Mộ Dung Phục không khỏi kinh hãi. Một mình Đoàn Dự thi triển Lục Mạch Thần Kiếm, y cũng không địch nổi, may mà kiếm pháp của chàng lúc linh nghiệm lúc không, nên y còn có thể nhân lúc sơ hở mà công kích. Còn bản lĩnh Tiêu Phong cùng Hư Trúc thế nào y đã rõ rồi. Mộ Dung Phục bỗng ngẩng đầu lên, lớn tiếng gọi: “Biểu muội! Biểu muội lại đây, ta có chuyện muốn nói!”
Đoàn Dự vừa kinh ngạc vừa hoan hỉ, vội quay đầu nhìn lại, nhưng dưới ánh trăng có thấy bóng người nào đâu? Chàng đang cố nhìn kỹ vào trong rừng, thì đột nhiên thấy huyệt Thiên Trụ sau lưng bị siết chặt, thân thể lại bị nhấc bổng lên. Bây giờ chàng mới biết là bị mắc lừa, liền gượng cười nói: “Mộ Dung huynh lại nổi nóng rồi! Thật không phải là hành động của người quân tử!”
Mộ Dung Phục cười nhạt đáp: “Đối với hạng tiểu nhân như ngươi, thì quân tử để làm gì?” Y xách chàng chạy đến cái giếng khô cách đấy chừng mấy trượng, liệng chàng xuống. Đoàn Dự chỉ kịp kêu lên một tiếng “Úi chao!” thì người đã rớt tõm tới đáy giếng rồi.
Mộ Dung Phục đang định tìm mấy khối đá lớn đậy miệng giếng lại để Đoàn Dự phải chết đói, thì bỗng nghe thanh âm một cô gái gọi: “Biểu huynh! Biểu huynh đã nhìn thấy muội rồi ư? Biểu huynh có việc gì sao không nói đi? Trời ơi! Biểu huynh làm gì Đoàn công tử vậy?” Người nói chính là Vương Ngữ Yên. Mộ Dung Phục ngẩn người ra, lông mày nhăn tít lại. Vừa rồi y nhìn về phía sau Đoàn Dự mà kêu biểu muội, là để cho chàng ngoảnh đầu nhìn lại, rồi nắm lấy yếu huyệt sau lưng chàng quăng xuống giếng. Không ngờ Vương Ngữ Yên đang nấp ở gần đó thật.
Thì ra Vương Ngữ Yên đêm ngày sầu thảm, lo lắng triền miên, ngủ không yên giấc. Nàng đang tựa cửa ngắm trăng, bỗng thấy Mộ Dung Phục xách Đoàn Dự chạy qua, sợ hai người lại đánh nhau. Nàng lo Mộ Dung Phục không địch nổi Lục Mạch Thần Kiếm của Đoàn Dự, nên lập tức theo sau. Hai người đối đáp ra sao, nàng đều nghe rõ hết, rõ ràng Đoàn Dự đem lời phế phủ ra khuyên Mộ Dung Phục, nhưng hắn lại nghĩ chàng có dụng ý khác. Đến khi Mộ Dung Phục kiếm chuyện lừa gạt Đoàn Dự, Vương Ngữ Yên lại tin rằng hắn đã thấy mình thật, liền bước ra.
Vương Ngữ Yên chạy đến bên miệng giếng cúi xuống nhìn, la gọi: “Đoàn công tử! Đoàn công tử! Công tử có bị thương không?” Lúc Đoàn Dự bị liệng xuống, đầu chàng đập xuống đáy giếng, chân giơ lên trời. Chàng đang bất tỉnh, không nghe tiếng Vương Ngữ Yên gọi. Vương Ngữ Yên gọi thêm mấy tiếng mà vẫn không thấy Đoàn Dự trả lời, bèn nghĩ rằng chàng đã chết rồi. Nàng nhớ lại Đoàn Dự đối với mình lúc nào cũng hết lòng hết dạ, phen này lại vì mình mà mất mạng, không cầm lòng được liền khóc rống lên: “Đoàn công tử!… Công tử… không thể chết được!”
Mộ Dung Phục cười gằn nói: “Biểu muội quả đã nặng tình với gã lắm rồi.” Vương Ngữ Yên nghẹn ngào nói: “Y đem lời nói thẳng mà khuyên biểu huynh, sao biểu huynh lại hại mạng y?” Mộ Dung Phục đáp: “Gã là địch thủ của ta. Vừa rồi biểu muội không nghe gã nói ư, gã tận tâm tận lực phá hoại kế hoạch của ta. Hôm trước trên núi Thiếu Thất, gã đã làm cho ta phảị mất thể diện, khiến Mộ Dung Phục này không còn đất đứng trên chốn giang hồ nữa. Gã đã như vậy, dĩ nhiên ta không thể khoan dung được.” Vương Ngữ Yên nói: “Chuyện trên núi Thiếu Thất đúng là y đã sai lầm. Muội đã thống trách y, và y đã chịu nhận lỗi.” Mộ Dung Phục cười nhạt nói: “Chà chà! Y đã chịu nhận lỗi. Chỉ một câu hời hợt như vậy là đủ ư? Biểu muội có biết Mộ Dung Phục này đi lại giang hồ sẽ bị người ta chỉ trỏ, đàm tiếu là ta đã bị bại dưới phép Lục Mạch Thần Kiếm của gã không? Biểu muội thử nghĩ xem, ta sống ở nhân gian còn có gì là lạc thú nữa?”
Vương Ngữ Yên dịu dàng nói: “Biểu huynh! Chuyện thắng bại chỉ nhất thời, có đáng gì mà biểu huynh phải để tâm như thế? Hôm tỉ kiếm trên núi Thiếu Thất, cữu phụ đã mở đường cho biểu huynh rồi. Việc đã qua còn nhắc lại làm chi?” Nàng không hiểu Đoàn Dự ở dưới đáy giếng còn sống hay chết, lại cúi xuống gọi: “Đoàn công tử! Đoàn công tử!…” Nhưng thủy chung vẫn không có tiếng đáp lại.
Mộ Dung Phục nói: “Biểu muội đã nặng tình với gã thì cứ lấy quách gã cho xong, hà tất phải giả vờ quấn quít với ta?” Vương Ngữ Yên chua xót đáp: “Biểu huynh! Muội đối với biểu huynh một lòng thành thực. Chẳng lẽ… chẳng lẽ biểu huynh còn không tin hay sao?” Mộ Dung Phục cười gằn đáp: “Ha ha! Ngươi đối với ta một dạ chân thành ư? Thế thì ở trong nhà giã gạo gần Thái Hồ ngày nọ, ngươi lõa lồ thân thể cùng gã họ Đoàn chui vào đống rơm để làm gì? Đó là việc chính mắt ta trông thấy, còn giả được sao? Khi ấy ta chỉ muốn chém thằng lỏi họ Đoàn một nhát rồi đời, thế mà ngươi lại chỉ điểm cho gã làm khó dễ ta. Ha ha! Ngươi chân tâm vì ta như thế ư? Thật ta không hiểu lòng dạ ngươi ra sao cả.”
Mộ Dung Phục nói đến đây rồi cười khẩy. Vương Ngữ Yên ngẩn người ra, run lên hỏi: “Trong nhà giã gạo bên Thái Hồ… Người che mặt… tự xưng là võ sĩ Tây Hạ…” Mộ Dung Phục ngắt lời: “Đúng thế! Người giả trang làm Lý Diên Tông, võ sĩ nước Tây Hạ, chính là ta đó.” Vương Ngữ Yên khẽ nói: “Thảo nào. Khi đó muội đã đèm lòng nghi hoặc. Cái câu: “Một ngày kia ta làm hoàng đế đất Trung Nguyên…” chính là khẩu khí của biểu huynh. Muội đã sớm biết mà!” Mộ Dung Phục cười nhạt nói: “Ngay lúc ấy mà ngươi biết thì hay hơn, nhưng bây giờ mới biết cũng chưa muộn.” Ngữ Yên đáp: “Biểu huynh! Hôm đó muội bị người Tây Hạ hạ độc, rồi được Đoàn công tử cứu cho, để lên lưng ngựa chạy trốn. Dọc đường gặp mưa lớn, quần áo ướt hết, mới phải chạy vào nhà giã gạo để trú mưa. Biểu huynh… bất tất phải đa nghi.”
Mộ Dung Phục nói: “Thật là một chỗ trú mưa tuyệt diệu! Khi ta đến nơi thì hai người vẫn thủ thỉ với nhau, tên họ Đoàn đưa tay ra sờ má ngươi, ngươi cũng không né tránh. Khi đó ta nói câu gì ngươi còn nhớ không? Ta e rằng bao nhiêu tâm trí ngươi để cả vào gã họ Đoàn, ta có nói gì thì ngươi cũng để ngoài tai”.
Vương Ngữ Yên run lên, hồi tưởng lại chuyện trong nhà giã gạo, câu nói của tên võ sĩ Tây Hạ Lý Diên Tông, lại hiện ra trong đầu nàng rất rõ ràng. Nàng ấp úng đáp: “Khi đó… Khi đó… biểu huynh cười nhạt, hỏi: “Ngươi tự phụ quá. Xem ra ngươi đã nặng tình với gã họ Đoàn này lắm nhỉ?”
Mộ Dung Phục nói: “Ngày ấy ngươi còn nói, nếu ta giết chết thằng lỏi họ Đoàn thì ngươi quyết giết ta để báo thù cho gã. Vương cô nương! Tại hạ nghe cô nương nói câu đó nên mới tha mạng cho gã. Không ngờ nuôi ong tay áo, sau này lên núi Thiếu Thất bị gã làm nhục trước bao nhiêu anh hùng hảo hán.”
Vương Ngữ Yên thấy Mộ Dung Phục không gọi mình là biểu muội, mà lại gọi là Vương cô nương, rồi tự xưng là tại hạ thì lòng nàng se lại. Nhưng nàng bản tính ôn nhu, không muốn cãi nhau với vị biểu huynh kính ái. Nàng chậm rãi đáp: “Biểu huynh! Nếu ngày đó muội nhận ra biểu huynh thì không đời nào lại nói vậy.” Mộ Dung Phục hỏi: “Ngươi có thể không nhận ra mặt ta, vì ta đeo mặt nạ, nhung chẳng lẽ ta đổi giọng nói, ngươi cũng không biết ư? Ngươi không nhận được khẩu âm thì còn được, chẳng lẽ ngươi lại không nhận ra võ công của ta ư? Ha ha! Ngươi hiểu biết võ học rất sâu rộng, bất luận ai ra một chiêu thức nào, ngươi cũng gọi ngay ra được tên chiêu thức cùng môn phái đó. Ta cùng thằng lỏi qua lại hơn trăm chiêu, chẳng lẽ ngươi không nhận ra được hay sao?” Vương Ngữ Yên rụt rè đáp: “Sự thực thì lúc ấy muội cũng đã sinh nghi, nhưng… biểu huynh! Lần đó do chúng ta mấy năm chưa được gặp mặt một lần. Thành ra võ công của biểu huynh, muội không hiểu được đến nơi đến chốn…”
Mộ Dung Phục nghe Vương Ngữ Yên nói thế, lại cho rằng nàng bảo mình võ công tiến bộ rất chậm, không được như dự kiến. Y không nhịn nổi, lại nói: “Ngày ấy, ngươi còn bảo: “Lúc đầu ta thấy đao pháp ngươi phức tạp quả có lấy làm kinh dị, nhưng coi độ năm chục chiêu đã hiểu, nếu gọi là con lừa chỉ biết đá hậu thì hơi ác khẩu, nhưng nói nghiêm chỉnh thì hiểu biết của ngươi còn kém xa ta.” Ngươi nói câu này là khinh bạc ta quá. Vương cô nương! Hiểu biết của ta quả không bằng cô nương, thì cô nương còn theo ta làm chi? Cô nương coi thường ta, nhưng Mộ Dung Phục này đường đường là kẻ trượng phu, không để cô nương coi thường đâu!”
Vương Ngữ Yên tiến lại mấy bước, mở miệng xin lỗi: “Biểu huynh! Ngày đó muội nói năng mạo phạm, bây giờ xin lỗi biểu huynh!” Nói xong, nàng cúi xuống hành lễ rồi nói tiếp: “Thực tình khi đó muội không biết là biểu huynh… Biểu huynh là người đại nhân đại lượng, xin đừng để vào lòng. Muội kính trọng biểu huynh ngay từ thuở nhỏ. Lúc chúng ta chơi đùa với nhau, biểu huynh bảo điều gì, muội cũng nghe theo, có bao giờ dám trái ý đâu? Lúc đó muội không biết mà nói nhăng nói càn, mong biểu huynh nghĩ tới tình cảm đằm thắm ngày xưa mà lượng thứ cho muội một phen.”
Hôm ấy, Vương Ngữ Yên nói mấy câu chạm tự ái Mộ Dung Phục. Y là con người cao ngạo, đã nghe vào tai thì như chôn vào ruột, hết sức tức giận Vương Ngữ Yên. Sau đó hai người có nhiều cơ hội gặp nhau, nhưng trong lòng Mộ Dung Phục vẫn chưa hết hờn giận, nỗi tị hiềm vẫn canh cánh trong lòng. Lúc này y nghe Vương Ngữ Yên nói năng dịu nhẹ, lại thấy nàng dung nhan thoát tục, ánh mắt đằm thắm, thì cũng tin là giữa nàng cùng Đoàn Dự chưa có gì ám muội, những câu nói ngày trước chẳng qua vì vô tâm, chứ không có ý khinh mạn. Y không khỏi động lòng, đưa tay ra nắm lấy tay nàng khẽ gọi: “Biểu muội!”
Vương Ngữ Yên cả mừng, biết biểu huynh đã lượng thứ cho mình. Nàng gục đầu xuống vai y, khẽ nói: “Khi nào biểu huynh tức giận muội điều chi, cứ việc đánh mắng, đừng để trong lòng không nói ra. Biểu huynh! Biểu huynh đừng đi làm phò mã nước Tây Hạ nữa nhé!”
Mộ Dung Phục ôm con người mềm mại trong lòng, tai nghe những lời thánh thót, mũi ngửi hơi thở thơm như hoa lan, bất giác bâng khuâng trong dạ. Nhưng y bỗng nghe nàng nhắc tới việc làm phò mã nước Tây Hạ thì toàn thân lại run lên, bụng bảo dạ: “Hỏng bét! Mộ Dung Phục kia! Ngươi lại mắc vào vòng nhi nữ tình trường, anh hùng khí đoản để lầm lỡ đại sự ư? Ngươi không dứt nổi mối tư tình nhỏ xíu này, thì còn nói gì đến đại sự tranh giành thiên hạ nữa?” Y vội đẩy nàng ra, nói một câu dứt khoát: “Biểu muội! Duyên phận của biểu muội với ta đến đây là hết! Những lời nói, những việc làm của biểu muội, ta không thể quên được!”
Vương Ngữ Yên thê thảm hỏi: “Vừa rồi biểu huynh đã nói là không giận muội.” Mộ Dung Phục đáp: “Ta không giận biểu muội, nhưng… nhưng suốt cuộc đời này thì danh phận của chúng ta chỉ là biểu huynh biểu muội mà thôi” Vương Ngữ Yên lại hỏi: “Thế là biểu huynh không chịu tha lỗi cho muội rồi.”
Trong lòng Mộ Dung Phục, hai ý niệm “tư tình” và “đại nghiệp” đang xung đột nhau rất dữ, y ngẩn người ra một lúc, sau cùng cũng lắc đầu. Vương Ngữ Yên tuyệt vọng hỏi: “Biểu huynh định đi lấy công chúa Tây Hạ, từ đây không nghĩ gì đến tiểu muội nữa ư?” Mộ Dung Phục cố gật đầu mấy cái.
Vương Ngữ Yên trước kia đã nghe Công Dã Càn nói cho biết biểu huynh muốn đi cưới công chúa Tây Hạ, lúc đó nàng đã thấy đau lòng, tìm cách đi thụt lại sau để tránh mặt bọn Đặng Bách Xuyên, nhảy xuống vực thẳm tự tử nhưng được Vân Trung Hạc cứu thoát. Bây giờ nàng nghe chính miệng ý trung nhân nói lời cự tuyệt thì ruột đau như cắt, muốn thổ huyết ra. Đột nhiên nàng nghĩ: “Đoàn công tử kia đối với mình hết dạ say mê, mà mình chẳng để ý đến chàng chút nào. Phen này chàng lại vì mình mà chết, thực là mình đối với chàng quá tàn nhẫn. Bây giờ mình đã không muốn sống nữa rồi. Cái giếng này đã là mồ chôn Đoàn công tử, chắc dưới đáy có nhiều đá nhọn, chỉ rơi xuống là chết ngay. Thôi thì ta chết cùng chàng ở dưới đáy giếng này, để gọi là báo đáp mối thâm tình.” Nghĩ vậy, nàng từ từ đi về phía cái giếng khô, rồi quay lại nói: “Biểu huynh! Muội thành tâm chúc biểu huynh hoàn thành tâm nguyện, lấy được công chúa Tây Hạ, làm được hoàng đế Đại Yên.”
Mộ Dung Phục biết nàng muốn đi tìm cái chết, lập tức vọt tới một bước, toan nắm tay nàng kéo lại, miệng đã suýt kêu: “Không được!” Nhưng y lại nghĩ: “Nếu mình kêu gọi, níu kéo nàng, lại phải dây dưa với nàng, khó mà dứt ra được nữa. Biểu muội dịu dàng đẹp đẽ, thật là hiếm có trên đời. Lấy được người vợ như vậy thì còn gì phải ân hận nữa? Huống hồ từ thuở nhỏ nàng đã có mối tình đằm thắm với mình, nếu một phút mình không kiềm chế được, kết thành mối nghiệt duyên thì công cuộc phục hưng nước Đại Yên sẽ hư hỏng hết.” Hắn suy nghĩ đến đây, mở miệng mà không nói tiếng nào, đưa tay ra, nhưng không kéo Vương Ngữ Yên lại.
Vương Ngữ Yên nhìn thấy thần sắc của Mộ Dung Phục, cũng đoán được tâm sự của hắn muốn ruồng bỏ nàng. Hai người đã là biểu huynh biểu muội, hắn chính mắt thấy nàng đi vào chỗ chết mà không ngăn cản, so với tên Cùng Hung Cực Ác Vân Trung Hạc thì còn tệ hại hơn. Nàng nghĩ thầm: “Con người này đã bạc bẽo đến thế, mình còn nghĩ tới làm chi?” Nàng liền cất tiếng gọi: “Đoàn công tử! Ta cùng công tử chết chung một chỗ! Nói rồi tung mình nhảy lên, đâm đầu xuống giếng.
Mộ Dung Phục kêu lên một tiếng “Úi chao!”, bước lên, giơ tay ra toan chụp lấy chân Vương Ngữ Yên. Bản lĩnh của y mà muốn kéo nàng lại thì chẳng khó gì, nhưng y không qụyết định chủ ý, để mặc cho nàng rớt xuống. Mộ Dung Phục buông một tiếng thở dài, lẩm bẩm: “Biểu muội! Ta biết trong thâm tâm biểu muội rất thương yêu Đoàn công tử. Tuy không được sống cùng nhà, nhưng được chết cùng huyệt, chắc biểu muội cũng thỏa mãn tâm nguyện rồi.”
Bỗng sau lưng Mộ Dung Phục có tiếng la lên: “Đồ ngụy quân tử! Ngươi đừng giả vờ nữa!” Mộ Dung Phục kinh hãi tự hỏi: “Sao có người đến sau lưng mà mình không biết?” Y xoay tay lại phía sau đánh ra một chưởng. Dưới ánh trăng, một bóng người lướt đi tránh né chưởng phong, thân pháp lẹ làng khó ai bì kịp.
***
Mộ Dung Phục không chờ người kia hạ xuống đã phi thân nhảy vọt tới, vừa vung chưởng đánh ra vừa quát hỏi: “Ngươi là ai? Sao lại dám trêu cợt công tử gia?” Người kia còn lơ lửng trên không, phóng chưởng ra để đỡ chưởng lực Mộ Dung Phục rồi lạng người ra xa hơn trượng mới hạ xuống. Đây chính là Đại Luân Minh Vương Cưu Ma Trí, quốc sư nước Thổ Phồn.
Cưu Ma Trí lên tiếng: “Rõ ràng ngươi đã bức bách nàng phải tự tận, sao còn nói là nàng thỏa mãn tâm nguyện? Ngươi muốn lấy một bàn tay mà che kín mặt trời ư?” Mộ Dung Phục nói: “Đây là việc riêng của ta, ai cần lão can thiệp vào?” Cưu Ma Trí nói: “Đã là việc của thiên hạ thì người thiên hạ phải can thiệp. Ngươi làm việc thương luân bại lý, hòa thượng ta có làm ngơ được chăng? Huống chi ngươi định làm phò mã nước Tây Hạ, thì không phải là việc riêng nữa rồi.”
Mộ Dung Phục hỏi: “Chẳng lẽ lão là hòa thượng mà cũng muốn đi làm phò mã ư?” Cưu Ma Trí cười ha hả rồi đáp: “Đã là hòa thượng lại muốn làm phò mã ư? Có lý nào thế được?” Mộ Dung Phục cười nhạt nói: “Ta đã sớm biết nước Thổ Phồn vốn có dạ bất lương. Chắc lão muốn vì Vương tử nhà lão mà tranh cướp chứ gì?” Cưu Ma Trí cười cười hỏi lại: “Sao lại bảo bọn ta có dạ bất lương? Nếu muốn lấy công chúa Tây Hạ là bất lương, thì ngươi có bất lương không?” Mộ Dung Phục đáp: “Tại hạ muốn lấy công chúa Tây Hạ thì cũng chỉ trông cậy vào bản lĩnh của mình, nhất quyết không sai thủ hạ đi làm mưa làm gió khắp các nẻo đường đến Linh Châu, khiến cho anh hùng phải chau mày, hào kiệt phải nghiến răng.” Cưu Ma Trí cười nói: “Những kẻ không biết tự lượng cũng kéo đến kinh thành Tây Hạ, khắp đường phố đầy rẫy bọn du côn. Bọn ta đuổi bớt như vậy là dọn đường cho ngươi, có chi là không phải?” Mộ Dung Phục nói: “Thế thì hay lắm! Té ra tiểu Vương tử nước Thổ Phồn tự đem công phu ra để tranh đấu với người phải không?” Cưu Ma Trí đáp: “Đúng thế!”
Mộ Dung Phục thấy đối phương có vẻ cương quyết không sợ hãi gì, bất giác sinh nghi hỏi: “Chắc là tiểu Vương tử quý quốc võ công cao cường, anh hùng vô địch, đã nắm chắc phần thắng rồi chăng?” Cưu Ma Trí đáp: “Tiểu Vương tử điện hạ là đồ đệ của ta, bản lĩnh cũng khá, còn bảo là anh hùng vô địch thì chưa chắc. Nhưng y có thể nắm chắc được phần thắng.” Mộ Dung Phục lại càng ngạc nhiên, nghĩ thầm: “Mình hỏi thẳng thì chưa chắc lão đã chịu nói thật, chi bằng thử khích lão một câu.” Y bèn nói: “Thế thì kỳ thật! Y nắm chắc phần thắng, mà tại hạ cũng nắm chắc phần thắng. Như vậy không hiểu ai sẽ thắng?”
Cưu Ma Trí cười đáp: “Ngươi cũng lo rằng tiểu Vương tử bên ta nắm chắc phần thắng, có đúng thế không? Vậy ngươi hãy nói phương pháp tranh thắng của mình trước đi, rồi ta sẽ giải thích phương pháp của tiểu Vương tử. Sau đó chúng ta cùng xem thử phương pháp của ai cao minh hơn.”
Mộ Dung Phục chỉ ỷ mình võ công cao thâm, dung mạo tuấn nhã, còn lấy gì để nắm chắc phần thắng thì y không biết nói sao, liền đáp: “Bên lão chỉ trông vào quỷ kế, không trọng chữ tín. Sau khi ta nói ra rồi, mà lão không chịu tiết lộ cơ mưu, thì hóa ra ta mắc lừa ư?”
Cưu Ma Trí cười khanh khách nói: “Mộ Dung công tử! Ta cùng lệnh tôn là chỗ thâm giao, lại tương kính. Như vậy có thể nói ta là hàng tiền bối của ngươi. Ngươi nói với ta như vậy thì có quá đáng không?” Mộ Dung Phục khom lưng thi lễ nói: “Minh Vương trách tại hạ như thế là phải, xin thứ lỗi cho.”
Cưu Ma Trí cười nói: “Ngươi là người thông minh, đã tự nhận lỗi. Vậy ta nể mặt gia gia ngươi mà nói cho ngươi biết cũng chẳng sao. Tiểu Vương tử nước Thổ Phồn đã chắc chắn nắm lấy phần thắng. Bất cứ ai muốn tranh ngôi phò mã với tiểu Vương tử, chúng ta sẽ tìm cách đối phó hết. Lúc không còn ai tranh chấp nữa, thì làm sao mà tiểu Vương tử lại không thắng được? Ha ha, ha ha!…”
Mộ Dung Phục đột nhiên biến sắc hỏi: “Nói như thế thì ta… ta…” Cưu Ma Trí ngắt lời: “Ta cùng lệnh tôn giao tình rất hậu, dĩ nhiên không muốn hại mạng ngươi. Ta thực tình khuyên ngươi mau mau rời khỏi Tây Hạ, đó là thượng sách.” Mộ Dung Phục hỏi: “Nếu tại hạ không bỏ đi thì sao?” Cưu Ma Trí tủm tỉm cười đáp: “Tuy ta không hại mạng, nhưng cũng có thể khoét hai mắt, hoặc chặt một chân một tay ngươi cho thành phế nhân. Công chúa Tây Hạ chắc chắn không chịu lấy người ngũ quan tàn phế, tay chân không đủ, dù người đó vốn là anh hùng hảo hán.” Lão kéo dài bốn chữ “anh hùng hảo hán” ra chiều mai mỉa.
Mộ Dung Phục trong lòng rất tức giận, nhưng lại sợ võ công lão ghê gớm, không dám ngang nhiên động thủ với lão, bèn cúi đầu ngẫm nghĩ, tìm cách đối phó.
Dưới ánh trăng, Mộ Dung Phục thấy bên cạnh bóng mình có bóng vật gì động đậy. Y chú ý nhìn kỹ, thì ra là tay phải Cưu Ma Trí. Y không khỏi giật mình kinh hãi, cho rằng đối phương đang ngưng tụ công lực và sắp hạ thủ. Y cũng ngấm ngầm vận động chân khí, chuẩn bị đề phòng. Bỗng nghe Cưu Ma Trí nói: “Mộ Dung công tử! Ngươi đã bức bách lệnh biểu muội phải tự tử, thật là tội lỗi. Ngươi nên mau rời khỏi Tây Hạ thì ta sẽ quên việc ngươi bức tử Vương cô nương đi, không truy cứu đến nữa.” Mộ Dung Phục tức mình cãi lại: “Đó là nàng tự nhảy xuống giếng để tự tử, có liên quan gì đến ta đâu?” Miệng y cãi lý, mà mắt vẫn chăm chú nhìn cái bóng động đậy dưới đất. Bóng hai tay Cưu Ma Trí vẫn không ngớt rung rinh.
Mộ Dung Phục không khỏi nghi ngờ tự hỏi: “Võ cõng lão cao cường như vậy, chắc không phải đề tụ chân khí lâu đến thế mà chưa động thủ. Chắc hẳn có duyên cớ gì khác đây.” Mộ Dung Phục nhìn rõ cả bóng ống quần, tà áo lão cũng khẽ rung động không ngớt, tựa như lão không tự chủ được mà đang run rẩy toàn thân. Mộ Dung Phục suy nghĩ một chút rồi chợt nhớ ra: “Mấy hôm trước, ở trong Tàng Kinh Các chùa Thiếu Lâm, vị lão tăng vô danh kia đã nói là Cưu Ma Trí bị nội thương trầm trọng, vì luyện bảy mươi hai tuyệt kỹ của phái Thiếu Lâm, rồi lại miễn cưỡng luyện Dịch Cân Kinh. Lão tăng còn nói đại nạn sẽ đến với lão trong sớm tối. Theo lời lão tăng thì ai không có tâm địa từ bi mà luyện tuyệt kỹ phái Thiếu Lâm sẽ bị chướng khí tích lại trong người, không tránh được tai họa. Lão tăng này đã đoán bệnh trạng của gia gia mình và của Tiêu Viễn Sơn rõ như chính mắt trông thấy, thế thì lão nói về Cưu Ma Trí chắc cũng không sai.” Mộ Dung Phục nhớ đến chuyện này, bất giác cả mừng, nghĩ thầm: “Lão trọc này sắp gặp đại nạn trong sớm tối, lại còn hăm đọa ta, đòi khoét mắt, chặt chân tay gì gì nữa.” Nhưng hắn vẫn chưa đám chắc có đúng thế không, liền nói: “Hỡi ơi! Thứ tự điên đảo, đại nạn lâm đầu trong sớm tối. Thế mới biết luyện võ không cẩn thận cũng có thể tẩu hỏa nhập ma, nguy hiểm vô cùng!”
Cưu Ma Trí thét lên một tiếng chẳng khác gì hổ gầm trâu rống, thanh âm cực kỳ khủng khiếp. Lão giơ tay ra toan chụp lấy tay Mộ Dung Phục, hỏi dồn: “Ngươi nói cái gì? Ngươi… ngươi nói đến ai?” Mộ Dung Phục né người tránh khỏi, Cưu Ma Trí cũng xoay mình lại. Ánh trăng chiếu vào mặt lão, thấy rõ cặp mắt đỏ ngầu, lông mày dựng thẳng. Khuôn mặt lão có vẻ ủ rũ, tuy thần sắc rất hung mãnh nhưng cũng không giấu nổi vẻ khủng khiếp.
Mộ Dung Phục không nghi ngờ gì nữa, nói ngay: “Tại hạ có một lời thành thực muốn khuyên. Minh Vương mau rời khỏi Tây Hạ, quay về Thổ Phồn, dọc đường không được vận khí, không được nóng giận, không được động thủ, may ra có thể về tới cố hương được. Nếu không thế thì e rằng lời nói của vị thần tăng chùa Thiếu Lâm ứng nghiệm đến nơi rồi.”Cưu Ma Trí gào thét om sòm, vẻ ung dung bình tĩnh thường ngày đã biến đâu mất hết. Lão quát hỏi: “Ngươi biết gì? Ngươi biết gì mà nói?” Mộ Dung Phục thấy bộ mặt Cưu Ma Trí rất khó coi, không còn chút gì là thánh tăng nghiêm trang nữa, không khỏi ngấm ngầm sợ hãi, vội lùi lại một bước. Cưu Ma Trí quát hỏi giật giọng: “Ngươi biết gì, sao không nói ra?” Mộ Dung Phục cố gắng trấn tĩnh, thở dài một hơi rồi nói: “Chân khí của Minh Vương đã chạy vào đường rẽ, nguy hiểm vô cùng! Nếu Minh Vương không về Thổ Phồn thì lập tức phải lên chùa Thiếu Lâm, xin vị thần tăng đó cứu chữa cho, may ra còn hy vọng.” Cưu Ma Trí cười đầy vẻ hung dữ, hỏi tiếp: “Sao ngươi biết chân khí ta đi vào đường rẽ? Ngươi nói nhăng gì thế?” Lão vung tay trái ra, toan chụp vào mặt Mộ Dung Phục.
Mộ Dung Phục, thấy năm ngón tay lão run rẩy, nhưng trảo pháp vẫn kín đáo vô cùng lợi hại, chẳng có vẻ gì là thiếu nội lực. Y thầm tự hỏi: “Hay là ta đoán nhầm chăng?” Rồi lập tức vận khí ngưng thần để tiếp chiến, phóng ra một chưởng, đoạn biến thế toan chụp bẻ xương cổ tay lão. Cưu Ma Trí quát lên: “Ta nể mặt phụ thân ngươi, trong vòng mười chiêu không hạ sát thủ. Đó là vì ta nghĩ đến chút tình giao hảo của cố nhân.” Lão vung quyền đánh thẳng vào vai phải Mộ Dung Phục.
Mộ Dung Phục chuyên về môn Đẩu Chuyển Tinh Di mượn sức người để đánh người, nhưng chiêu thức của Cưu Ma Trí cực kỳ tinh diệu. Mỗi chiêu lão chỉ phóng ra nửa chừng rồi đột nhiên biến thế, nên Mộ Dung Phục không thể nào thi triển kỹ thuật Đẩu Chuyển Tinh Di được. Y đành phòng thủ vững chắc những yếu điểm, để chờ đối phương lộ sơ hở. Cưu Ma Trí xuất chiêu liên tiếp, biến hóa liên tục đến mức Mộ Dung Phục chưa thấy bao giờ. Quyền đánh ra nửa chừng đã biến thành chỉ, trảo gần tới nơi lại biến thành chưởng, Cưu Ma Trí đánh xong mười chiêu, quát lên: “Đủ mười chiêu rồi, ngươi nạp mạng đi!”
Mộ Dung Phục hoa mắt lên, thấy bốn phương tám hướng đều có hình ảnh Cưu Ma Trí. Bên trái bị cước đá, bên phải bị quyền đánh, phía trước bị chưởng đập, phía sau bị chỉ đâm, vô số chiêu thức cùng lúc dồn vào y như gió táp mưa sa. Mộ Dung Phục không còn biết phải đánh đỡ mặt nào, đành ngưng thần vận khí, múa tít song chưởng, chỉ thủ chứ không công.
Tiếng thở hồng hộc của Cưu Ma Trí mỗi lúc một thêm gấp rút. Mộ Dung Phục phấn khởi nghĩ thầm: “Lão đã thở như bò rống, tức là nội khí không thông rồi. Ta chỉ chống chọi cầm chừng một lúc nữa, chỉ cần không bị đánh ngã, là lão tự nhiên sẽ lăn quay ra mà chết.” Cưu Ma Trí tuy hơi thở cấp bách, nhưng chiêu số càng mau lẹ hơn trước. Đột nhiên lão quát to một tiếng, Mộ Dung Phục thấy sau cổ bị nắm chặt, rồi thân thể bị nhấc bổng lên. Tiếp theo huyệt Tích Trung ở sau lưng và huyệt Thượng Khúc ở trước bụng cùng bị điểm, chân tay mềm nhũn không nhúc nhích được nữa.
Cưu Ma Trí cười nhạt mấy tiếng, nhưng vẫn ho rũ rượi. Lão chúm môi huýt một tiếng sáo, rồi nói: “Ta bảo ngươi cút đi, ngươi không chịu nghe, bây giờ đừng trách ta nữa. Ta… ta… phải xử trí với ngươi thế nào đây?”
Lúc ấy có bốn tên võ sĩ Thổ Phồn nghe tiếng sáo chạy từ trong rừng ra, khom lưng nói: “Xin Minh Vương hạ pháp chỉ.” Cưu Ma Trí đáp: “Đem thằng lỏi này chém đi!” Bốn tên võ sĩ cùng “Vâng!” một tiếng.
Mộ Dung Phục không nhúc nhích được, nhưng tai vẫn nghe rõ, ngấm ngầm than khổ. Y cảm thấy Cưu Ma Trí đưa mình vào tay hai tên võ sĩ, biết tính mạng sắp nguy, bất giác kinh hãi vô cùng, lẩm bẩm: “Vừa rồi ta cùng biểu muội tình trong như đã mà mặt ngoài cũng chẳng e, giả tỉ ta vì nàng mà không tham ngôi phò mã Tây Hạ, thi làm gì gặp phải cái nạn một đao chém chết? Sau khi ta chết rồi, lại còn hy vọng hưng phục Đại Yên nữa ư?”. Mộ Dung Phục chỉ muốn lên tiếng năn nỉ Cưu Ma Trí tha cho rời khỏi Linh Châu, không tranh ngôi phò mã với Vương tử nước Thổ Phồn nữa. Nhưng y không mở miệng được, mà Cưu Ma Trí lại không thèm nhìn đến, dù y có muốn đưa mắt ra hiệu xin tha cũng không được.
Bốn tên võ sĩ Thổ Phồn đón lấy Mộ Dung Phục, rồi một tên rút cương đao ra, vung lên, nhắm vào cổ hắn. Cưu Ma Trí vội nói: “Khoan đã! Ta cùng thân phụ của thằng lỏi này là chỗ quen biết, cũng nên cho gã chết toàn thây. Các ngươi quẳng gã xuống giếng, rồi đi kiếm mấy tảng đá lớn đậy lên miệng, để gã không ra được.”
Mấy tên võ sĩ vâng lời, xách Mộ Dung Phục lên liệng vào trong giếng khô. Chúng nhìn bốn mặt không thấy có tảng đá nào lớn, liền chạy ra phía sau thung lũng để tìm kiếm.
***
Cưu Ma Trí đứng trên bờ giếng, không ngớt ho hắng, không kìm lại được. Hôm trước lão dùng Hỏa Diệm Đao để ám toán Đoàn Dự, rồi lập tức trốn xuống núi, nhưng chưa xuống đến chân núi Thiếu Thất đã cảm thấy huyệt Đan điền nóng như lửa đốt. Lão ngấm ngầm vận nội lực đã thấy khó khăn, không khỏi kinh hãi rủa thầm: “Thằng trọc già kia nói mình gắng gượng luyện bảy mươi hai tuyệt kỹ phái Thiếu Lâm, chướng khí tích lại, gây ra mầm họa. Sau đó lại luyện môn Dịch Cân Kinh, chân khí trong người đảo lộn và đại nạn sắp đến nơi. Chẳng lẽ… chẳng lẽ thằng trọc già đó nói đúng ư?” Lão bèn tìm một sơn động chui vào ẩn nấp, ngồi yên một lúc thi thấy luồng nhiệt khí từ từ hạ xuống, nhưng vẫn không vận kình lực được.
Cưu Ma Trí chờ đến tối, không thấy chùa Thiếu Lâm cho người đuổi theo, mới tìm đường nhỏ mà đi, dọc đường nghe tin quốc vương nước Tây Hạ muốn chiêu phò mã. Lão liền viết tấu chương giao cho một tên thám tử Thổ Phồn đưa về trình lên quốc vương. Quốc vương nước Thổ Phồn cũng có ý muốn giao kết với Tây Hạ, nên vừa tiếp được tấu chương của Cưu Ma Trí liền lập tức phái tiểu Vương tử dẫn một số cao thủ võ sĩ, cùng rất nhiều vàng bạc châu báu, ngựa tốt đao quý, đang đêm lên đường đi Linh Châu ngay. Những ngựa tốt đao quý để đem tiến cho Quốc vương Tây Hạ, châu báu thì đưa tặng công chúa. Ngoài ra còn rất nhiều tiền bạc và bảo vật khác, để đút lót cho các hậu phi cùng thái giám ở nước Tây Hạ.
Cưu Ma Trí là quốc sư nước Thổ Phồn, tham gia vào mọi việc quân sự chính trị trong nước, tuy trong mình đang mắc bệnh, nhưng chuyện cầu thân này có liên quan đến vận mệnh nước Thổ Phồn, nên lão phải thân hành đi Tây Hạ để chủ trì cục diện. Chính lão đã phái những tay cao thủ võ sĩ đón các ngả đường để chặn bớt hào kiệt bốn phương kéo đến tranh ngôi phò mã. Từ mùng mười tháng tám, bọn võ sĩ Thổ Phồn đã đuổi về hàng mấy trăm chàng thiếu niên quý tộc toan đến Tây Hạ cầu hôn. Bọn người đến Tây Hạ tuy nhiều, nhưng số đông chỉ vì lòng tham, không phải là những tay hào kiệt bản lĩnh phi thường, thì địch làm sao nổi bọn võ sĩ Thổ Phồn vây đánh?
Cưu Ma Trí tới Linh Châu, rồi tìm một nơi tĩnh mịch để điều dưỡng. Nhiệt khí trong người lão hạ thấp xuống, rồi bình phục lại dần, nhưng hễ động lo nghĩ việc gì là chân tay lại run lẩy bẩy. Về sau, ngay cả những lúc tâm thần thư thái mà ngón tay, ngón chân, môi miệng, bả vai lão cũng không ngớt rung động, chẳng được lúc nào yên tĩnh. Cưu Ma Trí làm đến Quốc sư nước Thổ Phồn địa vị cao cả, lão không muốn để người ta thấy bộ dạng xấu xa của mình, liền ở riêng một nơi, ít người được thấy mặt.
Một hôm, lão được bọn võ sĩ về báo là Mộ Dung Phục cũng đến Linh Châu, bọn thủ hạ của y đã đánh chết cùng đả thương mấy tên võ sĩ Thổ Phồn. Lão biết rằng Mộ Dung Phục là một thiếu niên anh tuấn, văn võ song toàn, bọn võ sĩ tầm thường không cản nổi. Nhưng nếu không tìm cách đánh đuổi đi, để y tỉ thí với tiểu Vương tử thì phe ta khó thắng. Cưu Ma Trí nghĩ mãi không tìm được cách đối phó với Mộ Dung Phục, đành phải chường mặt ra. Lão đoán rằng Mộ Dung Phục đã hiểu bản lĩnh của mình, không chừng chưa cần động thủ thì y cũng đã sợ hãi mà tự rút lui. Lão liền tìm đến quán dịch.
Khi lão đến thì Mộ Dung Phục đã bắt Đoàn Dự đem đi. Bốn mặt nhà quán dịch đã có bảy tám tên võ sĩ Thổ Phồn mai phục để giám thị, Cưu Ma Trí liền hỏi rõ phương hướng rồi đuổi theo. Lúc lão đuổi tới khu rừng thì Mộ Dung Phục đã liệng Đoàn Dự xuống giếng rồi, đang đối thoại cùng Vương Ngữ Yên. Cưu Ma Trí chờ tới lúc Vương Ngữ Yên đâm đầu xuống giếng mới xuất hiện. Lão không ngờ Mộ Dung Phục tuy sợ hãi lão mà cũng không chịu nhượng bộ, phải tỉ đấu một hồi. Sau cùng, tuy lão bắt được Mộ Dung Phục nhưng chính mình cũng bị khí huyết nôn nao, dường như chân khí trong người muốn phá vỡ kinh mạch để tiết ra ngoài, nhưng lại không có chỗ để thoát ra nên lão khó chịu vô cùng.
Cưu Ma Trí giơ tay lên cào loạn vào trước ngực, nội lực trong người vẫn không ngớt bành trướng, tưởng chừng như màng óc, da bụng đều căng phồng ra, sắp vỡ tung đến nơi. Người ngoài trông vào thân hình lão vẫn như ngày thường, không to lớn hơn chút nào, nhưng Cưu Ma Trí thấy mình căng như một quả bóng, nội khí xông lên cuồn cuộn. Lão sợ quá, lấy ngón tay chọc vào hai bên bắp chân ba lỗ thủng khá sâu, tưởng để xì bớt hơi ra theo những lỗ này. Nhưng chỉ thấy máu tươi chảy ra như suối, còn nội khí không tiết ra được chút nào.
Bây giờ Cưu Ma Trí mới biết rằng lời vị thần tăng đã nói trong Tàng Kinh Các là đúng, vì mình ham muốn quá nhiều, luyện cả bảy mươi hai tuyệt kỹ phái Thiếu Lâm cùng Dịch Cân Kinh, để cho thứ tự đảo điên, đại nạn đến trong sớm tối. Cưu Ma Trí tuy hoảng hốt, nhưng nhờ tu luyện lâu năm mà thần trí chưa đến nỗi bối rối. Đột nhiên trong óc lão lóe lên một tia sáng, nghĩ thầm: “Sao… sao lão ta lại không luyện hết, mà chỉ luyện mấy thứ? Lão lại đưa cả bí lục bảy mươi hai tuyệt kỹ cho ta là có ý gì? Ta với lão chỉ là bèo nước gặp nhau, dù có ý hợp tâm đầu, nhưng chưa thể nói là giao tình thân mật được.”
Lúc Cưu Ma Trí lâm nguy mới hiểu nổi dụng ý của Mộ Dung Bác khi tặng mình bảy mươi hai tuyệt kỹ Thiếu Lâm. Cưu Ma Trí là người rất thông minh, ngay buổi đầu tiên, lão đã đem lòng ngờ vực Mộ Dung Bác rồi. Nhưng khi ấy lão mở bí lục ra xem, thấy tuyệt kỹ nào cũng tinh diệu phi thường. Lão là người kiến thức uyên bác, nếu có chỗ nào giả trá là xét đoán được ngay. Lão lại thử cả giấy trong bí lục thì tuyệt không có chất độc chi hết, rồi không nghi ngờ gì nữa.
Lúc này lão lâm vào tình trạng sống dở chết dở mới hiểu ra tâm địa độc ác của Mộ Dung Bác xưa kia, nghĩ thầm: “Té ra lão ẩn nấp trong chùa Thiếu Lâm mấy chục năm, đã từng nghe mấy lão tăng Thiếu Lâm phân tích vì sao không thể luyện hết những môn tuyệt kỹ được. Lúc lão gặp mình ở Thiên Trúc, biết mình võ công thao lược hơn đời mới đem tuyệt kỹ bí lục tặng cho mình, một là gieo họa về sau, hai là để gây thù oán giữa mình và chùa Thiếu Lâm. Lão còn mong Thổ Phồn và Đại Tống xảy cuộc can qua, để lão ở giữa thủ lợi, mưu đồ phục hưng nước Đại Yên. Dĩ nhiên bí kíp bảy mươi hai tuyệt kỹ Thiếu Lâm, lão cũng giữ lại bản sao, chuyện này không cần nói làm gì.”
Lúc nãy Cưu Ma Trí bắt được Mộ Dung Phục, nhớ đến cái ơn phụ thân hắn tặng bí lục Thiếu Lâm cho mình, nên dù biết Mộ Dung Phục là mối họa nhưng cũng không xử tử tức khắc, chỉ quăng xuống giếng khô cho chết được toàn thây. Bây giờ lão hiểu ra Mộ Dung Bác dụng ý sâu độc, hại mình mình khổ sở, bất giác tức giận như điên, cúi xuống miệng giếng phóng luôn ba chưởng, nhưng không thấy động tĩnh gì. Lão biết là giếng sâu quá, chưởng lực đánh không tới đáy.
Cưu Ma Trí lại càng tức giận, vận hết công lực đánh ra một quyền. Thoi quyền vừa đánh ra, nội khí trong người lão chạy rần rần, dường như muốn theo mười vạn tám ngàn lỗ chân lông xông ra ngoài mà không được.
Đang lúc lão vừa kinh hãi vừa tức giận, đột nhiên trước ngực thấy động, một vật gì từ trong bọc áo rớt xuống giếng. Cưu Ma Trí vung tay chụp lại, nhưng không kịp nữa. Lão vội vận Cầm Long Thủ Pháp để vẫy ngược lên. Nếu là lúc bình thời, nhất định lão bắt lại được, nhưng lúc này nội kình không điều khiển nổi, cứ bành trướng rần rần chứ không chịu ra đến lòng bàn tay. Bỗng nghe một tiếng “tạch” vang lên, vật kia đã rớt xuống đáy giếng. Cưu Ma Trí la thầm: “Hỏng bét!” Lão thò tay sờ vào bọc, phát giác pho Dịch Cân Kinh đã rớt xuống giếng mất rồi.
Lão biết nội khí mình không chạy đúng đường là do luyện Dịch Cân Kinh mà ra. Vậy muốn trừ cái đau khổ này, thì không nghiên cứu Dịch Cân Kinh không được. Dịch Cân Kinh là vật quan hệ đến chuyện sống chết của lão, để thất lạc thế nào được?
Cưu Ma Trí không suy nghĩ gì nữa, tung mình nhảy xuống đáy giếng. Lão sợ dưới đáy giếng có đá nhọn hoặc cành cây đâm vào chân tay, lại đề phòng Mộ Dung Phục tự giải khai được huyệt đạo, rồi đánh lén mình, nên hại chân chưa chấm đất đã vung tay phải đánh xuống hai chưởng để giảm bớt đà rơi xuống. Tay trái lão lại xuất chiêu Hồi Phong Lạc Diệp để hộ vệ những chỗ yếu hại trên thân thể. Ngờ đâu nội khí trong người lão đang biến hóa khác thường, chiêu số tuy tinh vi mà lực đạo phóng ra lại không chính xác. Hai phát chưởng không giảm bớt được đà rơi xuống, mà lại đẩy mạnh người sang một bên. Nghe “Huỵch” một tiếng, đầu lão đã va vào thành giếng thật mạnh.
Cưu Ma Trí công lực cao cường, tuy chưa luyện thành tấm thân sắt thép, nhưng đầu lão đập vào gạch chẳng sứt mẻ gì, mà viên gạch lại nát nhừ. Lão thấy mắt nảy đom đóm, trời đất quay cuồng, lăn thẳng xuống đáy giếng.
Cái giếng khô này bị bỏ hoang đã lâu, lá rụng cùng cỏ khô chất đống rất dày, đã mục mát thành bùn. Mấy chục năm trời, bùn sâu có tới hơn trượng. Cưu Ma Trí rớt xuống, mặt mũi mồm miệng đều bị lấp dưới bùn lầy. Lão cảm thấy người mình từ từ chìm xuống, muốn cựa quậy đứng lên, nhưng chân tay không còn chút sức lực nào. Đang lúc hoảng hốt, bỗng lão nghe trên miệng giếng có tiếng la gọi: “Quốc sư! Quốc sư!…” Đó chính là bốn tên võ sĩ Thổ Phồn.
Cưu Ma Trí định la lên: “Ta ở đây!” Nhưng lão mới mở miệng thì đất bùn đã lấp vào miệng, không nói lên lời. Lão còn văng vẳng nghe bốn tên võ sĩ nói chuyện với nhau. Một tên nói: “Chắc quốc sư có việc gấp, không chờ được nên bỏ đi rồi. Lão nhân gia đã dặn mình kiếm đá lớn đậy miệng giếng, vậy mình chỉ tuân lệnh là xong.” Một tên khác nói: “Đúng thế!”
Cưu Ma Trí cố la lên: “Ta ở đây! Các ngươi tìm cách cứu ta!” Lão càng hoảng loạn thì bùn vào miệng càng nhiều, bất giác nuốt hai miếng vào bụng, mùi hôi thối cực kỳ khó chịu. Trên miệng giếng lại nghe có tiếng lịch kịch, bốn tên võ sĩ đang vần tảng đá lớn đậy lên miệng giếng. Bọn võ sĩ Thổ Phồn vốn kính trọng Cưu Ma Trí như bậc thiên thần, chúng coi mệnh lệnh của quốc sư chẳng khác chỉ dụ của vua. Chúng chỉ sợ khối đá chưa đủ nặng, nên lại lấy thêm mười hai mười ba phiến đá nặng mấy trăm cân xếp lên trên.
Cưu Ma Trí nghe rõ bốn tên võ sĩ xếp đá xong rồi gọi nhau bỏ đi. Lão biết trên miệng giếng đã có mấy ngàn cân đá, đừng nói mình đang lúc võ công mất hết, mà trong lúc bình thời cũng không dễ gì từ dưới mà đẩy lên được, chắc chắn phen này mất mạng trong cái giếng khô này. Về võ công cũng như Phật học, về mưu trí cũng như thao lược, lão trùm cả Tây Vực không một ai bì kịp, ngờ đâu cuối cùng bị chôn vùi trong giếng bùn dơ bẩn. Người ta ai mà không chết, nhưng chết trong trường hợp này thật chẳng vinh dự chút nào. Người theo Phật giáo phải quán được thân thể chỉ là một cái túi thối tha, sắc là vô thường, vô thường là khổ, thân không phải là bản ngã, phải biết chán ghét mà rời xa. Những đạo lý cơ bản của Phật học này, những lúc Cưu Ma Trí đăng đàn thuyết pháp thì biện giải thao thao ảo diệu, lập luận vững chắc, thính giả ngồi dưới đều hoan hỉ tán đổng. Lúc này thân dưới giếng cạn, đầu đè đá lớn, miệng đầy bùn đất, so với lúc ngồi cao trên đàn thuyết pháp, nói thao thao bất tuyệt như hoa sen nở, thật là khác xa. Tự Tại Vô Ngại gì gì, Thường Lạc Ngã Tịnh gì gì, đều đã văng mất ra khỏi đầu óc, lúc này lão chỉ thấy ngũ uẩn là thật, tấm thân thối tha là quan trọng nhất. Khiết đế khiết đế, ba la tăng khiết đế, không rời khỏi được giếng bùn này mới là khổ ải chân chính của thế gian.
Cưu Ma Trí nghĩ tới chỗ bi thương nhất, cầm không nổi hai hàng nước mắt trào ra. Người lão đầy bùn chẳng còn chỗ nào sạch sẽ, nhưng theo phản ứng tự nhiên cũng toan giơ tay lên gạt nước mắt, bỗng đụng phải một vật trong vũng bùn. Tiện tay lão cầm lấy, sờ biết là pho Dịch Cân Kinh. Cưu Ma Trí dở khóc dở cười. Kinh báu tìm thấy rồi, nhưng lúc này còn dùng làm gì được nữa?
Chợt nghe thanh âm một cô gái nói: “Công tử có nghe thấy không? Bọn võ sĩ Thổ Phồn đã dùng đá lớn lấp miệng giếng, chúng ta làm thế nào ra được?” Người nói chính là Vương Ngữ Yên. Cưu Ma Trí nghe thấy tiếng người, trong lòng phấn khởi nghĩ thầm: “Té ra cô này chưa chết! Nhưng không hiểu cô ta nói với công tử nào? Ba người hợp lực, may ra có thể đẩy được phiến đá đậy giếng, thoát khỏi nơi nguy hiểm này.” Lại thấy tiếng một chàng trai đáp lại: “Tại hạ chỉ mong được cùng cô nương ở mãi nơi đây. Giả tỉ không ra khỏi thì đã sao? Có cô nương ở bên mình tại hạ, dù bùn lầy cũng hóa hương thơm. Bất luận thiên đường lạc thổ nào cũng chẳng bằng chỗ này”. Cưu Ma Trí nghe chàng nói, ngấm ngầm kinh hãi tự hỏi: “Gã này vẫn chưa chết ư? Gã bị mình phóng Hỏa Diệm Đao đánh trọng thương, đối với mình dĩ nhiên căm hận sâu cay. Bây giờ mình không phát huy được nội lực, nếu gã nhân cơ hội trả thù thì biết làm thế nào?”
***
Người vừa nói chính là Đoàn Dự. Chàng bị Mộ Dung Phục liệng xuống giếng ngất đi, chân tay không nhúc nhích được. Nhờ vậy mà tuy chàng cũng chìm xuống bùn lầy, nhưng không bị hoảng hốt như Cưu Ma Trí. Lúc Vương Ngữ Yên nhảy xuống giếng, đầu nàng va dụng vào huyệt Đản Trung trước ngực chàng, nên Đoàn Dự hồi tỉnh lại ngay. Còn Vương Ngữ Yên ngã đúng vào lòng chàng nên không bị thương chút nào, mà bùn lầy cũng không bám vào người nhiều lắm.
Đoàn Dự thấy trong lòng mình bỗng có thêm một người, còn đang nghi hoặc, thì nghe Mộ Dung Phục nói trên miệng giếng: “Biểu muội! Ta biết trong thâm tâm biểu muội rất thương yêu Đoàn công tử. Tuy không được sống cùng nhà, nhưng được chết cùng huyệt, chắc biểu muội cũng thỏa mãn tâm nguyện rồi.” Đoàn Dự nghe mấy câu này rất rõ ràng, lẩm bẩm thành tiếng: “Không được! Không thể được! Đoàn Dự này làm gì có phúc lớn như vậy?”
Đột nhiên, người trong lòng chàng lên tiếng: “Đoàn công tử! Muội thật là hồ đồ. Huynh đối với muội hết lòng như vậy mà muội…” Đoàn Dự kinh hãi ngắt lời: “Vương cô nương đấy ư?” Vương Ngữ Yên đáp: “Là muội đây!”
Đoàn Dự đối với nàng một niềm kính cẩn, trong lòng chưa bao giờ dám có một chút ý niệm dâm tà. Chàng vừa biết là nàng, vội vàng ngồi dậy toan đẩy ra xa, nhưng đáy giếng chật hẹp lại đầy bùn lầy. Hai chân chàng vừa đứng lên đã ngập sâu vào trong bùn, biết rằng không thể đặt Vương Ngữ Yên xuống bùn được, đành cứ ôm lấy người nàng, luôn miệng xin lỗi: “Vương cô nương! Tại hạ thật là đắc tội. Chúng ta đang ở trong chỗ bùn lầy, ngộ biến đành phải tòng quyền vậy.”
Vương Ngữ Yên thở dài, trong lòng cảm kích muôn vàn. Nàng đã hai lần chết đi sống lại, đã nhìn rõ tâm địa Mộ Dung Phục, dù muốn tự dối mình cũng không được nữa. Đoàn Dự đối với nàng lại hết dạ chân thành, nếu đem ra mà so sánh, thì một bên tình nghĩa mặn nồng, còn một bên phũ phàng ích kỷ. Từ lúc nàng nhảy xuống giếng, chỉ trong nháy mắt mà tâm ý biến đổi rất nhiều. Lúc nãy nàng tự thương thân, chỉ muốn quyên sinh để tạ tình Đoàn Dự. Không ngờ Đoàn Dự cùng mình đều chưa chết, thật là chuyện khó tưởng tượng ra, lòng nàng mừng rỡ vô cùng. Vương Ngữ Yên vốn là một cô gái đoan trang rất hiểu lễ nghĩa, nhưng vừa trải qua nhiều biến cố hãi hùng nên cảm động không nhịn được nữa, bèn thổ lộ can trường: “Đoàn công tử! Muội cứ tưởng huynh chết rồi. Nhớ lại những lúc huynh hết lòng với muội, muội cứ vừa thương tâm lại vừa hối hận. May mà ông trời có mắt, huynh vẫn bình yên. Lúc muội ở trên miệng giếng đã nói những gì, chắc huynh nghe rõ cả rồi?” Nói tới đây, nàng thẹn đỏ mặt lên, gục đầu vào cổ Đoàn Dự.
Đoàn Dự đột nhiên thấy người nhẹ nhàng bay bổng, không hiểu bay lên không trung hay bay vào cõi mộng, nguyện vọng ngày đêm mơ tưởng đột nhiên biến thành sự thực. Chàng mừng quá, hai chân nhũn ra ngồi ngay xuống bùn, tựa lưng vào thành giếng, hai tay vẫn giữ lấy người Vương Ngữ Yên. Bỗng nhiên mấy sợi tóc nàng luồn vào trong mũi chàng, làm chàng hắt hơi luôn mấy cái. Vương Ngữ Yên vội hỏi: “Huynh… huynh làm sao vậy? Bị thương rồi ư?” Đoàn Dự vội đáp: “Không… không có… Ta không bị thương chi hết, chỉ hắt hơi mà thôi… Vương cô nương! Ta sung sướng tưởng chết đi được!”
Trong giếng tối mò, hai người không nhìn thấy mặt nhau. Vương Ngữ Yên mỉm cười không nói gì, nhưng trong lòng nàng cũng rất vui sướng. Nàng từ thuở nhỏ đã say mê biểu huynh, mà chưa bao giờ được y tỏ tình luyến ái, đến nay mới nếm trải hương vị ái tình nồng nhiệt.
Đoàn Dự ấp úng hỏi: “Vương cô nương! Vừa rồi ở trên miệng giếng muội đã nói gì? Ta chưa nghe thấy!” Vương Ngữ Yên mỉm cười đáp: “Muội cứ tưởng huynh là một người quân tử chí thành, không ngờ huynh cũng biết nói dối. Huynh đã nghe thấy rồi, còn muốn muội nhắc lại lần nữa để muội phải thẹn thùng. Muội không nói đâu.”
Đoàn Dự vội đáp: “Ta thực tình chưa nghe thấy. Nếu ta được nghe rồi, xin hoàng thiên trách phạt…” Chàng toan lập lời trọng thệ, nhưng Vương Ngữ Yên đã bịt miệng, ngắt lời: ‘Huynh chưa nghe thấy thì thôi, có gì quan trọng đâu mà phải thề thốt.” Từ ngày Đoàn Dự biết Vương Ngữ Yên, chưa bao giờ được nàng đối xử đằm thắm như hôm nay nên cả mừng nói: “Lúc đó muội đã nói gì?” Vương Ngữ Yên đáp: “Muội nói…” Rồi nàng thẹn thùng mỉm cười, nói tiếp: “Sau này rồi sẽ nói, ngày tháng còn dài, huynh làm chi mà vội thế?”
Câu nàng nói: “Ngày tháng còn dài, huynh làm chi mà vội thế?” như một khúc tiên nhạc rót vào tai Đoàn Dự. Rõ ràng nàng đã thuận tình ở lâu dài bên chàng, Đoàn Dự nghe mà chưa tin ở tai mình, hỏi lại: “Muội đã nói như thế, thì từ nay trở đi chúng ta sẽ ở bên nhau hay sao?” Vương Ngữ Yên đưa tay ra ôm lấy đầu chàng, thủ thỉ vào tai: “Đoàn lang! Muội chỉ mong huynh đừng phũ phàng với muội, cũng đừng hờn giận vì trước kia muội đã lạnh nhạt vô tình với huynh là đủ. Muội nguyện suốt đời đi theo Đoàn lang, không… không bao giờ xa rời nữa.”
Đoàn Dự nghe nàng nói vậy, tưởng chừng như trái tim muốn nhảy ra ngoài lồng ngực. Chàng hỏi lại: “Thế còn biểu huynh của muội thì sao? Muội vốn… vốn quí trọng Mộ Dung công tử lắm kia mà?” Vương Ngữ Yên đáp: “Nhưng chẳng bao giờ y để ý đến muội. Bây giờ muội mới biết trên thế gian này, ai là người thương yêu muội, coi tính mạng muội quan trọng hơn cả tính mạng mình.” Đoàn Dự hỏi: “Muội nói về ta đấy ư?”
Vương Ngữ Yên sa lệ nói: “Phải đó! Biểu huynh của muội lúc nào cũng mơ tưởng ngôi hoàng đế nước Đại Yên. Chuyện đó cũng không trách được, vì họ Mộ Dung từ bao đời nay đã hoài bão mộng tưởng phục quốc, thì y tỉnh ngộ thế nào được? Biểu huynh vốn cũng không phải là người tệ bạc, nhưng giấc mộng làm hoàng đế đã khiến y bỏ hết mọi sự qua một bên.” Đoàn Dự nghe thấy trong câu nói Vương Ngữ Yên đã tỏ ý dứt tình với Mộ Dung Phục, trong lòng nóng nảy hỏi lại: “Vương cô nương! Giả tỉ có một ngày biểu huynh nghĩ lại, đối với muội một dạ chân thành, thì muội biết làm thế nào?” Vương Ngữ Yên thở dài đáp: “Đoàn lang! Muội tuy là nữ nhân ngu xuẩn, nhưng không đến nỗi coi rẻ đức hạnh. Hôm nay muội đã cùng huynh đính ước, nếu còn thay đổi lòng dạ há chẳng tổn hại đến danh tiết, không xứng với tấm chân tình của huynh dành cho muội hay sao?”
Đoàn Dự sung sướng như hoa nở rộ trong lòng, ôm nàng toan nhảy lên, nhưng nghe “bõm” một tiếng, hai người rớt lại xuống dưới bùn. Đôi môi chàng rung động, toan tìm đôi môi nàng, Vương Ngữ Yên cũng uyển chuyển theo đà. Môi hai người vừa kề sát vào nhau, đột nhiên trên đầu nổi lên tiếng gió veo véo, dường như có vật gì rớt xuống.
Hai người kinh hãi vội nép vào bên thành giếng. “Bõm” một tiếng lớn, rồi có một người rớt xuống.
Đoàn Dự vội hỏi: “Ai thế?” Người kia đằng hắng một tiếng rồi đáp: “Ta đây!” Y chính là Mộ Dung Phục.
Thì ra sau khi Đoàn Dự tỉnh lại, chàng được Vương Ngữ Yên tỏ tình thắm thiết, hết thảy tinh thần đặt cả vào người ngọc, ngoài ra không còn biết gì nữa, cho đù trời long đất lở cũng chẳng buồn nghe thấy. Cưu Ma Trí ác đấu cùng Mộ Dung Phục, quát tháo om sòm trên bờ giếng, hai người cũng không hề hay biết. Lúc này Mộ Dung Phục đột nhiên rớt xuống giếng, hai người mới giật mình kinh hãi, đều nghĩ rằng y nhảy xuống để can thiệp.
Vương Ngữ Yên run lên hỏi: “Biểu huynh! Biểu huynh còn xuống đây làm chi? Tấm thân của muội bây giờ đã thuộc về Đoàn công tử rồi. Biểu huynh có giết chàng thì phải giết luôn cả muội nữa.”
Đoàn Dự cả mừng. Chàng vốn không sợ Mộ Dung Phục hại mình, chỉ sợ Vương Ngữ Yên thấy biểu huynh thì lửa tình cũ lại cháy lên, rồi quay lại với biểu huynh. Chàng nghe nàng nói vậy đã yên tâm, lại thấy nàng đưa tay ra nắm chặt tay mình thì càng thêm tin tưởng, bèn cất tiếng hỏi: “Mộ Dung công tử! Huynh muốn làm phò mã Tây Hạ, bây giờ chẳng những ta không khuyên can nữa, mà còn mong cho huynh toại nguyện. Còn lệnh biểu muội đã thuộc về ta rồi, huynh muốn cướp lại cũng không được nữa. Ngữ Yên! Muội nói xem có đúng thế không?” Vương Ngữ Yên đáp: “Không sai! Đoàn lang dù sống dù chết, muội cũng quyết theo chàng.”
Mộ Dung Phục đã bị Cưu Ma Trí điểm trúng huyệt đạo, tuy y nghe được, nói được, nhưng không cử động được. Y nghe hai người nói vậy thì nghĩ thầm: “Bọn này chưa biết mình đã đại bại và bị kiềm chế huyệt đạo. Chúng đối với mình vẫn sợ sệt, chỉ lo mình hạ thủ gia hại. Thế thì hay lắm! Mình phải tìm kế hoãn binh mới được.” Y nghĩ vậy, liền đáp: “Biểu muội! Muội đã lấy Đoàn công tử rồi, thì chúng ta là người một nhà. Đoàn công tử đã thành em rể ta, khi nào ta lại hại y.”
Đoàn Dự vốn người trung hậu, Vương Ngữ Yên cùng không hiểu nhân tình thế thái. Hai người nghe Mộ Dung Phục nói vậy thì vui mừng khôn xiết, một người nói: “Đa tạ Mộ Dung huynh!” Một người nói: “Đa tạ biểu huynh!”
Mộ Dung Phục nói: “Đoàn huynh đệ! Chúng ta đã là người một nhà, vậy ta đi làm phò mã Tây Hạ, huynh đừng theo ngăn trở ta nữa nhé!” Đoàn Dự đáp: “Dĩ nhiên là thế. Ta được cùng lệnh biểu muội nên đạo vợ chồng, thì không còn có tâm nguyện nào khác nữa. Dù được làm thần tiên hay bồ tát, thì ta cũng chẳng màng.” Vương Ngữ Yên khẽ tựa vào người Đoàn Dự, trong lòng vui mừng khôn xiết.
Mộ Dung Phục âm thầm vận khí muốn tự giải huyệt, nhưng không có cách nào giải khai được, lại không muốn gọi Đoàn Dự giúp đỡ, trong lòng ngấm ngầm căm phẫn: “Người ta bảo đàn bà như nước chảy hoa trôi, quả thật không sai. Trước kia, hễ biểu muội thấy mình là chạy ngay đến bên nâng đỡ, bây giờ lại không thèm nhìn gì đến mình nữa.”
Đáy giếng chật hẹp, đường kính không đầy một trượng, ba người đứng rất gần nhau. Ngữ Yên cũng nghe thấy Mộ Dung Phục đang nằm trong bùn, không đứng dậy được. Nàng chỉ bước một bước là đến được cạnh biểu huynh để dìu hắn dậy, nhưng trong lòng lại e sợ Mộ Dung Phục đang bày mưu kế gì để gia hại Đoàn Dự, lại sợ Đoàn Dự sinh lòng ngờ vực, nên nàng chần chừ, không hành động được.
Tâm thần Mộ Dung Phục càng rối loạn thì huyệt đạo càng khó khai thông. Một lát sau y trấn tĩnh lại, tự giải được huyệt đạo. Y vừa đưa bàn tay vịn vào thành giếng, bỗng nghe “vèo” một tiếng, một vật rớt xuống bên mình, chính là pho Dịch Cân Kinh mà Cưu Ma Trí đánh rơi. Dưới đáy giếng tối đen như mực, Mộ Dung Phục không thấy là vật gì, vội tránh qua một bên. Cũng may là y né tránh, nên lúc Cưu Ma Trí nhảy xuống không đè trúng y.
Cưu Ma Trí nhặt được cuốn kinh trong bùn, đột nhiên nổi lên một tràng cười rộ. Đáy giếng vừa sâu vừa chật hẹp, tiếng cười vang đi vọng lại làm ù cả tai Đoàn Dự, rất khó chịu. Cưu Ma Trí bật lên tiếng cười, rồi không sao ngừng lại được nữa, nội tức trong người lão bành trướng, thần trí mê man. Lão đứng ngập trong bùn lầy, tay đấm chân đá vào thành giếng. Quyền cước của lão có lúc mãnh liệt vô cùng, đập gạch vỡ tan nát, có lúc lại hoàn toàn vô lực.
Vương Ngữ Yên kinh hãi vô cùng, dựa sát vào mình Đoàn Dự khẽ nói: “Lão điên rồi!” Đoàn Dự đáp: “Đúng là lão điên rồi!” Còn Mộ Dung Phục thi triển khinh công Bích Hổ Du Tường, dán người vào thành giếng trườn dần lên.
Cưu Ma Trí cứ vừa cười rộ vừa ho rũ rượi, quyền cước đánh ra mỗi lúc một nhanh. Vương Ngữ Yên đánh bạo khuyên lão: “Đại sư ngồi xuống đây nghỉ một lúc, định thần lại đã.” Cưu Ma Trí vẫn cười ha hả đáp: “Ta… ta định thần được ư? Ta định cái đầu ngươi!” Rồi lão vung trảo ra chụp xuống nàng. Đáy giếng hẹp quá không có chỗ xoay trở, Vương Ngữ Yên thấy sắp bị Cưu Ma Trí chụp xuống vai, kinh sợ la rầm lên.
Đoàn Dự nghiêng người qua để che cho nàng, la gọi: “Muội nấp vào sau lưng ta!” Giữa lúc ấy hai tay Cưu Ma Trí chụp trúng vào cổ họng Đoàn Dự, bóp thật mạnh. Đoàn Dự cảm thấy khó thở, nói không ra tiếng. Vương Ngữ Yên cả kinh, cố kéo tay lão ra. Nhưng Cưu Ma Trí đã nổi cơn điên, dù không vận nội lực được theo ý muốn, nhưng khí lực cũng mạnh phi thường. Vương Ngữ Yên nắm lấy tay lão, chẳng khác nào chuồn chuồn lay cột đá, không chuyển động mảy may. Nàng lại càng kinh hãi, chỉ sợ Cưu Ma Trí bóp chết Đoàn Dự, vội la lên: “Biểu huynh! Biểu huynh! Mau giúp một tay! Lão hòa thượng này muốn bóp chết Đoàn công tử!”
Mộ Dung Phục ngần ngừ nghĩ bụng: “Gã họ Đoàn này nói là giúp mình làm phò mã nước Tây Hạ, chẳng hiểu hắn nói thật hay nói dối. Hắn đã làm mình mất mặt trên núi Thiếu Thất, làm thanh danh nhà Mộ Dung tan nát trên chốn giang hồ. Nay hắn sắp chết đến nơi, mình cứu hắn làm chi? Hơn nữa tên ác tăng này bản lĩnh ghê hồn, ta không địch nổi. Để hai tên đánh nhau cho chết cả đi càng tốt, nếu ta nhúng tay vào vụ này, thì thật là người bất trí.” Y vẫn bấm ngón tay vào kẽ gạch, dán người vào thành giếng, nhất định không nhảy xuống cứu Đoàn Dự. Vương Ngữ Yên kêu khan cả cổ mà Mộ Dung Phục vẫn lờ đi như không nghe tiếng.
Vương Ngữ Yên bèn vung nắm tay đánh tới tấp xuống đầu xuống lưng Cưu Ma Trí. Nhưng lão chỉ cười ha hả, ho rũ rượi, bóp cổ Đoàn Dự lại càng mạnh hơn trước.
Sáng hôm sau, Ba Thiên Thạch cùng Chu Đan Thần thức dậy chẳng thấy Đoàn Dự đâu, lại qua phòng Vương Ngữ Yên gọi nhưng chẳng nghe ai trả lời. Ba, Chu thấy cửa phòng khép hờ liền mở ra nhìn, thấy chẳng có một ai thì lo sốt vó. Chu Đan Thần nói: “Tiểu Vương tử cũng y hệt Vương gia, đi đến đâu là vương tình đến đấy. Nhất định y cùng Vương cô nương nửa đêm lẻn đi rồi, mà không biết đi đâu?” Ba Thiên Thạch gật đầu nói: “Tiểu Vương tử là người phong lưu lãng mạn, chỉ thích mỹ nữ, chẳng nghĩ gì đến chuyện quốc gia. Y chung tình với Vương cô nương ai cũng biết rõ, bảo y đi làm phò mã Tây Hạ, chắc y chẳng chịu nghe đâu. Ngày trước, ngay cả hoàng thượng cùng Vương gia bảo y luyện võ, nói thế nào y cũng không chịu. Sau bị bức bách quá, y liền bỏ nhà trốn đi.” Chu Đan Thần nói: “Chúng mình phải chia ra hai ngả mà đuổi tìm, rồi cố khuyên y vậy, chứ còn biết làm thế nào nữa?” Ba Thiên Thạch nắm chặt hai tay, nhăn nhó cười khổ.
Chu Đan Thần lại nói: “Ba huynh! Ngày nọ Vương gia sai tiểu đệ đi tìm tiểu Vương tử. Tìm được y có phải chuyện dễ đâu? Nào ngờ…” Y hạ thấp giọng xuống rồi nói tiếp: “Tiểu Vương tử đang say mê Mộc Uyển Thanh cô nương, hai người đang đêm lẻn đi. May mà vận khí tiểu đệ không tồi, ra chặn ở đầu đường rồi đưa được y về phục mệnh.” Ba Thiên Thạch vỗ đùi đánh đét một cái, nói: “Trời ơi! Thế thì lỗi tại Chu hiền đệ rồi! Hiền đệ đã trải qua một lần, sao lại còn đi vào vết xe đổ? Sao hiền đệ không cho tiểu huynh hay để luân phiên canh chừng?” Chu Đan Thần thở đài đáp: “Tiểu đệ tưởng y phải nể mặt Tiêu đại hiệp cùng Hư Trúc tiên sinh, không dám bỏ đi? Ngờ đâu…” Gã hạ thấp giọng nói tiếp: “Ngờ đâu y say hoa đắm nguyệt, quên tình bằng hữu.” Câu này phê bình người trên thật là phạm thượng, nên gã không dám nói to. Vả lại gã vốn chơi thân với Đoàn Dự, cũng không muốn dị nghị chàng nhiều.
Hai người không biết làm thế nào, đành báo cho Tiêu Phong và Hư Trúc hay. Mọi người chia đi các ngả tìm kiếm ròng rã một ngày, chẳng ai được tin tức gì hết.
Tối hôm ấy mọi người ngồi trong căn phòng trống của Đoàn Dự để bàn bạc. Bỗng có tiếng gõ cửa, một tên chủ sự trong bộ Lễ nước Tây Hạ đến nhà quán dịch. Hắn thông báo với Ba Thiên Thạch rằng, đêm rằm tháng tám, hoàng thượng thiết yến ở Tây Hoa Cung để khoản đãi những tân khách đến cầu hôn, mời Đoàn Vương tử nước Đại Lý tới dự. Ba Thiên Thạch có nỗi khổ mà không nói ra được, đành vâng dạ cho qua.
Tên chủ sự này đã nhận của đút lót của Ba Thiên Thạch nên tỏ vẻ rất thân mật. Lúc cáo từ, Ba Thiên Thạch tiễn ra cửa, y còn ghé tai nói nhỏ: “Ba Tư không! Tại hạ có tin này báo cho Tư không hay. Đêm mai hoàng thượng sẽ đến dự yến, trên bàn tiệc ngài sẽ xem xét tài mạo cử chỉ của quí khách. Sau yến tiệc, không chừng còn có cuộc tỉ đấu, bắn tên thí võ, để quí khách so tài cao thấp. Đây là đầu mối quan trọng để biết vị nào trúng tuyển làm phò mã, sánh duyên cùng công chúa. Vậy Đoàn công tử cần chuẩn bị cẩn thận hơn.” Ba Thiên Thạch chắp tay cảm ơn, rồi lại móc trong tay áo ra một đĩnh vàng nhét vào tay hắn.
Ba Thiên Thạch trở vào nhà tân quán, kể lại cho mọi người nghe rồi nói tiếp: “Trấn Nam Vương dặn cả ngàn lần là phải tìm cách để tiểu Vương tử lấy được công chúa Tây Hạ. Ta cùng Chu đệ mà không tròn phận sự thì chẳng còn mặt mũi nào về gặp Vương gia nữa.”
Trúc Kiếm toét miệng cười nói: “Ba lão gia! Tiểu tì muốn nói một câu, không hiểu có được chăng?” Ba Thiên Thạch nói: “Tỉ tỉ cứ nói đi!” Trúc Kiếm nói: “Phụ vương Đoàn công tử muốn y lấy công chúa nước Tây Hạ, chẳng qua vì mục đích Tây Hạ cùng Đại Lý thành thân gia, nương tựa lẫn nhau phải không?” Ba Thiên Thạch đáp: “Đúng thế!” Trúc Kiếm lại hỏi: “Còn như công chúa nước Tây Hạ đẹp tựa Tây Thi hay xấu như Vô Diệm, Đoàn Vương gia chẳng cần để ý, có đúng thế không?”. Ba Thiên Thạch nói: “Đã là một vị công chúa tôn quí thì nhan sắc dù chẳng chim sa cá lặn, nhất định cũng khả ái dễ nhìn.” Mai Kiếm nói: “Bọn tỉ muội tiểu nữ có ý kiến, chúng ta phải làm sao lấy được công chúa đưa về Đại Lý, còn tìm được Đoàn công tử có kịp hay không thì cũng chẳng ảnh hưởng gì đến đại cuộc.” Lan Kiếm cười nói: “Cứ để y cùng Vương cô nương du sơn ngoạn thủy nửa năm hay hai ba năm, rồi mới trở về Đại Lý động phòng hoa chúc cùng công chúa, tưởng cũng không muộn.”
Ba Thiên Thạch cùng Chu Đan Thần vừa kinh ngạc vừa hoan hỉ, đồng thanh hỏi: “Tiểu Vương tử không có ở đây, thì làm sao cưới được công chúa Tây Hạ về Đại Lý được? Bốn vị cô nương có diệu kế gì, xin nói cho nghe.”
Mai Kiếm đáp: “Vị Mộc cô nương này mà cải dạng nam trang thì thật là một chàng thư sinh mỹ mạo, còn đẹp hơn Đoàn công tử nhiều. Ngày mai, Mộc cô nương phó yến thì dù trên tiệc có hàng trăm hàng ngàn thiếu niên anh hùng cũng chẳng ai hơn được.” Lan Kiếm nói: “Mộc cô nương là muội muội Đoàn công tử, đi cưới tẩu tẩu về thay ca ca, lập công lớn cho quốc gia, làm hài lòng gia phụ. Đây không phải là chuyện vui mừng lắm ư?” Trúc Kiếm nói: “Mộc cô nương từ lúc được chọn làm phò mã, đến lúc bái đường thành thân còn khá nhiều thời gian, không chừng có thể tìm thấy Đoàn công tử.” Cúc Kiếm nói: “Giả tỉ Đoàn công tử chưa có mặt, thì Mộc cô nương thay công tử mà bái đường cũng có sao đâu?”. Nói xong, bốn cô tỉ muội đều bưng miệng cười khúc khích.
Bốn cô này tâm ý tương thông, khẩu âm cũng giống hệt. Bốn người nói tiếp lời nhau, mà nghe chẳng khác gì một người nói.
Ba, Chu ngơ ngác nhìn nhau, đều biết rằng kế hoạch này thật là mạo hiểm. Nếu bị người Tây Hạ khám phá ra, thì thân gia không thành mà lại kết thành oan gia. Giả tỉ hoàng đế Tây Hạ nổi cơn thịnh nộ, hạ lệnh khởi binh, thì vạ lớn không biết đến đâu mà lường.
Mai Kiếm đoán được tâm tư của hai người, liền nói: “Thật ra Đoàn công tử còn có vị nghĩa huynh là Tiêu đại hiệp. Chúng ta cũng không muốn dây dưa đến Tây Hạ làm gì, chỉ vì có lệnh của Trấn Nam Vương mà không thể dừng được. Vạn nhất xảy ra đại biến, Tiêu đại hiệp là Nam Viện Đại Vương nước Đại Liêu, trong tay nắm mấy chục vạn hùng binh, chỉ nói mấy câu tử tế là ngăn cản được Tây Hạ không dám sinh sự với Đại Lý nữa.” Tiêu Phong mỉm cười, khẽ gật gật đầu.
Ba Thiên Thạch là quan Tư không nước Đại Lý, coi sóc nhiều việc lớn trong nước. Y đã nghĩ rằng Tiêu Phong có thể viện trợ rất đắc lực cho Đại Lý, nhưng không tiện nói ra. Lúc này y nghe Mai Kiếm nói vậy, lại thấy Tiêu Phong gật đầu, thì thật là không cầu mà được, quốc gia yên ổn. Y lại nghĩ thầm: “Mưu kế của bốn tiểu cô nương này nghe như trò trẻ, nhưng ngoài kế ấy cũng không còn cách nào khác. Chẳng hiểu Mộc cô nương có chịu mạo hiểm không?” Y liền nói: “Ý kiến của bốn vị cô nương đây thật là diệu kế, nhưng nguy hiểm vô cùng. Vạn nhất mà bại lộ cơ mưu, Mộc cô nương có thể bị bắt. Huống chi, tuấn kiệt thiên hạ kéo về đây tụ tập như mây, kể về mỹ mạo thì Mộc cô nương là số một, nhưng về võ công thì chẳng hiểu có áp đảo quần hùng được chăng?”
Mọi người chú ý nhìn Mộc Uyển Thanh, chờ xem chủ ý nàng thế nào.
Mộc Uyển Thanh nói: “Ba Tư không! Tư không đừng nói khích ta nữa. Ca ca ta… Ca ca ta…” Nàng nội hai câu “Ca ca ta” rồi đột nhiên nước mắt tuôn rơi, thấy Đoàn Dự lẻn đi cùng Vương Ngữ Yên, cũng hệt như năm xưa cùng nàng giữa canh khuya bỏ trốn. Giả tỉ chàng không phải là huynh trưởng thì chắc không thay lòng đổi dạ, nhưng bây giờ chàng cùng kẻ khác thân ái mặn nồng, vui thú chẳng khác thần tiên, còn nàng chịu cô đơn lạnh lẽo ở đây. Thế mà đám thần tử nước Đại Lý lại bảo nàng thay thế chàng mà xuất lực. Bản tính nàng vốn bướng bỉnh, lòng bi phẫn vừa nổi lên là xô đổ cái bàn phía trước, bình tách loảng xoảng rớt xuống đất, rồi nhảy vọt ra khỏi phòng.
Mọi người nhìn nhau ngơ ngác, mất cả hứng thú. Ba Thiên Thạch hối hận nói: “Việc này là lỗi của ta. Giả tỉ ta khéo léo cầu khẩn, thì Mộc cô nương dù không đồng ý cũng bỏ qua. Nhưng ta lại dùng lời nói khích, khiến cô nương phải nổi giận.” Chu Đan Thần lắc đầu nói: “Mộc cô nương nổi giận không phải vì mấy câu nói của Ba huynh đâu, còn có nguyên nhân sâu xa bên trong. Ôi, một lời khó mà nói hết được!”
Sáng sớm hôm sau, mọi người lại chia nhau đi tìm Đoàn Dự. Ngoài đường phố, không biết bao nhiêu thiếu niên công tử phục sức cực kỳ lòe loẹt qua lại lũ lượt. Đại đa số bọn này sẽ vào hoàng cung dự yến. Thỉnh thoảng có tiếng quát mắng ẩu đả om sòm, đó là bọn võ sĩ Thổ Phồn đang tìm cách giúp tiểu Vương tử của chúng loại bớt địch thủ.
Tối đến, mọi người quay về quán dịch. Tiêu Phong nói: “Tam đệ đã bỏ đi thì chúng ta cũng đi thôi. Ai làm phò mã cũng mặc, chẳng liên quan gì đến chúng ta.” Ba Thiên Thạch nói: “Tiêu đại hiệp nói đúng lắm. Chúng ta ngồi đây nhìn người khác làm phò mã lại càng bực bội.”
Chung Linh bỗng hỏi: “Chu tiên sinh! Tiên sinh đã lấy vợ chưa? Đoàn công tử không muốn làm phò mã, sao tiên sinh lại không làm? Tiên sinh lấy được công chúa nước Tây Hạ thì cũng giúp cho Đại Lý được chứ?” Chu Đan Thần cười đáp: “Chung cô nương khéo nói giỡn. Vãn sinh đã có thê tử rồi, có cả con trai lẫn con gái.” Chung Linh lè lưỡi lắc đầu. Chu Đan Thần lại nói tiếp: “Đáng tiếc là khuôn mặt cô nương bầu bĩnh quá, lại má lúm đồng tiền chẳng giống nam nhân chút nào, không thể thay cho ca ca đi lấy công chúa Tây Hạ được.” Chung Linh hỏi: “Thế nào? Thay ca ca ta ư?” Chu Đan Thần biết mình lỡ lời, nghĩ thầm: “Cô này cũng là con tư sinh của Trấn Nam Vương, nhưng việc này chưa thành công khai, mình chẳng nên nói càn.” Gã liền nói chữa: “Tại hạ muốn nói là cô nương không thể giúp cho tiểu Vương gia hoàn thành đại sự.”
Bỗng nhiên ngoài cửa có người lên tiếng: “Ba tiên sinh! Chu tiên sinh! Chúng ta đi thôi chứ!” Rèm cửa vén lên, một chàng thiếu niên tuấn nhã bước vào, chính là Mộc Uyển Thanh đội lốt thư sinh. Mọi người vừa kinh ngạc vừa hoan hỉ, đồng thanh hỏi: “Thế nào? Mộc cô nương chịu đi ư?” Mộc Uyển Thanh đáp: “Tại hạ họ Đoàn tên Dự, là thế tử của Trấn Nam Vương nước Đại Lý. Các vị phải ăn nói cho cẩn thận!” Nàng nói dõng dạc, thanh âm cũng tương tự một chàng thiếu niên. Mọi người thấy nàng bắt chước rất giống, đều cười ha hả.
Thì ra sau khi Mộc Uyển Thanh tức giận chạy về phòng khóc một hồi, nghĩ tới nghĩ lui, thấy mình đắc tội với mọi người, trong lòng rất áy náy, liền giả làm Đoàn Dự để đi lấy công chúa Tây Hạ. Chuyện này cũng làm nàng hứng thú, nghĩ thầm: “Huynh cùng Vương cô nương như chim liền cánh thật là sung sướng. Ta phải đem công chúa Tây Hạ về để quấy rầy chơi, làm huynh phải phiền não mới được.” Nàng nhớ lại xưa kia vào thành Đại Lý, lúc mới gặp song thân Đoàn Dự mình đã bẽn lẽn vô cùng. Rồi đây Đoàn Dự có chính thất là một vị công chúa, lại đủ mai mối nghi lễ, như thế thì Vương Ngữ Yên không thể làm vợ y được. Mình đã không lấy được y, thì cũng không để một cô gái xinh đẹp nào khác trở thành vợ y. Nàng càng nghĩ càng đắc ý, quyết chí mạo xưng là Đoàn Dự.
Ba Thiên Thạch phấn chấn hẳn lên, vội vàng chuẩn bị mọi việc. Gã nhớ tới Đào thị lang ở bộ Lễ đã đến gặp Đoàn Dự tại quán dịch này, bèn chuẩn bị ba trăm lạng vàng, sai Chu Đan Thần đem tặng Đào thị lang. Lễ vật đã biện trước rồi, đây chỉ là số tặng thêm. Ba Thiên Thạch còn dặn dò Chu Đan Thần không cần phải nói nhiều, nếu lát nữa Đào thị lang có phát hiện thấy gì thì cũng sẽ tự hiểu mà im lặng. Ba trăm lạng vàng để trám miệng, đối với Đào thị lang có thể nói im lặng là vàng.
Mộc Uyển Thanh nói: “Tiêu đại ca! Hư Trúc nhị ca! Được hai vị cùng đi phó yến thì tiểu đệ chẳng còn sợ hãi gì nữa. Nếu không thì lúc phải động thủ, làm sao tiểu đệ thắng nổi bọn họ? Trong hoàng cung mà phóng độc tiễn giết người, thì còn ra thể thống gì nữa?”
Lan Kiếm cười nói: ” Phải đó! Nếu Đoàn công tử mà phóng tên độc ra bốn phía, thì trong hoàng cung nước Tây Hạ thây chết ngổn ngang, e rằng công chúa không chịu lấy công tử đâu!” Tiêu Phong cười đáp: “Ta cùng nhị đệ đã chịu lời ủy thác của Đoàn bá phụ, dĩ nhiên là phải tận lực.”
Mọi người thay đổi y phục xong, đi về phía hoàng cung. Tiêu Phong cùng Hư Trúc giả làm tùy tùng trong phủ Trấn Nam Vương nước Đại Lý. Chung Linh và Tứ Kiếm cung Linh Thứu đều muốn cải dạng nam trang để đi coi vụ náo nhiệt này, nhưng Ba Thiên Thạch ngăn cản: “Một mình Mộc cô nương cải trang đã nguy hiểm rồi, nếu cả năm vị cô nương cùng cải trang nữa thì thế nào cũng bại lộ hành tung.” Bọn Chung Linh đành phải thôi.
Đoàn người vừa ra khỏi cửa quán dịch, Ba Thiên Thạch bỗng la lên: “Trời ơi! Suýt nữa thì nguy to! Mộ Dung Phục cũng đến đây tranh ngôi phò mã, mà gã đã biết mặt Đoàn công tử rồi. Bây giờ phải làm thế nào?” Tiêu Phong mỉm cười nói: “Ba huynh bất tất phải lo ngại, Mộ Dung công tử cũng như Đoàn tam đệ, không từ biệt mà bỏ đi. Vừa rồi tại hạ đã ghé thăm, thấy bọn Đặng Bách Xuyên, Bao Bất Đồng cũng đang nóng nảy chẳng khác gì kiến bò trong chảo.” Mọi người cả mừng, cùng nói: “Thật là tuyệt diệu!”
Chu Đan Thần khen ngợi: “Tiêu đại hiệp thật là chu đáo, đã đi do thám bên Mộ Dung công tử!” Tiêu Phong mỉm cười nói: “Nếu mình không tính toán cho kỹ lưỡng, thì e rằng Mộ Dung công tử võ nghệ cao cường, tất là một tay kình địch của Mộc cô nương.” Ba Thiên Thạch cười nói: “Chắc Tiêu đại hiệp tìm đến cốt để khuyên can y tối nay đừng đi phó yến nữa.” Chung Linh tròn mắt, cất tiếng hỏi: “Y đường xa ngàn dặm đến đây chi vì mục đích mụốn làm phò mã Tây Hạ, đại hiệp muốn khuyên can cũng đâu có dễ gì? Tiêu đại hiệp! Chắc là đại hiệp chơi thân với Mộ Dung công tử lắm?” Mộc Uyển Thanh cười nói: “Giao tình giữa Tiêu đại hiệp với y thế nào thì chưa biết, nhưng quyền cước và khẩu tài Tiêu đại hiệp rất giỏi, y không nghe cũng không được.” Chung Linh hiểu ra, cười nói: “Quyền cước đi đôi với lời khuyên, dĩ nhiên người ta dễ nghe hơn.”
***
Mộc Uyển Thanh, Tiêu Phong, Hư Trúc, Ba Thiên Thạch và Chu Đan Thần, năm người vào tới hoàng cung. Ba Thiên Thạch đưa danh thiếp của Đoàn Dự vào. Quan thượng thư bộ Lễ nước Tây Hạ thân hành ra đón, nghênh tiếp vào cung.
Ở điện Trung Hòa đã có hơn trăm thiếu niên đến dự yến, ngồi rải rác khắp nơi. Giữa điện kê một cái bàn phủ khăn gấm thêu rồng vàng, đó là chỗ của quốc vương nước Tây Hạ. Hai dãy bàn hai bên đều trải khăn bằng đoạn tía. Bàn tiệc phía đông có một thiếu niên mày rậm mắt to, thân thể béo tốt, mình mặc trường bào màu đỏ có thêu một con cọp nhe nanh giơ vuốt, trông cực kỳ uy mãnh. Sau y có tám tên võ sĩ đứng hầu. Bọn Ba Thiên Thạch vừa nhìn thấy đã biết ngay đó là Tôn Tán, Vương tử nước Thổ Phồn.
Quan thượng thư bộ Lễ đưa Mộc Uyển Thanh vào ngồi riêng một bàn tiệc ở đầu phía tây, chứ không ngồi chung với người khác. Xem thế thì đủ biết trong bọn thiếu niên đến cầu thân thì Vương tử nước Thổ Phồn và Vương tử nước Đại Lý là hai nhân vật tôn quý hơn hết, được quốc vương nước Tây Hạ đối đãi một cách đặc biệt. Ngoài ra, con cháu các đại thần cùng hào kiệt thứ dân cũng phân ra người nào ngồi chỗ nấy.
Các bàn tiệc đã đông đủ cả rồi, hai vị tướng quân tuyên bố: “Quí khách đến đông đủ rồi, đóng cửa điện lại.” Âm nhạc bắt đầu nổi lên, bốn tên thị vệ cầm kích từ từ đẩy hai cánh cửa điện rất dày vào, đóng chặt lại. Trong hành lang có một đoàn thị vệ mặc giáp vàng tay cầm trường kích, đầu kích đều có đốt đuốc để soi sáng. Tiếp theo tiếng âm nhạc, hai đội thị vệ từ nội đường đi ra, mỗi tên bưng một lư hương bằng bạch ngọc, khói xanh trong lư bốc lên nghi ngút. Mọi người đều biết nhà vua sắp ra, nín thở chờ đợi, không dám lên tiếng.
Sau cùng là bốn tên thị vệ mặc áo cẩm bào, trong tay không cầm gì, chia ra đứng hai bên bàn ngự tọa. Tiêu Phong thấy huyệt thái dương của bốn tên này đều nhô lên, biết đây là những nhân vật võ công cao cường, cận vệ bên cạnh nhà vua. Một tên nội thị dõng dạc tuyên bố: “Vạn tuế gia đến! Nghênh giá!” Mọi người quì cả xuống.
Rồi có tiếng giày nhà vua từ trong đi ra, ngồi vào ghế ngự tọa. Gã nội thị lại hô: “Bình thân!” Mọi người đều đứng lên. Tiêu Phong quay mặt nhìn về phía hoàng đế, thấy thân hình nhà vua không cao lớn lắm, song vẻ mặt cũng có khí thế một nhân vật anh hùng ngoài biên ải.
Quan thượng thư bộ Lễ đứng bên ngự tọa, mở cuốn trục ra lớn tiếng đọc: “Thuận thiên thừa vận, Quảng thánh thần võ Tây Hạ Hoàng đế xuống chỉ: Các khanh nghe lời hiệu triệu, từ xa đến đây, trẫm rất hài lòng, ban cho ngự yến. Khâm thử.” Mọi người quì xuống tạ ơn. Gã nội thị lại hô: “Bình thân!” Mọi người lại đứng lên.
*****
Nguồn: truyenkimdung


