nhi thì cũng rất vất vả. Chi bằng để tiểu muội thay thế sư ca, nhưng sư ca trả công cho tiểu muội cái gì?” Lục hầu nhi nói: “Sư nương phái ta làm việc này, ta đâu dám trốn tránh trách nhiệm. Vả lại, đại sư ca rất yêu thương ta, ta đem cơm cho đại ca một năm, mỗi ngày được gặp đại ca một lần thì mới sảng khoái, có gì đâu mà gọi là vất vả?” Đại sư ca, đại sư ca thấy Lục hầu nhi nói vậy có tệ hại không?

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Hắn nói như vậy là đúng đó.

Nhạc Linh San nói:

– Lục hầu nhi còn nói: “Bình thường, ta vẫn muốn nhờ đại sư ca dạy cho vài chiêu công phu, tiểu muội mà đến thì ta bị đuổi đi không được nói chuyện nhiều với đại sư ca nữa”. Sao lại có chuyện đó được, Lục hầu nhi ăn nói thật vớ vẩn. Y lại còn nói: “Trong vòng một năm bắt đầu từ hôm nay, chỉ còn một mình ta có thể lên núi gặp đại sư ca còn sư muội thì không được gặp đại sư ca nữa”. Tiểu muội tức muốn điên vì Lục sư ca không đếm xỉa gì đến tiểu muội. Sau đó… sau đó…

Lệnh Hồ Xung nói:

– Sau đó tiểu muội rút kiếm ra dọa hắn phải không?

Nhạc Linh San lắc đầu nói:

– Không phải, sau đó tiểu muội tức quá khóc òa lên. Lục hầu nhi mới năn nỉ tiểu muội, nhường cho tiểu muội được đem cơm lên cho đại sư ca.

Lệnh Hồ Xung nhìn gương mặt xinh xắn của cô, thấy đôi mắt còn hơi sưng, quả nhiên cô đã khóc thật. Bất giác lòng chàng thấy thương cảm vô cùng. L ệnh Hồ Xung nghĩ: Sư muội đối với ta nặng tình như vậy thì ta có vì cô ta mà chết đến trăm ngàn lần cũng cam lòng.

Nhạc Linh San mở thùng đựng cơm, lấy hai chiếc đĩa, hai cái bát, hai đôi đũa để trên tảng đá. Lệnh Hồ Xung nói:

– Có đến hai cái bát và hai đôi đũa ư?

Nhạc Linh San cười nói:

– Tiểu muội cũng ăn một chút với đại sư ca. Đại sư ca xem thử đây là cái gì?

Từ trong thùng, cô lấy ra một hồ rượu. Lệnh Hồ Xung quý rượu như tính mạng của mình, vừa thấy có rượu, hắn liền đứng dậy xá dài Nhạc Linh San rồi nói:

– Đa tạ sư muội. Ta đang buồn vì sợ suốt năm không có một hớp rượu để uống.

Nhạc Linh San mở nắp hồ rượu, đưa hồ cho Lệnh Hồ Xung rồi cười nói:

– Đại sư ca không được uống nhiều. Mỗi ngày tiểu muội chỉ có thể đánh cắp một hồ rượu cho đại sư ca; lấy nhiều sợ bị má má biết.

Lệnh Hồ Xung uống cạn hồ rượu rồi mới ăn cơm. Theo quy củ của phái Hoa Sơn, tên đệ tử nào lên đỉnh núi quay mặt vào tường sám hối thì phải cữ rượu thịt, chỉ được ăn chay. Vì vậy, nhà bếp chỉ nấu chay cho Lệnh Hồ Xung gồm một đĩa rau xanh, một bát đậu hũ. Nhạc Linh San nghĩ mình và đại sư ca đã qua cơn hoạn nạn, cô ăn uống rất ngon lành. Hai người ăn cơm xong, Nhạc Linh San ngồi lại trò chuyện gần tối mới thu dọn bát đĩa xuống núi.

Từ đó mỗi ngày vào lúc hoàng hôn, Nhạc Linh San đem cơm lên đỉnh núi và hai người cùng ăn cơm. Buổi trưa Lệnh Hồ Xung ăn cơm rau còn lại của ngày hôm trước.

Lệnh Hồ Xung tuy ở một mình trên đỉnh núi cao nhưng không cảm thấy buồn chán. Sáng sớm dậy, chàng ngồi luyện công, ôn lại kiếm pháp, khí công mà sư phụ đã truyền, còn ngấm ngầm suy nghĩ đao pháp của Điền Bá Quang và chiêu “Vô song vô đối, Ninh thị nhất kiếm” của sư nương chế ra. “Ninh thị nhất kiếm” tuy chỉ có một chiêu nhưng bao hàm cả tuyệt chỉ khí công và kiếm pháp của phái Hoa Sơn. Lệnh Hồ Xung tự biết nội công kiếm thuật của mình chưa đạt được cảnh giới đó, cứ miễn cưỡng tập luyện thì chỉ có hại nhiều hơn là có lợi, cho nên mỗi ngày, chàng tăng cường luyện nội công. Cứ như vậy, tuy gọi là bị phạt quay mặt vào tường ăn năn sám hối nhưng thật ra chẳng quay mặt vào tường, và cũng chẳng ăn năn sám hối gì cả. Ngoài lúc hoàng hôn cùng với Nhạc Linh San nói chuyện ra, thì mỗi ngày chàng không phải lo điều gì, chỉ chuyên chú luyện công thôi.

Trải qua hơn hai tháng, đỉnh Hoa Sơn càng ngày càng lạnh lẽo. Lại trải qua mấy ngày, Nhạc phu nhân đan cho Lệnh Hồ Xung chiếc áo ấm, rồi sai Lục Đại Hữu đem lên. Sáng sớm hôm ấy trời lại nổi cơn gió bấc, đến giữa trưa thì mưa tuyết rơi xuống.

Lệnh Hồ Xung thấy trời đầy mây xám đen, trận mưa tuyết chắc không nhỏ , liền nghĩ: Đường lên đỉnh núi hiểm trở, tuyết rơi đến chiều tối cũng không ngớt, đường trơn vô cùng. Tiểu sư muội không nên đem cơm lên cho ta nữa.

Nhưng chàng không có cách nào báo tin xuống núi được nên lòng rất lo lắng, chỉ mong sư phụ và sư nương biết chuyện này đưa lời ngăn cản. Chàng lại nghĩ: Ngày nào tiểu sư muội cũng thay Lục Đại Hữu đem cơm lên cho ta, lẽ nào sư phụ và sư nương chẳng biết? Chắc tại hai vị làm ngơ mà thôi. Nếu hôm nay tiểu sư muội lại lên núi nữa, lỡ trượt chân thì nguy tính mạng, mong rằng sư nương nhất định không cho sư muội lên núi.

Đến chiều, chốc chốc hắn lại nhìn xuống núi. Trời tối dần, quả nhiên Nhạc Linh San không lên núi. Lệnh Hồ Xung thấy lòng nhẹ nhõm, tự nhủ: Đến sáng mai, Lục sư đệ nhất định sẽ mang cơm lên cho mình; chỉ mong sao sư muội đừng mạo hiểm.

Chàng định vào động nằm ngủ, bỗng nghe trên đường lên núi có tiếng chân sột soạt rồi tiếng Nhạc Linh San gọi:

– Đại sư ca, đại sư ca!

Lệnh Hồ Xung vừa kinh hãi vừa vui mừng, vội chạy ra bên sườn núi. Trong màn tuyết rơi giống như từng đám lông ngỗng bay phất phơ, Nhạc Linh San lần từng bước đi lên đỉnh núi trơn trượt.

Lệnh Hồ Xung vì sư mệnh ngăn cản, không dám bước xuống núi nửa bước, chỉ vươn tay ra đón cô. Khi tay trái của Nhạc Linh San đụng đến tay phải của chàng, Lệnh Hồ Xung nắm chặt tay cô, nhấc bổng lên đỉnh núi.

Trong ánh sáng mờ mờ, chàng thấy toàn thân cô phủ đầy tuyết, ngay cả đầu tóc cũng trắng xóa. Trên trán bên trái bị sưng lên một cục giống cái trứng gà nhỏ, máu vẫn còn đang rướm ra. Lệnh Hồ Xung lắp bắp:

– Sư muội… sư muội…

Miệng Nhạc Linh San méo xệch, cô nói như muốn khóc:

– Tiểu muội bị trượt chân té ngã, làm rớt thùng cơm của đại sư ca xuống vực thẳm rồi. Đại sư ca… đại sư ca tối nay phải nhịn đói.

Lệnh Hồ Xung vừa xúc động vừa thương cảm, giơ tay áo lên nhè nhẹ chấm vào vết thương của cô rồi dịu dàng nói:

– Tiểu sư muội, đường lên núi trơn như vậy, tiểu sư muội không nên lên đây nữa.

Nhạc Linh San nói:

– Tiểu muội chỉ lo đại ca không có cơm ăn, vả lại… vả lại tiểu muội muốn gặp đại sư ca.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Nếu tiểu muội lỡ trượt chân rớt xuống vực thẳm thì làm sao ta dám nhìn mặt sư phụ và sư nương nữa.

Nhạc Linh San mỉm cười nói:

– Đại ca đừng lo lắng như vậy, chẳng phải tiểu muội đang đứng sờ sờ ra đây sao? Nhưng đáng tiếc là tiểu muội vô dụng, lúc vội leo lên núi lại làm rơi mất cơm rượu.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Cầu mong cho sư muội được bình an thì ta có nhịn ăn mười ngày cũng chẳng sao.

Nhạc Linh San nói:

– Lúc lên được nửa núi thì đường đi trơn ướt quá chừng; tiểu muội dùng hết sức bước, lại vịn vào những gốc cây tùng mà lên núi. Lúc đó tiểu muội sợ té xuống vực thẳm vô cùng.

Lệnh Hồ Xung năn nỉ:

– Tiểu sư muội, sư muội nghe lời ta đi. Sau này sư muội đừng vì ta mà mạo hiểm nữa. Nếu tiểu sư muội lỡ trượt chân té xuống vực thẳm thì ta đây chắc phải nhảy theo tiểu muội.

Ánh mắt của Nhạc Linh San lộ vẻ vui mừng vô hạn, nói:

– Đại sư ca, thật ra đại sư ca không nên lo lắng như vậy. Tiểu muội đem cơm lên cho đại sư ca lỡ trượt chân té xuống là do tại mình không cẩn thận, đại sư ca hà tất phải lo lắng làm chi?

Lệnh Hồ Xung lắc đầu chầm chậm nói:

– Không phải vì lòng ta lo lắng. Nếu người đem cơm là Lục hầu nhi thì dù sư đệ có trượt chân té xuống nguy hiểm đến tính mạng, ta cũng không nhảy theo đâu.

Lệnh Hồ Xung nói tiếp:

– Ta chỉ tận lực phụng dưỡng phụ mẫu của hắn, chiếu cố người nhà của hắn, chớ không vì chuyện này mà chết theo Lục sư đệ được.

Nhạc Linh San nói nhỏ:

– Nhưng nếu người bị chết là tiểu muội thì đại sư ca không muốn sống nữa ư?

Lệnh Hồ Xung đáp:

– Đúng vậy, tiểu sư muội. Nhưng đó không phải là vì tiểu sư muội đem cơm cho ta. Nếu tiểu sư muội đem cơm cho người khác mà gặp chuyện nguy hiểm thì ta đây cũng quyết không sống nữa.

Nhạc Linh San nắm chặt lấy tay của Lệnh Hồ Xung, tình cảm nồng nàn. Cô gọi khẽ:

– Đại sư ca!

Lệnh Hồ Xung muốn dang tay ra ôm cô vào lòng nhưng không dám. Bốn mắt nhìn nhau bất động, tuyết vẫn rơi xuống mỗi lúc một nhiều, dần dần tựa hồ như cả hai đã biến thành hai người tuyết.

Một lúc sau, Lệnh Hồ Xung mới nói:

– Tối nay một mình tiểu sư muội không thể xuống núi được nữa. Sư phụ và sư nương có biết tiểu muội lên đây không? Nếu hai vị phái người lên đây đưa tiểu muội xuống núi thì hay quá.

Nhạc Linh San nói:

– Sáng nay, gia gia vừa nhận được thư của Tả minh chủ phái Tung Sơn nói là có chuyện cần thương nghị nên gia gia và má má xuống núi đi rồi.

Lệnh Hồ Xung hỏi:

– Vậy có ai biết tiểu muội lên đây không?

Nhạc Linh San cười nói:

– Không. Không ai biết cả. Nhị sư ca, tam sư ca, tứ sư ca và Lục hầu nhi; cả bốn người theo gia gia má má đi Tung Sơn, không ai biết tiểu muội lên đây với đại sư ca cả. Nếu không thì Lục hầu nhi nhất định giành mang cơm với tiểu muội rồi, thật là phiền phức. A, đúng rồi, có tiểu tử Lâm Bình Chi thấy tiểu muội lên đây nhưng tiểu muội đã dọa hắn không được bép xép, nếu không thì ngày mai tiểu muội sẽ đánh cho hắn một trận nên thân.

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Ui chao, sư tỷ oai phong quá chừng!

Nhạc Linh San cười nói:

– Tất nhiên rồi. Dễ gì có người gọi tiểu muội bằng tỷ tỷ, không làm oai làm giá há không uổng lắm ư? Không giống như đại sư ca, ai cũng gọi là “đại sư ca” thì còn gì thú vị nữa.

Cả hai cùng cười. Lệnh Hồ Xung nói:

– Tối nay tiểu muội không thể về được rồi, đành phải tá túc lại trong thạch động này một đêm, sáng mai hãy xuống núi.

Nói xong Lệnh Hồ Xung liền nắm tay cô dẫn vào trong động.

Thạch động nhỏ hẹp, chỉ vừa đủ cho hai người dung thân, khó bề xoay xở. Cả hai ngồi đối mặt nhau nói chuyện trên trời dưới đất cho đến nửa đêm. Nhạc Linh San nói càng lúc càng nhỏ dần rồi thiếp đi.

Lệnh Hồ Xung sợ cô ta bị lạnh, bèn cởi áo ngoài của mình đắp lên người cô. Ngoài động ánh tuyết phản chiếu, thấy lờ mờ nét mặt xinh xắn của Linh San. Lệnh Hồ Xung nghĩ thầm: Ân tình của sư muội đối với ta nặng như vậy thì ta có vì sư muội mà tan xương nát thịt cũng nguyện cam lòng.

Chàng lặng lẽ trầm tư. Từ nhỏ ta đã không có cha mẹ, hoàn toàn nhờ sư phụ sư nương nuôi dưỡng đến lớn, thương yêu như con ruột. Ta là đại đệ tử của chưởng môn phái Hoa Sơn, không những nhập môn sớm nhất mà võ công cũng cao cường hơn bọn sư đệ, sau này chắc chắn là người kế thừa ngôi vị của sư phụ, lên nắm quyền phái Hoa Sơn. Mà tiểu sư muội lại đối với mình nặng ân tình như vậy thì ân đức sâu dày của sư môn thật khó báo đáp. Chỉ vì tính tình ta nóng nảy không biết tự kìm chế, lúc nào cũng làm cho sư phụ và sư mẫu tức giận, phụ lòng kỳ vọng của hai vị. Từ nay về sau, ta phải sửa đổi tính nết, nếu không thì không những có lỗi với sư phụ và sư mẫu mà còn có lỗi ngay cả tiểu sư muội nữa.

Lệnh Hồ Xung nhìn mái tóc của Nhạc Linh San bay phất phơ, đang lúc ngơ ngẩn xuất thần, bỗng nghe cô ta kêu khẽ:

– Tiểu Lâm tử, ngươi không nghe lời ta, lại đây ta đánh ngươi mới được.

Lệnh Hồ Xung sửng sốt, nhưng thấy mắt cô vẫn nhắm nghiền. Chàng bèn nghiêng người lắng nghe, hơi thở cô vẫn đều đều, biết là cô đang nằm mơ. Chàng cười thầm trong bụng, nghĩ: Sư muội được làm sư tỷ nên ra vẻ oai phong lắm. Chắc mấy ngày nay, Lâm sư đệ bị sư muội kêu đến rồi quát đi, phải chịu ấm ức nhiều phen. Trong giấc mơ, tiểu muội cũng không quên quát mắng hắn.

Lệnh Hồ Xung ngồi cạnh Nhạc Linh San cho đến sáng, không chợp mắt chút nào. Chiều hôm qua Nhạc Linh San vì quá mệt nên ngủ đến giờ Thìn mới tỉnh dậy. Thấy Lệnh Hồ Xung đang nhìn mình mỉm cười, cô vươn vai ngáp dài một cái rồi cười nói:

– Đại sư ca dậy sớm vậy?

Lệnh Hồ Xung không cho cô biết suốt đêm mình thức trắng, chỉ cười nói:

– Tiểu sư muội nằm mơ thấy gì vậy? Lâm sư đệ bị tiểu sư muội đánh đòn phải không?

Nhạc Linh San ngoẹo đầu suy nghĩ một lúc rồi cười nói:

– Đại sư ca nghe tiểu muội nói mớ phải không? Tiểu tử Lâm Bình Chi này bướng bỉnh lắm, hắn không nghe lời tiểu muội. Hi hi, tiểu muội ban ngày mắng hắn, khi ngủ cũng mắng hắn nữa.

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Hắn đã đắc tội ra sao với tiểu muội?

Nhạc Linh San cười nói:

– Trong mơ tiểu muội bảo hắn đi luyện kiếm với tiểu muội bên thác nước; hắn từ chối ba lần bảy lượt không chịu đi. Tiểu muội lừa hắn đến bên thác nước rồi xô hắn xuống.

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Ui chao, sao tiểu muội làm vậy, lỡ xảy ra án mạng thì sao?

Nhạc Linh San cười nói:

– Là mơ chứ đâu có phải là thật, đại sư ca lo lắng làm gì? Hay là đại sư ca sợ tiểu muội giết tiểu tử này thật?

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Ngày nghĩ sao đêm chiêm bao làm vậy. Ban ngày tiểu muội muốn giết Lâm sư đệ lắm rồi nên nghĩ quanh nghĩ quẩn, tối ngủ mới nằm mơ như vậy.

Nhạc Linh San bĩu môi nói:

– Tiểu tử này thật vô dụng, chỉ một bộ kiếm pháp nhập môn đã luyện ba tháng rồi mà chẳng ra làm sao cả. Hắn dụng công dữ lắm, luyện ngày luyện đêm khiến cho ai thấy cũng phát bực. Tiểu muội muốn giết hắn thì cần gì phải suy nghĩ, chỉ giơ kiếm lên một cái là giết hắn ngay.

Tay cô giơ ngang quơ một cái làm thế đánh một chiêu Hoa Sơn kiếm pháp.

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Bạch vân xuất tụ mà phát ra thì đầu của gã họ Lâm rơi xuống đất ngay.

Nhạc Linh San cười khanh khách nói:

– Nếu tiểu muội sử chiêu Bạch vân xuất tụ này thì nhất định cái đầu của hắn rơi xuống đất thật cũng không chừng.

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Tiểu sư muội được làm sư tỷ, thấy kiếm pháp của sư đệ kém cỏi thì nên chỉ điểm cho hắn mới phải, sao động một tí là đòi vung kiếm giết? Sau này sư phụ nhận thêm đệ tử, đều là sư đệ của sư muội. Sư phụ nhận thêm một trăm đệ tử, chỉ trong vòng mấy ngày bị sư muội giết hết chín mươi chín người, vậy thì làm sao đây?

Nhạc Linh San vịn vào vách đá, cười ngặt nghẹo nói:

– Đại ca nói đúng lắm. Tiểu muội chỉ giết chín mươi chín người thôi, phải chừa lại một tên mới được. Nếu giết hết thì ai gọi tiểu muội bằng sư tỷ nữa?

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Nếu sư muội giết hết chín mươi chín tên sư đệ thì tên thứ một trăm chắc cũng bỏ trốn đi luôn, tiểu muội đâu còn làm sư tỷ được nữa?

Nhạc Linh San cười nói:

– Lúc đó tiểu muội bắt đại sư ca gọi tiểu muội là sư tỷ.

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Ta gọi sư muội là sư tỷ cũng không sao, nhưng sư muội có giết ta không?

Nhạc Linh San cười nói:

– Nếu nghe lời thì không giết, còn không nghe lời thì sẽ giết.

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Tiểu sư tỷ, cầu xin tiểu sư tỷ nương tình cho.

Lệnh Hồ Xung thấy tuyết đã ngừng rơi, sợ bọn sư đệ sư muội phát hiện không thấy Nhạc Linh San đâu, sẽ nói bóng nói gió thì sẽ vô cùng có lỗi với Nhạc Linh San. Chàng nói đùa một lúc nữa rồi hối thúc cô xuống núi. Nhạc Linh San quyến luyến chưa muốn đi, bèn nói:

– Tiểu muội muốn ở đây chơi thêm một chút nữa; gia gia má má đều không có ở nhà, buồn chết đi được.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Sư muội ngoan, mấy ngày nay ta đã nghĩ ra mấy chiêu Hồ – Linh kiếm pháp, đợi sau khi ta xuống núi, sẽ cùng tiểu muội đến thác nước luyện kiếm.

Chàng dỗ dành một lúc lâu, cô mới chịu xuống núi. Chiều hôm đó, Cao Căn Minh đem cơm lên núi, nói rằng Nhạc Linh San bị cảm, sốt li bì, đang nằm trên giường, lúc nào cũng nghĩ đến đại sư ca, bảo gã lúc đem cơm lên phải nhớ mang thêm rượu. Lệnh Hồ Xung giật mình kinh hãi, vô cùng lo lắng, biết chiều hôm qua cô ta bị trượt ngã, quá sợ hãi nên sinh bệnh, hận không được chạy xuống núi để thăm cô. Tuy đã nhịn đói hai ngày một đêm, nhưng bưng bát cơm lên, chàng cảm thấy nghèn nghẹn khó nuốt. Cao Căn Minh biết đại sư ca và tiểu sư muội yêu thương nhau thắm thiết, vừa nghe nói sư muội bị bệnh, đại sư ca đã lo âu vạn phần, gã khuyên:

– Đại sư ca không nên lo lắng quá. Hôm qua tuyết rơi nhiều, chắc tiểu sư muội ham chơi tuyết nên bị cảm lạnh. Chúng ta đều là người tu luyện nội công, một chút cảm mạo như vậy không có gì đáng ngại, chỉ uống một hai thang thuốc thì sẽ khỏi ngay.

Nào ngờ Nhạc Linh San bệnh đến mười mấy ngày, cho đến lúc hai vợ chồng Nhạc Bất Quần trở về, dùng nội lực để tống khí lạnh ra khỏi người cô, cô mới thuyên giảm. Đến lúc cô lên núi lại thì đã trải qua hai mươi mấy ngày.

Hai người xa nhau lâu giờ mới gặp lại nhau, vừa mừng vừa tủi. Nhạc Linh San nhìn sắc mặt Lệnh Hồ Xung, kinh hãi nói:

– Đại sư ca, đại sư ca cũng bị bệnh sao? Sao lại ốm nhom như vậy?

Lệnh Hồ Xung lắc đầu nói:

– Ta đâu có bệnh. Ta… ta…

Nhạc Linh San chợt hiểu ra, bỗng òa lên khóc, nói:

– Đại sư ca, đại sư ca vì thương nhớ tiểu muội đến nỗi ốm nhom như vậy ư? Đại sư ca, tiểu muội đã khỏe rồi đây.

Lệnh Hồ Xung nắm lấy tay nàng khẽ nói:

– Mấy ngày nay, ta ngày đêm nhìn theo con đường xuống núi, mong sư muội từng giờ từng khắc. Tạ ơn trời đất, cuối cùng tiểu sư muội cũng đến đây.

Nhạc Linh San nói:

– Tiểu muội lúc nào cũng thấy hình ảnh đại sư ca.

Lệnh Hồ Xung lấy làm lạ hỏi:

– Tiểu muội lúc nào cũng thấy được ta ư?

Nhạc Linh San nói:

– Đúng vậy, lúc tiểu muội bệnh, hễ nhắm lại là thấy ngay đại sư ca. Ngày hôm đó, tiểu muội phát sốt dữ dội, má má nói tiểu muội nói nhảm, toàn là trò chuyện với đại ca. Đại sư ca, má má biết chuyện tối hôm đó tiểu muội lên đây ở lại với đại sư ca rồi.

Lệnh Hồ Xung đỏ mặt, lòng hắn có chút sợ hãi, hỏi:

– Sư nương có nổi giận không?

Nhạc Linh San đáp:

– Má má không nổi giận, nhưng… nhưng…

Cô nói đến đây, hai má bỗng nhiên ửng hồng, không nói tiếp nữa. Lệnh Hồ Xung nói:

– Nhưng làm sao?

Nhạc Linh San nói:

– Tiểu muội không nói đâu.

Lệnh Hồ Xung thấy cô e thẹn, lòng hắn ngẩn ngơ, vội định thần lại, nói:

– Tiểu sư muội, tiểu sư muội bệnh nặng mới đỡ một chút, không nên lên đây sớm như vậy. Ta biết bệnh tiểu muội đã thuyên giảm, lúc ngũ sư đệ và lục sư đệ đem cơm lên cho ta ăn đều nói cho ta nghe hết rồi.

Nhạc Linh San hỏi:

– Vậy sao đại sư ca lại ốm đến như vậy?

Lệnh Hồ Xung cười cười nói:

– Tiểu muội mà hết bệnh thì ta lập tức mập ra ngay.

Nhạc Linh San nói:

– Đại sư ca nói thật với tiểu muội, trong mấy ngày nay, mỗi bữa đại sư ca ăn được mấy bát cơm? Lục hầu nhi nói đại sư ca chỉ uống rượu chứ không ăn cơm, có khuyên đại sư ca, đại sư ca cũng không nghe. Đại sư ca, đại sư ca… tại sao không bảo trọng thân mình?

Cô nói đến đây thì hai mắt đỏ lên.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Hắn nói lung tung, tiểu muội đừng thèm nghe. Bất luận nói chuyện gì, Lục hầu nhi đều dặm mắm thêm muối, ta đâu chỉ có uống rượu mà không ăn cơm?

Chàng nói đến đây, một trận gió thổi đến, Nhạc Linh San bị lạnh run lên cầm cập. Trời đang vào lúc trọng đông, trên đỉnh núi gió lộng bốn bề, không một cành cây cản gió. Hoa Sơn vốn đã vô cùng rét lạnh, ở trên đỉnh núi càng rét lạnh hơn. Lệnh Hồ Xung vội nói:

– Tiểu sư muội, tiểu sư muội chưa được khỏe hẳn, lúc này ngàn lần không thể để bị lạnh nữa. Mau mau xuống núi đi; đợi hôm nào có nắng, tiểu muội hoàn toàn bình phục hãy lên thăm ta.

Nhạc Linh San nói:

– Tiểu muội đâu có lạnh. Mấy ngày nay nếu trời không nổi gió thì tuyết vẫn rơi, nếu đợi lúc có nắng thì không biết đến bao giờ mới có.

Lệnh Hồ Xung vội nói:

– Muội muội lại bị bệnh thì biết làm sao? Ta… ta…

Nhạc Linh San thấy dáng vẻ Lệnh Hồ Xung tiều tụy, nghĩ bụng: Nếu ta lại bệnh nữa thì chắc đại sư ca có thể bệnh theo. Trên đỉnh núi cao vút không có người chăm nom, như vậy không phải là ta làm nguy hiểm đến tính mạng của đại ca sao?

Cô liền nói:

– Được, tiểu muội đi đây. Đại ca phải bảo trọng, uống ít rượu một chút, mỗi bữa phải ăn ba bát cơm. Tiểu muội sẽ nói với gia gia là đại ca không được khỏe, nên cần tẩm bổ một chút mới được, không nên ăn chay mãi.

Lệnh Hồ Xung mỉm cười nói:

– Ta không dám phạm giới ăn mặn. Ta thấy tiểu sư muội hết bệnh thì lòng vui mừng lắm, không đầy ba ngày, lập tức sẽ mập lên cho mà coi. Hảo muội tử, hảo muội tử xuống núi đi thôi.

Ánh mắt Nhạc Linh San chứa chan tình cảm, hai má ửng hồng, cô khẽ hỏi:

– Đại sư ca kêu tiểu muội bằng gì?

Lệnh Hồ Xung cảm thấy ngại ngùng nói:

– Ta chỉ buột miệng nói ra. Tiểu sư muội, tiểu sư muội đừng trách.

Nhạc Linh San nói:

– Tiểu muội làm sao mà trách được? Tiểu muội rất thích đại sư ca gọi tiểu muội như vậy.

Lệnh Hồ Xung cảm thấy nóng ran, chỉ muốn dang hai tay ra ôm cô vào lòng, nhưng lập tức nghĩ lại: Tiểu sư muội đối đãi với ta nặng tình như vậy, đương nhiên ta phải kính trọng cô ta, tại sao ta có thể mạo phạm cô ta được? Chàng nghĩ vậy rồi quay người đi, dịu dàng hỏi:

– Lúc tiểu muội xuống núi nhớ đi chầm chậm từng bước một, nếu mệt thì nghỉ một chút, đừng giống như lúc bình thường cứ chạy một mạch.

Nhạc Linh San dạ rồi quay người đi, đến bên sườn núi.

Lệnh Hồ Xung nghe tiếng bước chân của cô xa dần, mới quay người lại, thấy Nhạc Linh San đứng cách đỉnh núi mấy trượng, chàng đứng trân người nhìn cô. Hai người bốn mắt nhìn nhau rất lâu.

Lệnh Hồ Xung nói to:

– Tiểu muội đi chầm chậm thôi, nên về đi.

Nhạc Linh San đáp dạ rồi mới quay người đi thẳng xuống núi.

Ngày hôm đó, Lệnh Hồ Xung cảm thấy chưa bao giờ được hạnh phúc như vậy. Chàng ngồi trên tảng đá, nhịn không được bật cười lên. Đột nhiên chàng huýt dài một tiếng vang dội cả sơn cốc, tiếng huýt tựa hồ như muốn la to:

– Ta hạnh phúc quá, ta hạnh phúc quá!

Ngày hôm sau, tuyết lại rơi, quả nhiên Nhạc Linh San không đến. Nghe Lục Đại Hữu nói, Lệnh Hồ Xung biết cô bình phục rất nhanh, càng ngày càng khỏe ra, lòng vui mừng khôn tả.

Qua hơn hai mươi ngày sau, Nhạc Linh San xách một thùng bánh nếp lên đỉnh núi, nhìn Lệnh Hồ Xung một lúc rồi mỉm cười nói:

– Quả nhiên đại sư ca không gạt tiểu muội, đã mập ra nhiều.

Lệnh Hồ Xung thấy mặt cô hồng hào, cũng cười nói:

– Tiểu muội cũng khỏe lắm rồi, ta thật vui mừng.

Nhạc Linh San nói:

– Ngày nào tiểu muội cũng đòi đem cơm lên cho đại sư ca, nhưng nói sao má má cũng không cho, lại nói nào là trời đang lạnh, rồi nào là khí hậu không tốt, làm như lên đến đỉnh núi sẽ chết ngay không bằng. Tiểu muội nói đại sư ca ngày đêm ở trên đỉnh núi nhưng đại sư ca có bệnh đâu. Má má nói nội công của đại sư ca cao cường, tiểu muội làm sao có thể bì được với đại sư ca. Sau lưng, má má khen đại sư ca, đại sư ca có khoái không?

Lệnh Hồ Xung cười rồi gật đầu nói:

– Ta lúc nào cũng nhớ đến sư phụ sư nương, chỉ mong sớm được gặp mặt hai vị.

Nhạc Linh San nói:

– Cả ngày hôm qua tiểu muội giúp má má làm bánh nếp. Tiểu muội muốn lấy mấy cái bánh nếp đem cho đại ca ăn, nào ngờ không đợi tiểu muội mở miệng, má má đã nói: “Hài nhi đem thùng bánh này lên cho Xung nhi ăn”. Tiểu muội quả thật không ngờ.

Cổ họng Lệnh Hồ Xung nghẹn ngào, nghĩ thầm: Sư nương đối với ta thật tốt.

Nhạc Linh San nói:

– Bánh nếp mới vừa nấu xong, vẫn còn nóng, tiểu muội lột hai cái cho đại sư ca ăn.

Nói rồi cô xách thùng bánh nếp đi vào thạch động, mở dây cột bánh, lột lá ra.

Lệnh Hồ Xung ngửi thấy mùi thơm, thấy Nhạc Linh San đã lột xong bánh rồi liền cầm lấy, cắn một miếng. Bánh này tuy là bánh chay nhưng có nấm rơm, nấm hương, đậu phộng, hạt sen, đậu nành, các thứ này trộn lẫn với nhau, thêm gia vị rất ngon. Nhạc Linh San nói:

– Nấm rơm này là do Tiểu Lâm tử và tiểu muội ngày hôm kia đi hái đấy…

Lệnh Hồ Xung hỏi:

– Tiểu Lâm tử là ai?

Nhạc Linh San cười cười nói:

– Chính là Lâm sư đệ đó. Gần đây tiểu muội cứ gọi hắn là Tiểu Lâm tử. Ngày hôm kia, hắn nói với tiểu muội dưới gốc tùng ở sườn núi phía Đông có nấm rơm. Hắn cùng tiểu muội đi hái cả nửa ngày nhưng chỉ được có nửa thùng. Tuy không hái được nhiều, nhưng gia vị nêm ngon, phải vậy không?

Lệnh Hồ Xung nói:

– Bánh thật ngon, suýt chút nữa ta nuốt cả cái lưỡi vào bụng. Tiểu sư muội, tiểu sư muội đừng mắng mỏ Lâm sư đệ nữa.

Nhạc Linh San nói:

– Tại sao không mắng mỏ? Hắn không nghe lời thì bị mắng ngay. Gần đây, hắn ngoan được một chút, tiểu muội bớt mắng hắn vài câu. Lúc hắn dụng công luyện kiếm có tiến bộ thì tiểu muội cũng khen hắn: “Này, này, Tiểu Lâm tử, chiêu này sử rất đúng, giỏi hơn ngày hôm qua nhiều nhưng còn hơi chậm. Luyện lại, luyện lại”. Hi hi.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Tiểu muội đang dạy hắn luyện kiếm ư?

Nhạc Linh San nói:

– Đúng, có điều hắn nói tiếng Phúc Kiến, bọn sư huynh sư tỷ nghe không hiểu gì cả. Tiểu muội đã đến Phúc Châu, nên hiểu được tiếng của hắn, gia gia bảo tiểu muội lúc rảnh thì chỉ bảo cho hắn. Đại sư ca, tiểu muội không thể lên đỉnh núi thăm đại sư ca nên buồn muốn chết, không có chuyện gì làm thì dạy hắn vài chiêu. Tiểu Lâm tử cũng không đến nỗi ngu, học cũng rất nhanh.

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Thì ra tiểu muội làm sư tỷ rồi kiêm luôn sư phụ; tất nhiên hắn không dám không nghe lời sư muội.

Nhạc Linh San nói:

– Chưa chắc đúng như vậy đâu. Hôm qua tiểu muội bảo hắn đi săn gà rừng với tiểu muội, hắn không chịu, nói là hai chiêu Bạch hồng quán nhật và Thiên thân đảo huyền còn chưa học xong, muốn luyện thêm nữa.

Lệnh Hồ Xung lấy làm lạ nói:

– Hắn lên Hoa Sơn mới có mấy tháng mà đã luyện đến Bạch hồng quán nhật và Thiên thân đảo huyền rồi ư? Tiểu sư muội, kiếm pháp của bổn phái nên luyện theo thứ tự, không thể nhảy vọt như vậy.

Nhạc Linh San nói:

– Đại ca đừng lo, tiểu muội không muốn dạy lung tung cho hắn như vậy đâu. Tiểu Lâm tử rất kiên cường hiếu thắng, hắn luyện cả ngày lẫn đêm. Lúc rảnh muốn nói chuyện với hắn một chút, hắn nói không được ba câu thì liền hỏi ngay đến kiếm pháp. Người ta luyện kiếm pháp trong ba tháng thì hắn chỉ học khoảng nửa tháng là xong. Tiểu muội bảo hắn đi chơi, hắn cũng chẳng bao giờ chiều ý tiểu muội.

Lệnh Hồ Xung trầm ngâm không nói, bỗng nhiên lòng dâng lên một nỗi buồn không thể tả được; cái bánh nếp chỉ ăn mới hai miếng còn cả nửa cái. Chàng cảm thấy trước mắt tối sầm lại.

Nhạc Linh San kéo tay áo của Lệnh Hồ Xung, cười nói:

– Đại sư ca, đại sư ca nuốt nhầm lưỡi vào bụng rồi ư? Sao đại sư ca không nói gì cả?

Lệnh Hồ Xung giật mình, đút luôn nửa cái bánh vào miệng. Cái bánh nếp vốn thơm ngon vô cùng cứ nằm dính trong họng, không cách nào nuốt trôi xuống được.

Nhạc Linh San chỉ tay, cười khanh khách rồi nói:

– Đại sư ca ăn mà cũng vội vàng, để bánh dính chặt vào răng rồi.

Lệnh Hồ Xung cười gượng, cố gắng nuốt miếng bánh xuống cổ họng, nghĩ bụng: Ta ngu thật! Tiểu sư muội thích chơi đùa, ta lại không thể xuống núi được, cô ta bèn kéo Lâm sư đệ để bầu bạn, đó cũng là chuyện bình thường thôi. Sao ta lại nhỏ nhen, để tâm như vậy?

Nghĩ đến đây,chàng cảm thấy bình thường trở lại, cười nói:

– Cái bánh này chắc có tiểu muội ở trong nên mới dính dữ quá, làm cả răng và lưỡi của ta đều dính lại rồi.

Nhạc Linh San cười ha hả, một lúc sau mới nói:

– Đại sư ca thật đáng thương, bị giam ở trên đỉnh núi trọc lóc này nên mới háu ăn như vậy.

Lần này cô xuống núi, mười mấy ngày sau mới lên lại, ngoài cơm rượu ra còn đem thêm một cái giỏ tre nho nhỏ đựng một ít trái tùng khô và hạt dẻ.

Lệnh Hồ Xung mong ngóng cô đến dài cả cổ. Trong mười mấy ngày này, khi Lục Đại Hữu đem cơm lên, hắn hỏi thăm tiểu sư muội thì thấy thần sắc của Lục Đại Hữu hơi kỳ lạ, hỏi mãi cũng không biết được chút gì. Hắn hỏi riết, Lục Đại Hữu bèn nói:

– Tiểu sư muội vẫn rất khỏe, mỗi ngày đều siêng năng dụng công luyện kiếm. Sư phụ không cho cô ta lên đỉnh núi nữa, sợ cô ta quấy rầy làm ảnh hưởng đến việc luyện tập của đại sư ca.

Lệnh Hồ Xung ngày đêm mong nhớ, đột nhiên thấy Nhạc Linh San, lòng không vui sao được? Hắn thấy cô tinh thần phấn chấn, kiều diễm thướt tha hơn trước lúc bị bệnh, không kìm được hoài nghi, tự hỏi: Cô ta đã sớm mạnh khỏe rồi, mà sao lâu ngày mới lên đỉnh núi thăm ta? Chẳng lẽ sư phụ sư nương cấm đoán thật ư?

Nhạc Linh San thấy thần sắc Lệnh Hồ Xung lộ vẻ lúng túng, mặt cô chợt hồng lên. Cô nói:

– Đại sư ca, đã lâu ngày không lên thăm đại sư ca, đại sư ca có trách tiểu muội không?

Lệnh Hồ Xung nói:

– Ta sao trách tiểu muội được? Chắc sư phụ, sư nương không cho tiểu muội lên đây nữa, có phải không?

Nhạc Linh San nói:

– Đúng vậy, má má dạy tiểu muội luyện một bộ kiếm pháp mới, nói rằng kiếm pháp này biến hóa rất phức tạp, nếu tiểu muội lên đỉnh núi chuyện trò với đại sư ca thì sẽ bị phân tâm ngay.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Bộ kiếm pháp gì vậy?

Nhạc Linh San nói:

– Đại ca thử đoán xem.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Dưỡng ngô kiếm phải không?

Nhạc Linh San nói:

– Không phải.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Hy di kiếm phải không?

Nhạc Linh San lắc đầu nói:

– Đoán sai nữa rồi.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Chẳng lẽ là Thục nữ kiếm?

Nhạc Linh San lè lưỡi nói:

– Đây là bản lĩnh sở trường của má má, tiểu muội chưa có tư cách để luyện Thục nữ kiếm đâu. Nói cho đại sư ca nghe, đó là Ngọc nữ kiếm thập cửu thức đó.

Cô nói đang luyện chiêu kiếm này với vẻ rất đắc ý. Lệnh Hồ Xung hơi kinh ngạc, nói:

– Tiểu sư muội đã bắt đầu luyện Ngọc nữ kiếm thập cửu thức rồi ư? Bộ kiếm pháp này vô cùng phức tạp.

Chàng nói xong, lòng lập tức trút bỏ hết mọi hiềm nghi. Bộ Ngọc nữ kiếm này tuy chỉ có mười chín chiêu thức, nhưng mỗi chiêu thức đều biến hóa phức tạp, nếu nhớ không rõ ràng thì ngay cả một chiêu thức cũng không sử được. Chàng từng nghe sư phụ nói: “Bộ Ngọc nữ kiếm thập cửu thức này ý nghĩa là ở chỗ biến ảo kỳ diệu, vẫn dựa vào nguyên tắc lấy khí sử kiếm của phái Hoa Sơn nhưng vẫn khác với kiếm pháp Hoa Sơn”. Sức lực của nữ đệ tử tương đối yếu, lúc gặp phải kình địch, có thể dùng kỹ xảo của kiếm pháp này để thắng sự vụng về, nhưng nam đệ tử thì không cần phải học.

Lệnh Hồ Xung không học qua bộ kiếm pháp này. Công lực của Nhạc Linh San dường như cũng chưa đủ để luyện. Nhưng ngày trước Lệnh Hồ Xung và Nhạc Linh San cùng với các sư huynh sư muội cùng xem sư phụ và sư nương chiết giải bộ kiếm pháp này, sư phụ sử cả kiếm pháp tấn công của các môn phái khác nhau, sư nương trước sau vẫn sử Ngọc nữ kiếm thập cửu thức để chống đỡ. Mười chín chiêu Ngọc nữ kiếm vẫn đấu ngang cơ với mấy trăm chiêu kiếm cao minh của hơn mười môn kiếm pháp khác nhau. Lúc đó bọn đệ tử nhìn hoa cả mắt, vô cùng kinh ngạc và thán phục. Nhạc Linh San bèn năn nỉ mẫu thân dạy cho. Nhạc phu nhân nói: “Tuổi hài nhi còn nhỏ , thứ nhất là công lực chưa đủ, thứ hai là luyện bộ kiếm này sẽ làm tổn thương tinh thần, hãy đợi đến hai mươi tuổi mới học. Vả lại, bộ kiếm pháp này chuyên dùng để chế ngự chiêu kiếm của các phái khác, nếu để sư huynh sư muội của bổn môn chiết chiêu với hài nhi, luyện đi luyện lại sẽ biến thành một thứ kiếm pháp chuyên chế ngự kiếm pháp của phái Hoa Sơn. Xung nhi đã học rất nhiều, nhớ được nhiều kiếm pháp bên ngoài, đợi Xung nhi rảnh rỗi cùng với hài nhi chiết chiêu luyện tập”. Chuyện này đã qua gần hai năm, từ đó về sau không ai nhắc đến nữa, không ngờ sư nương lại dạy cho cô.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Lúc này chắc sư phụ cao hứng lắm, mỗi ngày cùng với tiểu muội chiết chiêu.

Bộ kiếm pháp này quan trọng ở chỗ tùy cơ ứng biến, quyết không thể câu nệ ở chiêu thức, hễ ra tay luyện thì phải chiết chiêu. Trong phái Hoa Sơn, chỉ có Nhạc Bất Quần và Lệnh Hồ Xung am hiểu nhiều thứ kiếm pháp của các phái khác. Nhạc Linh San muốn luyện Ngọc nữ kiếm thập cửu thức thì phải chính Nhạc Bất Quần đứng ra chỉ dạy; mỗi ngày cô cùng với lão chiết giải vài chiêu.

Mặt Nhạc Linh San lại ửng hồng, e thẹn nói:

– Gia gia có rảnh đâu. Chính Lâm Bình Chi mỗi ngày cùng với tiểu muội chiết chiêu đó.

Lệnh Hồ Xung lấy làm lạ hỏi:

– Lâm sư đệ ư? Hắn hiểu được nhiều kiếm pháp của các phái khác ư?

Nhạc Linh San cười nói:

– Hắn chỉ hiểu được có một thứ Tịch tà kiếm pháp gia truyền của nhà hắn mà thôi. Gia gia nói bộ Tịch tà kiếm pháp này uy lực tuy không mạnh nhưng biến chiêu rất thần kỳ, có thể mượn để áp dụng vào đó được. Tiểu muội luyện Ngọc nữ kiếm thập cửu thức có thể bắt đầu đối kháng với Tịch tà kiếm pháp của hắn được rồi.

Lệnh Hồ Xung gật đầu nói:

– Thì ra là như vậy.

Nhạc Linh San nói:

– Đại sư ca, hình như đại sư ca không vui?

Lệnh Hồ Xung nói:

– Đâu có! Ta làm sao mà không vui? Tiểu sư muội luyện được bộ kiếm pháp thượng thừa của bổn môn, ta vui mừng không hết, làm sao mà không vui được!

Nhạc Linh San nói:

– Nhưng tiểu muội thấy vẻ mặt của đại sư ca rõ ràng là không vui chút nào.

Lệnh Hồ Xung gượng cười, nói:

– Tiểu sư muội luyện đến chiêu thứ mấy rồi?

Nhạc Linh San không đáp, một lúc sau mới nói:

– Đúng rồi, thì ra má má nói để đại sư ca giúp tiểu muội chiết chiêu cho, vậy mà bây giờ tiểu muội lại nhờ Tiểu Lâm tử chiết chiêu, cho nên đại ca không bằng lòng, phải vậy không? Nhưng đại ca ơi, đại sư ca ở trên đỉnh núi này không thể xuống được; tiểu muội lại rất nóng lòng muốn sớm luyện kiếm pháp, vì vậy không thể đợi đại sư ca được.

Lệnh Hồ Xung cười ha hả nói:

– Tiểu muội lại nói chuyện như con nít rồi. Sư huynh sư muội đồng môn ai chiết chiêu giúp tiểu sư muội cũng vậy thôi.

Chàng ngừng một lúc, rồi cười nói tiếp:

– Ta biết tiểu sư muội muốn Lâm sư đệ chiết chiêu với tiểu muội, chứ không muốn chiết chiêu với ta.

Mặt Nhạc Linh San ửng hồng, nói:

– Đừng nói vớ vẩn! Bản lĩnh của Tiểu Lâm tử so với đại sư ca cách nhau một trời một vực, muốn cùng hắn chiết chiêu có gì hay ho đâu?

Lệnh Hồ Xung nghĩ bụng: Lâm sư đệ mới nhập môn có vài tháng, dù hắn có thực sự thông minh đến đâu cũng chẳng đáng là bao, bèn nói:

– Muốn hắn chiết chiêu tất nhiên vẫn có chỗ hay. Mỗi chiêu của tiểu muội đều có thể giết được hắn mà hắn không có cách nào trở tay, há không phải là điều thích thú sao?

Nhạc Linh San cười khanh khách rồi nói:

– Cái món Tịch tà kiếm pháp mèo què của hắn làm sao chống đỡ nổi?

Lệnh Hồ Xung biết rõ tính khí tiểu sư muội vô cùng hiếu thắng, đoán rằng cô ta cùng với Lâm Bình Chi chiết chiêu, bộ kiếm pháp mới luyện này tự nhiên dùng đến thì lòng ứng với tay, chiêu kiếm nào cũng chiếm được thượng phong. Võ công đối thủ lại thấp, quả thực là điều kiện để tập luyện tốt. Những buồn phiền lập tức tan biến, Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Vậy thì để ta giúp tiểu muội chiết giải mấy chiêu, xem Ngọc nữ kiếm thập cửu thức của tiểu sư muội đã luyện được tới đâu rồi.

Nhạc Linh San vui mừng, cười nói:

– Hay quá, hôm nay… hôm nay tiểu muội lên đỉnh núi là muốn…

Cô bẽn lẽn rút thanh trường kiếm ra. Lệnh Hồ Xung nói:

– Hôm nay tiểu sư muội lên đây là muốn thi triển kiếm pháp mới học cho ta xem chứ gì. Nào, xuất chiêu đi!

Nhạc Linh San cười nói:

– Đại sư ca, kiếm pháp của đại sư ca trước nay vẫn hơn tiểu muội, nhưng khi tiểu muội đã luyện xong Ngọc nữ kiếm thập cửu thức thì không sợ đại sư ca ăn hiếp đâu.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Có bao giờ ta ăn hiếp tiểu sư muội đâu? Thật là nói oan cho người tốt.

Nhạc Linh San dựng thanh trường kiếm lên nói:

– Sao đại sư ca còn chưa rút kiếm ra?

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Làm sao mà tiểu sư muội vội vàng quá vậy?

Chàng nói rồi tay trái thủ thế theo kiếm quyết, đồng thời chưởng tay phải phóng ra, nói:

– Đây là Tùng Phong kiếm pháp của phái Thanh Thành. Chiêu này gọi là Tùng đào như lôi.

Lệnh Hồ Xung dùng chưởng làm kiếm đâm thẳng vào bả vai của Nhạc Linh San.

Nhạc Linh San nghiêng người lùi lại, vung kiếm đỡ chưởng của Lệnh Hồ Xung rồi la lên:

– Cẩn thận đó!

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Không cần khách khí, lúc đỡ không được thì ta sẽ rút kiếm ra.

Nhạc Linh San giận dỗi nói:

– Đại sư ca dám dùng tay không đấu với Ngọc nữ kiếm thập cửu thức của tiểu muội sao?

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Bây giờ tiểu muội chưa luyện xong. Sau khi luyện xong, ta đây đâu dám đấu tay không.

Trong mấy ngày nay, Nhạc Linh San khổ luyện Ngọc nữ kiếm thập cửu thức, tự cảm thấy kiếm thuật của mình tiến bộ rất nhanh, nếu so sánh với các tay cao thủ hạng nhất trên giang hồ, cũng không thua ai. Mười mấy ngày cô không lên đỉnh núi vì dụng ý không muốn tiết lộ cho đại sư ca biết, hy vọng chàng nghe đến là phải kinh sợ, khiến chàng phải khâm phục. Không ngờ đại sư ca lại vô cùng khinh thị, chỉ dùng song chưởng để đỡ Ngọc nữ kiếm thập cửu thức của mình. Cô nghiêm mặt nói:

– Nếu kiếm của tiểu muội làm đại sư ca bị thương thì đại sư ca đừng trách, và cũng đừng mách lẻo lại cho gia gia má má hay nghen.

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Dĩ nhiên rồi, tiểu sư muội tận lực thi triển. Nếu ra tay mà nương tình thì không thể nào phát huy được bản lĩnh vốn có.

Lệnh Hồ Xung nói xong chưởng tay trái đột nhiên phát ra nghe vù một tiếng, la lên:

– Cẩn thận!

Nhạc Linh San giật mình sợ hãi, la lên:

– Sao… sao? Đại sư ca cũng dùng tay trái làm kiếm ư?

Chưởng vừa rồi của Lệnh Hồ Xung nếu đánh ra thực sự thì bả vai của Nhạc Linh San sẽ bị thương.

Chàng thu nội lực lại, không phát ra nữa rồi cười nói:

– Phái Thanh Thành có mấy người sử dụng song kiếm.

Nhạc Linh San nói:

– Đúng! Tiểu muội đã từng thấy mấy tên đệ tử phái Thanh Thành mang song kiếm, nhưng quên xem chúng ra chiêu thế nào.

Cô nói xong liền rút kiếm lại. L ệnh Hồ Xung thấy thế kiếm đánh tới giống như chiêu số thượng thừa trong Ngọc nữ kiếm, liền khen:

– Chiêu kiếm này rất tốt, nhưng xem ra vẫn chưa nhanh lắm.

Nhạc Linh San nói:

– Chưa nhanh lắm ư? Nếu nhanh nữa thì tiểu muội đã chặt đứt cánh tay của đại sư ca rồi.

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Tiểu sư muội chặt thử xem.

Nói rồi hắn vung tay phải thành kiếm, đâm thẳng vào vai trái cô.

Nhạc Linh San vẫn còn tức, liền vung kiếm như gió, đem từng thức vừa luyện được trong Ngọc nữ kiếm thập cửu thức sử ra hết. Kiếm pháp thập cửu thức này, cô chỉ còn nhớ chín thức, mà trong chín thức này cô thực sự có thể dùng được không quá sáu thức, nhưng sáu thức của kiếm pháp này đã đầy đủ uy lực rồi. Mũi kiếm chĩa tới đâu, Lệnh Hồ Xung không thể đến gần được tới đó. Lệnh Hồ Xung quay quanh cô ta đấu giỡn chơi, mỗi lần chàng đâm ra phía trước đều bị chiêu kiếm lợi hại của cô ta bức văng ra, có lần chàng vội nhảy về phía sau, lưng bị đụng mạnh vào những mỏm đá lồi ra trên vách núi. Nhạc Linh San rất khoái chí, cười nói:

– Còn chưa rút kiếm ra ư?

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Đợi một chút.

Chàng dẫn dụ cô ta đem từng chiêu Ngọc nữ kiếm sử ra hết, lại đấu thêm một lúc nữa, thấy cô ta giở đi giở lại cũng chỉ có thể sử được sáu thức, hắn đã tỏ tường hết rồi liền phóng về trước, chưởng tay phải đánh ra, miệng la lên:

– Sát thủ Tùng Phong kiếm, cẩn thận!

Thế chưởng đánh ra rất mạnh. Nhạc Linh San thấy hắn vung chưởng đánh xuống đầu mình, vội giơ kiếm lên đỡ. Chiêu này đúng vào ý nghĩ của Lệnh Hồ Xung, tay trái hắn phóng về phía trước, ngón giữa búng ra, keng một tiếng, hắn búng đúng vào sống của thanh trường kiếm. Hổ khẩu của Nhạc Linh San đau buốt, cầm kiếm không vững, trường kiếm bay đi, rơi thẳng xuống vực thẳm.

Sắc mặt của Nhạc Linh San tái xanh, trừng mắt nhìn Lệnh Hồ Xung, mím môi cắn chặt răng, không nói nên lời nào.

Lệnh Hồ Xung kêu lên:

– Trời ơi!

Chàng vội xông đến bên sườn núi, thanh kiếm đã rơi xuống vực sâu ngàn trượng rồi, không còn thấy gì cả. Bỗng trong lúc đó, bên sườn núi thấp thoáng một bóng xanh, tựa hồ như hình ảnh một tà áo. Lệnh Hồ Xung định thần nhìn lại thì chẳng thấy gì nữa. Trống ngực chàng đập thình thịch, thầm nghĩ:

– Ta làm sao vậy? Ta làm sao vậy? Ta cùng với tiểu sư muội tỉ kiếm với nhau không biết đã mấy trăm lần, lúc nào cũng nhường nhịn cô ta, nhưng lần này lại ra tay không nương tình. Ta hành động càng lúc càng kỳ cục.

Nhạc Linh San quay người nhìn xuống vực thẳm rồi kêu lên:

– Thanh kiếm, trời ơi thanh kiếm!

Lệnh Hồ Xung càng lo lắng, biết trường kiếm của tiểu sư muội là thứ vũ khí sắc bén tan vàng nát ngọc, gọi là Bích thủy kiếm. Ba năm trước, sư phụ đến Long Tuyền tỉnh Triết Giang tìm được; tiểu sư muội vừa trông thấy thanh kiếm đã thích ngay không muốn rời tay. Cô xin sư phụ mấy lần, sư phụ vẫn không cho; đợi đến sinh nhật lần thứ mười tám của cô, sư phụ mới lấy ra tặng cô làm quà. Bây giờ thanh kiếm rơi xuống vực thẳm không thể lấy lại được nữa. Chàng quá sai lầm rồi.

Chân trái của Nhạc Linh San dẫm xuống đất, nước mắt lăn dài trên má, quay người toan xuống núi. Lệnh Hồ Xung gọi:

– Tiểu sư muội!

Nhạc Linh San không thèm nghe, chạy thẳng xuống núi.

Lệnh Hồ Xung đuổi theo đến bên sườn núi, định nắm tay cô. Ngón tay hắn mới chạm đến tay áo cô, lại rút về. Cô không hề quay lại mà đi thẳng xuống núi.

Lệnh Hồ Xung buồn bã, nghĩ bụng: Trước đây đối với sư muội, bất cứ chuyện gì ta cũng hết sức nhường nhịn, tại sao hôm nay lại lấy ngón tay bật văng thanh bảo kiếm của sư muội đi? Chẳng lẽ sư nương đã truyền cho sư muội Ngọc nữ kiếm thập cửu thức thì ta lại có ý đố kỵ với sư muội sao? Không, quyết không phải như vậy. Ngọc nữ kiếm thập cửu thức vốn là công phu của nữ đệ tử phái Hoa Sơn, huống hồ bản lĩnh của tiểu sư muội càng cao bao nhiêu thì ta càng vui sướng bấy nhiêu. Ôi, vì ta ở một mình trên đỉnh núi này quá lâu nên tính khí thất thường. Chỉ mong ngày mai tiểu sư muội lại lên đỉnh núi này, ta sẽ xin lỗi cô ta mới được.

Tối hôm đó chàng không sao ngủ được, ngồi xếp bằng trên tảng đá luyện khí công một lúc, cảm thấy tinh thần khó an định, nên không dám luyện công nữa. Ánh trăng soi vào động tỏa sáng trên vách đá. Lệnh Hồ Xung thấy ba chữ lớn “Phong Thanh Dương” trên vách, liền giơ ngón tay ra, lần theo vết khắc của chữ lồi lõm trên vách, viết lại từng nét.

Ngay lúc đó, trước mặt chợt tối đen; một cái bóng in lên vách đá. Lệnh Hồ Xung giật mình kinh hãi, thuận tay chụp thanh trường kiếm bên mình, chưa kịp rút kiếm ra khỏi vỏ đã lập tức xoay tay đâm ngược về phía sau. Kiếm đâm đến giữa chừng, chàng mừng rỡ gọi:

– Tiểu sư muội!

Lệnh Hồ Xung dừng tay không phóng kiếm ra nữa, quay người lại, chỉ thấy một người đàn ông đang đứng cách cửa động hơn một trượng, thân hình ốm nhách, mình mặc thanh bào. Người này quay lưng về hướng ánh trăng, mặt quấn tấm vải xanh, chỉ để lộ ra hai mắt, hiển nhiên là chàng chưa bao giờ thấy qua. Lệnh Hồ Xung lớn tiếng hỏi:

– Các hạ là ai?

Rồi liền phóng khỏi thạch động, rút trường kiếm ra. Người đó không đáp, đưa tay phải ra đánh liền hai chưởng về phía phải. Đó lại là hai chiêu trong Ngọc nữ kiếm thập cửu thức mà Nhạc Linh San đã sử. Lệnh Hồ Xung ngạc nhiên, ý nghĩ thù địch biến mất, bèn hỏi:

– Các hạ là tiền bối của môn phái nào?

Đột nhiên, một luồng kình phong xông thẳng đến, tạt vào mặt Lệnh Hồ Xung. Không kịp nghĩ ngợi, chàng vung kiếm ra nhưng đã nghe đầu vai trái hơi đau. Chàng đã bị trúng một chưởng của người đó, nhưng dường như người đó chưa vận hết nội lực. Lệnh Hồ Xung vô cùng kinh sợ, vội lùi sang trái mấy bước. Người đó không truy kích, biến chưởng thành kiếm, trong khoảnh khắc đã sử đủ sáu chiêu trong Ngọc nữ kiếm thập cửu thức đến mấy chục lần. Mấy chiêu này được nối liền như một chiêu duy nhất, thủ pháp cực kỳ mau lẹ, thật ngoài sức tưởng tượng. Mỗi chiêu đều lấy từ các chiêu mà ban ngày Nhạc Linh San cùng với Lệnh Hồ Xung đã chiết giải qua, bây giờ dưới ánh trăng Lệnh Hồ Xung mới nhìn thấy rõ. Nhưng làm sao có thể đem mấy chục chiêu kiếm pháp nối liền lại giống như chỉ sử một chiêu? Nhất thời chàng há hốc miệng, toàn thân cứng đờ ra.

Người đó phất tay áo rồi quay người đi thẳng xuống núi.

Lệnh Hồ Xung gọi lớn:

– Tiền bối, tiền bối!

Chàng nhìn xuống núi, nhưng chỉ thấy một làn ánh sáng xanh lè, rồi chẳng thấy gì nữa.

Lệnh Hồ Xung hít một luồng khí lạnh, nghĩ: Lão là ai? Sao lại sử đúng các chiêu trong Ngọc nữ kiếm thập cửu thức? Ta vạn lần cũng không thể bật trúng trường kiếm trong tay lão; ngược lại mỗi chiêu của lão đều có thể đâm trúng vào ta. Không hiểu sao muốn đâm lão lại không đâm, muốn chém ta lão lại không chém? Sáu chiêu thức của Ngọc nữ kiếm thập cửu thức này, Lệnh Hồ Xung chỉ có nghe luyện từng chiêu mà thôi. Thì ra bộ kiếm pháp này lại có đại uy lực như vậy. Chàng lại chuyển ý nghĩ: Hiển nhiên uy lực không phải ở chiêu kiếm mà do phương pháp sử kiếm của lão. Lão sử kiếm như vậy, bất luận chiêu thức dù bình thường nhất ta vẫn không đối phó được. Vậy lão là ai? Sao lại lên được trên đỉnh Hoa Sơn này?

Chàng suy nghĩ đến bể đầu cũng chẳng giải đáp được gì nhưng vẫn cho rằng sư phụ và sư nương chắc biết lai lịch của người này. Ngày mai tiểu sư muội lên đây, nhờ sư muội chuyển lời hỏi sư phụ và sư nương thì rõ.

Nhưng ngày sau đó Nhạc Linh San không lên đỉnh núi, ngày thứ ba, ngày thứ tư cũng không lên. Cho đến ngày thứ mười tám cô ta mới cùng với Lục Đại Hữu lên núi. Lệnh Hồ Xung mong chờ mười tám ngày đêm mới thấy cô đến, chàng có nhiều điều muốn thổ lộ với cô, nhưng có Lục Đại Hữu bên cạnh nên không tiện nói ra.

Sau khi ăn cơm xong, Lục Đại Hữu hiểu tâm ý của Lệnh Hồ Xung bèn nói:

– Đại sư ca, tiểu sư muội, hai người đã lâu không gặp nhau nên chuyện trò thêm một lúc. Tiểu đệ đem thùng cơm về trước đây.

Nhạc Linh San cười nói:

– Lục hầu nhi, sư huynh muốn trốn ư? Hai người đến sao lại về một người?

Cô nói xong liền đứng dậy.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Tiểu sư muội, ta có chuyện muốn nói với sư muội.

Nhạc Linh San nói:

– Được rồi, đại sư ca muốn nói gì thì Lục hầu nhi cũng đứng đây để nghe đại sư ca giáo huấn.

Lệnh Hồ Xung lắc đầu nói:

– Không phải ta muốn giáo huấn. Thanh Bích thủy kiếm của tiểu muội…

Nhạc Linh San ngắt lời, nói:

– Tiểu muội nói với má má là lúc luyện Ngọc nữ kiếm thập cửu thức vì không cẩn thận nên tuột tay làm rơi xuống vực thẳm không tìm thấy được. Tiểu muội khóc một trận, má má không trách mắng tiểu muội mà còn an ủi mấy câu, lại nói lần sau sẽ tìm cho tiểu muội một thanh kiếm tốt hơn. Chuyện đã qua rồi, đại sư ca nhắc lại làm chi?

Nói xong cô giang hai tay ra cười.

Nhạc Linh San càng không muốn nhắc đến chuyện đó, Lệnh Hồ Xung càng cảm thấy áy náy. Chàng nói:

– Sau khi mãn hạn phạt xuống núi, nhất định ta sẽ đi khắp giang hồ tìm một thanh bảo kiếm đền cho tiểu sư muội.

Nhạc Linh San cười nói:

– Mình là sư huynh sư muội với nhau, còn nhắc đến thanh kiếm để làm gì? Huống hồ thanh kiếm đó đích xác là do tiểu muội vuột tay làm rơi xuống vực thẳm, chỉ giận tiểu muội học nghệ không thông, chứ trách ai được? Ai cũng “Làm hết sức mình, ra sao thì ra” mà thôi!

Cô nói xong cười lên khanh khách. Lệnh Hồ Xung không hiểu hỏi:

– Tiểu muội nói cái gì vậy?

Nhạc Linh San cười nói:

– A, đại sư ca không biết, đây là câu mà Tiểu Lâm tử thường nói, nó có nghĩa gần như “Làm hết sức lực của mình, còn bao nhiêu dựa vào mệnh trời”. Hắn nói huyên thuyên không ngừng, tiểu muội học lấy câu đó để làm trò cười hắn. Ha ha “Làm hết sức mình, ra sao thì ra”!

Lệnh Hồ Xung cười gượng, bỗng nghĩ ra: Hôm đó tiểu sư muội sử Ngọc nữ kiếm thập cửu thức, tại sao ta lại dùng Tùng Phong kiếm pháp của phái Thanh Thành để chiết giải với sư muội? Phải chăng là ta có chủ tâm đối phó với Tịch tà kiếm pháp của Lâm sư đệ? Họ Lâm ở Phước Oai tiêu cục đều bị nhà tan cửa nát dưới tay của phái Thanh Thành, mà ta lại cố ý châm biếm hắn, ta là hạng nhỏ nhen ích kỷ vậy sao?

Lệnh Hồ Xung xoay chuyển ý nghĩ: Hôm ở trong Quần Ngọc viện thành Hành Sơn, ta xém chút nữa mất mạng dưới chưởng của Dư Thương Hải, may nhờ Lâm sư đệ không màng đến sự an nguy tính mệnh, la lên: “Ỷ lớn hiếp nhỏ, cái đồ mặt mâm” nên Dư Thương Hải mới không phóng chưởng ra. Tóm lại Lâm sư đệ có thể nói là có ân cứu mạng ta.

Lệnh Hồ Xung nghĩ đến đây, bất giác cảm thấy hổ thẹn, thở phào một cái rồi nói:

– Lâm sư đệ tư chất thông minh, lại chịu khó rèn luyện, mấy tháng nay lại được tiểu sư muội chỉ điểm kiếm pháp, chắc võ công của y tiến bộ nhanh lắm. Nhưng đáng tiếc là trong một năm ta không xuống núi được, nếu không y đã có ân với ta thì ta cần giúp đỡ y luyện kiếm mới phải.

Nhạc Linh San nhướng mày hỏi:

– Tiểu Lâm tử sao lại có ân với đại sư ca? Tiểu muội chưa từng nghe hắn nhắc qua bao giờ.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Dĩ nhiên y không tự nói ra đâu.

Rồi Lệnh Hồ Xung đem tình cảnh ngày hôm đó kể tỉ mỉ lại. Nhạc Linh San nghe xong, nói:

– Thảo nào gia gia cứ khen hắn là người có hiệp khí, cho nên mới cứu hắn ra khỏi tay Tái Bắc minh đà. Tiểu muội thấy hắn ngu ngốc, nào ngờ hắn cũng đã từng cứu mạng đại sư ca.

Cô nói đến đây, không nhịn được nữa bèn cười lên rồi nói tiếp:

– Chỉ có một chút bản lĩnh nhỏ nhoi, hắn lại cứu được đại sư huynh phái Hoa Sơn và cũng từng vì đứa con gái của chưởng môn phái Hoa Sơn mà ra tay giết đứa con cưng của chưởng môn phái Thanh Thành. Hai việc này đã đủ để hắn nổi tiếng oanh liệt trong võ lâm một thời. Nhưng không ai ngờ anh chàng đại hiệp thích ôm chuyện bất bình quyết ra tay, hi hi, Lâm Bình Chi, Lâm đại hiệp mà võ công lại quá tầm thường như vậy.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Võ công có thể luyện thành nhưng nghĩa khí hào hiệp thì do trời sinh ra; nhân phẩm cao hay thấp là ở chỗ này.

Nhạc Linh San mỉm cười nói:

– Lúc tiểu muội nghe gia gia và má má đề cập đến Tiểu Lâm tử cũng nói như vậy. Đại sư ca, ngoài tính nghĩa hiệp ra, về mặt khí phách, đại sư ca và Tiểu Lâm tử cũng giống nhau đó.

Lệnh Hồ Xung hỏi:

– Cái gì, còn khí phách nữa ư? Nóng tính phải không?

Nhạc Linh San cười nói:

– Đâu phải, đó là sự cao ngạo. Hai người cao ngạo quá mức.

Lục Đại Hữu bỗng nhiên nói xen vào:

– Đại sư ca là thủ lĩnh của bọn sư huynh sư muội, có một chút cao ngạo cũng phải, ở Hoa Sơn này, gã họ Lâm kia là cái thá gì mà cũng đòi vênh mặt cao ngạo?

Giọng nói của Lục Đại Hữu đầy vẻ căm ghét Lâm Bình Chi. Lệnh Hồ Xung ngây người ra, hỏi:

– Lục sư đệ, Lâm sư đệ có khi nào đắc tội với sư đệ không?

Lục Đại Hữu hậm hực nói:

– Hắn không đắc tội với tiểu đệ, nhưng các sư huynh sư đệ không ưa tính tình của hắn.

Nhạc Linh San nói:

– Lục sư ca làm sao vậy? Vì lẽ gì Lục sư ca lại hằn học với Tiểu Lâm tử dữ vậy? Người ta là sư đệ, Lục sư ca làm sư ca thì nên rộng lượng một chút mới phải chứ.

Lục Đại Hữu hừ lên một tiếng rồi nói:

– Nếu hắn biết an phận thủ thường thì thôi, còn không thì họ Lục này là người đầu tiên không dung tha hắn.

Nhạc Linh San nói:

– Sao hắn lại không an phận thủ thường?

Lục Đại Hữu nói:

– Hắn… hắn… hắn…

Hắn nói ba chữ “hắn” thì không nói nữa.

Nhạc Linh San nói:

– Rốt cuộc là chuyện gì mà sư ca ấp a ấp úng hoài vậy?

Lục Đại Hữu nói:

– Ta mong rằng Lục hầu nhi này bị đui mắt nên nhìn lầm mà thôi.

Đôi má Nhạc Linh San ửng hồng, không hỏi nữa. Lục Đại Hữu đòi về, Nhạc Linh San cùng theo hắn xuống núi.

Lệnh Hồ Xung đứng bên sườn núi trân trân nhìn theo sau lưng hai người cho đến lúc cả hai rẽ vào khúc quanh. Bỗng nhiên, từ sau khúc quanh vọng lại tiếng hát trong trẻo của Nhạc Linh San; khúc hát rất nhẹ nhàng, lưu loát. Lệnh Hồ Xung và cô ta sống chung nhà từ nhỏ đến lúc trưởng thành, đã nhiều lần chàng được nghe cô hát, nhưng chưa hề nghe qua khúc hát này. Trước đây, Nhạc Linh San thường hát những tiểu khúc Thiểm Tây, âm cuối cùng thường kéo thật dài, ở khe núi nghe càng lảnh lót. Khúc hát này lại giống như châu rơi nước chảy, từng chữ nhả ra tròn trĩnh.

Lệnh Hồ Xung nghiêng đầu lắng nghe lời ca, nghe được mang máng mấy chữ: “Chị em lên núi hái chè”. Nhưng giọng hát cô ta rất kỳ lạ, mười phần thì có đến tám chín chỉ nghe âm mà không hiểu nghĩa. Chàng nghĩ thầm: Tiểu sư muội học khúc tân ca này lúc nào mà hát nghe rất hay. Lần sau tiểu sư muội lên núi mình mời cô ta hát lại một lần nữa nghe xem sao.

Bỗng nhiên, ngực chàng đau nhói giống như bị ai đó đánh một chùy thật mạnh. Hắn bỗng hiểu ra: Đây là sơn ca ở Phúc Kiến do Lâm sư đệ dạy cho cô ta hát!

Đêm hôm đó, tâm tư Lệnh Hồ Xung dậy sóng, không cách nào ngủ được, bên tai như vẫn nghe tiếng hát nhẹ nhàng văng vẳng của Nhạc Linh San với âm sắc sơn ca Phúc Kiến khó hiểu. Mấy lần chàng tự oán trách mình: Lệnh Hồ Xung ơi Lệnh Hồ Xung! Trước kia ngươi tiêu dao tự tại biết chừng nào, hôm nay chỉ vì một khúc hát mà lòng ngươi lại day dứt mãi không thôi, thật uổng cho ngươi là một bậc nam tử hán đại trượng phu quá đỗi.

Dù rằng biết mình không nên nghĩ ngợi như vậy, nhưng âm điệu bài sơn ca Phúc Kiến mà Nhạc Linh San hát cứ văng vẳng bên tai không dứt. Lòng đau đớn vô cùng, chàng cầm trường kiếm lên, đâm chém loạn xạ vào vách đá. Lệnh Hồ Xung cảm thấy một luồng nội lực từ huyệt Đan điền xông lên, bèn vận hết nội lực vung kiếm đâm ra, dường như giống chiêu Vô song vô đối, Ninh thị nhất kiếm của Nhạc phu nhân. Soạt một tiếng, trường kiếm đâm vào vách đá ngập đến tận chuôi.

*****

Nguồn: truyenkimdung

Tiếp tục hành trình học tập cùng UDECAREER

Khám phá các Learning Paths, lựa chọn khóa học phù hợp và bắt đầu với những kỹ năng bạn cần cho giai đoạn hiện tại.

Truy cập UDECAREER Learninghttps://learning.udecareer.com ↗
Mã QR UDECAREER Learning
Quét mã QRđể truy cập UDECAREER Learning trên thiết bị di động.
Đầu trang