Thiên Long Bát Bộ Tác giả: Kim Dung Số Chương: 65 Trạng thái: Hoàn thành

TLBB - Chương 58 - Đáy giếng khô hai lòng hòa nhịp, chốn bùn lầy hẹn ước chung thân

UDECAREER20/05/2024~75 phút đọc

Tiết trời mùa hạ cực kỳ nóng bức, lúc giữa ngọ lại càng nóng như lửa,.Từ giờ đến trung thu hãy còn lâu, nên mọi người chỉ đi vào lúc sáng sớm hay xế chiều, cứ đi chừng sáu bảy chục dặm lại nghỉ ngơi. Dọc đường, thương thế Đoàn Dự bình phục rất nhanh. Hư Trúc đã tiếp xương chỗ chân gãy cho Du Thản Chi, xem chừng có nhiều hy vọng bình phục như cũ. Du Thản Chi chẳng nói với ai nửa lời, được Hư Trúc chữa chân mà trong lòng vẫn hằn học căm giận.

Một hôm mọi người đi tới Hàm Dương. Đoàn Dự kể cho bọn Tiêu Phong nghe sự tích Lưu Bang cùng Hạng Võ tranh bá đồ vương ở vùng này. Tiêu Phong cùng Hư Trúc đều ít đọc sách, nghe Đoàn Dự kể chuyện anh hùng hào kiệt ngày xưa đều cảm thấy hứng thú.

Thốt nhiên có tiếng vó ngựa dồn dập, từ phía sau có hai người cưỡi ngựa đi nhanh đến. Bọn Tiêu Phong rẽ ngựa ra hai bên để nhường đường, nhưng A Tử lại tiến ra giữa đường cản lối. Hai người cưỡi ngựa vừa đến sau lưng, nàng liền giơ roi lên quất vào đầu con ngựa đi sau. Người cưỡi ngựa đằng sau cũng vung roi lên đón lấy ngọn roi của A Tử đánh tới, rồi cất tiếng gọi: “Đoàn công tử! Tiêu đại hiệp! Hãy dừng bước đã!”

Đoàn Dự quay đầu nhìn lại, thì ra người đi trước là Ba Thiên Thạch, người đi sau là Chu Đan Thần. Ba Thiên Thạch vừa cầm roi ngựa gạt ngọn roi của A Tử đánh ngựa của Chu Đan Thần, đã vội xuống ngựa đến trước Đoàn Dự phục lạy. Đoàn Dự tuy ở thân phận chủ nhân, nhưng vẫn coi Ba, Chu hai người vào hàng trưởng bối, cũng vội vàng xuống ngựa đáp lễ, hỏi: “Gia gia ta vẫn bình yên chứ?” Bỗng một tiếng “véo” vang lên, A Tử cầm roi ngựa quất xuống đầu Ba Thiên Thạch.

Ba Thiên Thạch chưa đứng dậy, y vẫn quì dưới đất, chỉ né người đi một chút cho ngọn roi của A Tử vụt trệch đi, rồi lấy đầu gối đè lên ngọn roi. A Tử ra sức giật lại mà ngọn roi không nhúc nhích, nàng biết nếu dùng nội lực để tranh chấp thì nhất định mình không bằng đối phương, liền buông tay ra cho ngọn roi hất về phía Ba Thiên Thạch. Ba Thiên Thạch căm hận nàng đã làm nhục Chử Vạn Lý đến chết, đối với nàng lúc nào cũng dè dặt đề phòng. Ngờ đâu A Tử tuy đui mắt mà hành động cực kỳ cơ biến, đầu ngọn roi của nàng hất lại rất mau. Ba Thiên Thạch vừa nghe tiếng gió vội né tránh, tuy tránh được ngọn roi không vụt vào đầu, nhưng cũng vụt trúng vai đánh “chát” một tiếng.

Đoàn Dự quát lên: “Tử muội! Ngươi lại ngang ngược rồi.” A Tử đáp: “Muội có ngang ngược gì đâu? Y muốn lấy chiếc roi ngựa, nên muội hất lại cho y.” Ba Thiên Thạch là người trầm tĩnh, chỉ cười hì hì nói: “Đa tạ cô nương đã cho ngọn roi này.” Y không muốn nói gì về vụ này nữa, liền móc trong bọc ra một phong thư, hai tay đưa lên cho Đoàn Dự.

Đoàn Dự đón lấy, thấy ngoài phong bì đề ba chữ: “Dự nhi lãm”, thì ra chính là thư của phụ thân. Chàng liền hai tay nâng bức thư lên cao, chỉnh đốn y phục, kính cẩn mở xem. Bức thư này Đoàn Chính Thuần viết để bảo chàng đi Tây Hạ. Trong thư nói: “Nước Đại Lý ta ở miền Nam Cương hẻo lánh, nước nhỏ binh yếu, khó chống ngoại xâm, nếu được cùng cường quốc Tây Hạ kết nghĩa Tấn Tần tức là thượng sách để giữ nước yên dân. Hài nhi phải lấy cơ nghiệp tổ tôn làm trọng, lấy xã tắc nhân dân làm quý, mà đem hết tâm lực để thực hiện việc này.”

Đoàn Dự đọc thư xong, sắc mặt biến đổi, lúc hồng lúc trắng, lẩm bẩm: “Cái này… cái này…”

Ba Thiên Thạch lấy ra một phong thư nữa, nói: “Đây là thủ bút của Vương gia, gửi sang quốc vương nước Tây Hạ để cầu thân. Khi công tử tới Linh Châu thì trình thư này lên quốc vương bệ hạ.” Chu Đan Thần cũng cười hì hì nói: “Công tử! Tại hạ kính chúc công tử mã đáo thành công, lấy được nàng công chúa nguyệt thẹn hoa nhường đưa về Đại Lý, để củng cố giang sơn nước nhà vững chắc như bàn thạch.” Đoàn Dự bẽn lẽn hỏi: “Tại sao gia gia biết ta đi Tây Hạ?” Ba Thiên Thạch đáp: “Vương gia biết Mộ Dung công tử đến Tây Hạ cầu thân, nên đoán rằng công tử… cũng đến đó để… tham dự cuộc náo nhiệt này… Vương gia còn dặn công tử phải lấy đại sự quốc gia làm trọng, nên coi rẻ tư tình nhi nữ.”

A Tử cười khoái chí, nói xen vào: “Không trách người ta thường nói: “Biết con chẳng ai bằng cha.” Gia gia nghe nói Mộ Dung Phục đi Tây Hạ, Vương cô nương tất đi cùng, lão nhân gia liền đoán được ngay cậu quý tử cũng lần mò đi theo. Hừ! Thật là cha nào con nấy. Gia gia khuyên bảo lấy đại sự quốc gia làm trọng, coi rẻ tư tình nhi nữ ư? Thế sao gia gia bỏ nước ra đi bấy lâu vẫn không trở về?”

Ba Thiên Thạch, Chu Đan Thần cùng Đoàn Dự thấy A Tử ăn nói bất kính với phụ vương thì đều kinh hãi thất sắc. Nàng nói như vậy tuy thực tình đúng lý, nhưng đạo làm thần tử có lý đâu lại dám bài bác đấng quân phụ?

A Tử lại nói tiếp: “Ca ca! Trong thư gia gia nói gì vậy? Có nhắc đến tiểu muội không?” Đoàn Dự đáp: “Gia gia không biết Tử muội cùng ở với ta.” A Tử nói: “Hừ! Đúng là gia gia không biết. Nhưng gia gia có dặn ca ca đi kiếm tiểu muội không? Gia gia dặn ca ca chiếu cố cho đứa em đui mù không?”

Trong thư, Đoàn Chính Thuần không đề cập đến chuyện này, nhưng Đoàn Dự nghĩ rằng nếu nói thực tình thì cô em phải đau lòng. Chàng liền đưa mắt ra hiệu cho Ba Thiên Thạch và Chu Đan Thần để bọn họ nói rằng phụ thân có bảo họ đi tìm kiếm A Tử, nào ngờ hai người giả vờ không hiểu. Chu Đan Thần nói: “Trấn Nam Vương sai bọn tại hạ đi tùy tùng công tử qua Tây Hạ cầu thân. Nếu không có kết quả thì khi trở về Đại Lý, tuy chẳng bị Vương gia hỏi tội, nhưng chúng ta cũng chẳng còn mặt mũi gặp ai nữa.” Câu nói của Chu Đan Thần tỏ ý vâng lệnh Đoàn Chính Thuần đi giám thị Đoàn Dự, phải cố chiếm cho bằng được ngôi phò mã nước Tây Hạ.

Đoàn Dự cười khổ đáp: “Ta vốn không hiểu võ nghệ, huống chi lại bị thương chưa khỏi, chân khí không vận lên được, thì làm sao so bì được với anh hùng hảo hán trong thiên hạ?”

Ba Thiên Thạch lại nói: “Trấn Nam Vương sai tiểu nhân đến bái kiến Tiêu đại hiệp cùng Hư Trúc tiên sinh, xin hai vị vì nghĩa chi lan giúp công tử một tay. Vương gia còn nói, lần hội kiến vừa qua trên núi Thiếu Thất thời gian ngắn ngủi, người chưa được cùng hai vị chuyện trò, nên sai tiểu nhân kính dâng lễ mọn.” Ba Thiên Thạch nói xong, lấy ra một viên ngọc bích chạm hình sư tử, hai tay dâng lên Tiêu Phong, còn Chu Đan Thần thì lấy trong bọc ra một chiếc quạt ngà, trên quạt có bút tích của Đoàn Chính Thuần đề tặng Hư Trúc.

Hai người tạ ơn, nhận lễ rồi nói: “Công việc của tam đệ, dĩ nhiên bọn tại hạ phải hết sức giúp đỡ, hà tất Vương gia phải căn dặn. Vương gia ban cho báu vật, bọn tại hạ thật lòng không dám nhận.” A Tử nói: “Hai vị xem gia gia ta có hảo tâm không? Gia gia bảo thế để hai vị đừng có tranh ngôi phò mã của tiểu ca ca. Hai vị mà nhận lời là mắc mưu gia gia đó.”

Tiêu Phong thở dài nói: “Tỉ tỉ cô nương chết rồi, khi nào ta còn có ý nghĩ đi lấy người khác nữa?” A Tử nói: “Tỉ phu ngoài miệng tuy nói vậy, nhưng ai biết được lòng dạ thế nào? Hư Trúc tiên sinh trung hậu thực thà, không giống tiểu ca ca quen nết phong lưu. Ta vẫn để ý, thấy tiên sinh chưa vướng bận tình duyên với cô nào. Bây giờ tiên sinh qua Tây Hạ lấy công chúa, có phải tuyệt diệu không?” Hư Trúc thẹn đỏ mặt lên, xua tay lia lịa nói: “Không, không! Tại hạ nhất quyết không làm thế. Tại hạ sẽ cùng đại ca ráng giúp cho tam đệ trong cuộc cầu thân này.”

Ba Thiên Thạch cùng Chu Đan Thần đưa mắt ra hiệu cho nhau, rồi cùng phục lạy nói: “Đa tạ hai vị có lòng chiếu cố cho công tử của bọn tiểu nhân.” Hào kiệt võ lâm đã nói ra là không nuốt lời, Tiêu Phong cùng Hư Trúc đã nhận lời giúp đỡ rồi, Chu, Ba lại trịnh trọng nhắc lại thêm một lần nữa, thế là vừa không sợ hai người hối tiếc mà đổi ý, vừa khiến cho Đoàn Dự khó lòng thoái thác.

***

Đoàn người đi về hướng Tây. Khi gần tới Linh Châu, trên đường càng lúc càng thấy lui tới nhiều nhân vật võ lâm.

Nước Tây Hạ tuy không lớn bằng Đại Tống, Đại Liêu nhưng cũng là một nước lớn ở phía Tây, lúc này quốc vương Tây Hạ cũng đã xưng đế hiệu. Đương kim hoàng đế Tây Hạ Lý Càn Thuận được sử sách gọi là Sùng Tôn Thánh Văn Đế, lấy niên hiệu là Thiên Hựu Dân An, triều chính thanh bình, quốc thái dân an.

Người võ lâm mà lấy được công chúa nước này thì thật là vinh hoa phú quý đến cùng cực, trên đời chẳng còn việc nào may mắn hơn được nữa. Tuy nhiên những nhân vật đã nổi tiếng trong võ lâm thì hầu hết đã có vợ con, còn hạng thiếu niên mới nổi thì chẳng mấy người võ công cao thâm. Trong bọn hào kiệt có cả những vị lão anh hùng dẫn con cháu cùng đồ đệ đi cầu thân, những tay giang dương đại đạo, hào khách các bang hội, lại có cả những người lẻ loi cô độc. Số đông nghĩ rằng: “Nhân duyên ngoài ngàn dặm đều là tiền định, chưa chắc võ công giỏi hơn người khác đã được sánh duyên cùng công chúa. Hễ công chúa ưng ý ai là người đó được làm phò mã.”

Dọc đường gặp không biết bao nhiêu là hào kiệt thiếu niên, ai cũng áo xiêm rực rỡ, binh khí cũng tề chỉnh sáng choang, giống như đi thi võ trạng nguyên. Trong dân gian thường nói “cùng văn phú võ”, người nào có con học võ thì gia đình cũng không đến nỗi nghèo, mà phẩm hạnh không được đoan chính thì lại càng dễ kiếm tiền. Vì thế bọn thiếu niên võ sĩ đi Tây Hạ phải đến chín phần mười trang phục diêm dúa rực rỡ, để cố giành lấy tình cảm của công chúa. Trên đường đi, những người quen biết gặp nhau cũng chỉ cười cợt bên ngoài, hỏi thăm công chúa diện mạo thế nào, dung nhan ra sao, võ nghệ cao hay thấp. Còn những ai không quen biết thì nhìn nhau trừng trừng giận dữ, coi đối phương như là địch thủ.

Một hôm, bọn Tiêu Phong đang lỏng cương cho ngựa đi từ từ, bỗng nghe có tiếng vó ngựa dồn dập, một người cưỡi ngựa từ phía trước phóng lại. Y phục kỵ sĩ rách tươm, trên cổ quấn một miếng vải trắng, thần sắc cực kỳ kinh hoảng. Bọn Tiêu Phong không để ý, chỉ cho là người này nếu không bị ngã thì bị đả thương, chẳng có chi là lạ. Ngờ đâu, lát sau lại có ba người cưỡi ngựa đi qua. Những người này đều bị trọng thương, sắc mặt xám ngắt ra vẻ bẽ bàng, cúi đầu xuống cho ngựa đi mau, không dám ngẩng nhìn mặt bọn Tiêu Phong. Mai Kiếm lẹ miệng lên tiếng: “Phải chăng phía trước có cuộc ẩu đả? Không thì sao lại lắm người bị thương thế này?”

Nàng chưa dứt lời, lại có hai người đi tới. Hai người này đi bộ chứ không cưỡi ngựa, mặt đầm đìa những máu. Một người đầu trùm vải xanh, máu không ngớt thấm ra ngoài. Trúc Kiếm gọi hỏi: “Trời ơi! Ngươi có cần thuốc trị thương không? Làm sao mà bị thương?” Người này mặt mũi hung dữ, trợn mắt nhìn nàng rồi nhổ nước miếng đánh toẹt một cái, cắm đầu đi ngay. Cúc Kiếm cả giận, rút kiếm đánh “soạt” một tiếng, muốn đuổi theo hắn. Hư Trúc lắc đầu nói: “Mặc kệ người ta! Hắn đã bị thương nặng, chẳng nên giận hắn làm gì.” Mai Kiếm nói: “Trúc muội vì lòng tốt hỏi hắn có cần thuốc trị thương không, mà hắn lại tỏ vẻ vô lễ, để hắn chết đi cho đáng kiếp.”

Giữa lúc ấy, lại có bốn con ngựa chạy như bay tới nơi, bên tả hai người, bên hữu hai người. Họ đang trỏ tay vào mặt mà mắng chửi nhau. Một người nói: “Chỉ tại ngươi là con cóc ghẻ mà muốn ăn thịt thiên nga. Sao không biết tự lượng bản lĩnh mà đòi đến Linh Châu để làm phò mã?” Người bên kia mắng lại: “Ngươi có bản lĩnh thì sao không qua được cửa quan? Bây giờ bị thua rồi lại sừng sộ với ta?” Người đối diện lại mắng: “Giả tỉ không có kẻ phóng ám tiễn hại người, thì làm gì ta đến nỗi bị thua?” Bốn người này vừa phóng ngựa rất nhanh vừa nói, nên chưa ai nghe rõ đầu đuôi câu chuyện ra sao. Lát sau, bọn chúng đã tới trước mặt, nhưng thấy bọn Tiêu Phong nhiều người, không dám giành đường, liền rẽ ngựa sang hai bên. Nhưng họ vẫn giơ tay chỉ trỏ mắng nhiếc nhau, đi xa rồi vẫn nghe nói vọng lại. Thì ra, bốn người này đều đến Linh Châu tranh ngôi phò mã nước Tây Hạ, nhưng dường như có một cửa quan nào đó mà bốn người này không vượt qua được, lại bị đả thương nên phải cụp đuôi chạy về.

Đoàn Dự nói: “Đại ca! Tiểu đệ xem ra…” Chàng chưa dứt lời thì trước mặt lại có mấy người chạy bộ đến nơi, có người bị thương ở tay chân, có người sứt đầu chảy máu. Chung Linh không nén nổi hiếu kỳ, phóng ngựa tới hỏi: “Ôi chao! Người giữ cửa quan phía trước ghê gớm lắm phải không?” Một đại hán trung niên hắng giọng đáp: “Cô là nữ nhân, đi qua không bị họ ngăn trở đâu. Còn bọn nam nhân thì quay về đi là hơn.” Bọn Tiêu Phong, Hư Trúc nghe câu này đều lấy làm kỳ, đồng thanh nói: “Chúng ta thử đi xem!” Rồi mọi người giục ngựa chạy thật nhanh.

Đoàn người đi được chừng bảy, tám dặm thì thấy đường núi gập ghềnh, vòng vèo đi lên, chỉ lọt một người cưỡi ngựa. Qua mấy khúc quanh thì thấy một đám đầu người đen sì, bọn Tiêu Phong ruổi ngựa lại gần, thấy trên cao có hai đại hán sóng vai nhau mà đứng giữa đường. Cả hai người đều cao đến hơn sáu thước, to lớn dị thường, một gã cầm cây Thiết chử, một gã nắm cặp Đồng chùy. Hai gã nét mặt hầm hầm, nhìn mọi người đứng phía trước.

Bọn người tụ tập ở đây ít ra phải đến bảy tám chục người, đang bàn tán nhốn nháo, mỗi người nói một câu. Có người nói: “Chúng tôi muốn đến Linh Châu, xin hai vị mở đường cho.” Có người hỏi: “Hai vị ở đây lấy tiền mãi lộ chăng? Không hiểu mỗi người hai lạng hay một lạng? Xin hai vị cứ nói đi, rồi chúng ta thương lượng.” Có người nói: “Nếu hai ngươi không mở đường thì sẽ bị đại họa.” Lại có người nói: “Hai vị tướng mạo đường đường, oai phong lẫm liệt, sao không đến Linh Châu xin ứng tuyển làm phò mã, để nàng công chúa nguyệt thẹn hoa nhường lọt vào tay kẻ khác thì chẳng đáng tiếc ư?” Tha hồ cho bọn này muốn nói gì thì nói, hai đại hán thủy chung vẫn không nói gì.

Đột nhiên trong đám đông có tiếng quát: “Tránh ra!” Rồi hào quang lấp loáng, một người vung kiếm lên, nhằm đâm vào đại hán bên tả. Gã này thân hình to lớn, lại mang khí giới cực nặng, ngờ đâu thân thủ mau lẹ vô cùng. Gã múa cặp chùy đánh lại, ép thanh trường kiếm vào giữa. Mỗi quả chùy nặng tới bốn chục cân, chỉ đập mạnh một cái là thanh kiếm gãy làm hai đoạn. Gã lại phóng cước đá ra trúng vào bụng đối phương. Người kia kêu to lên một tiếng, bị hất tung ra xa bảy tám trượng, nằm sóng sượt dưới đất, một lát sau mới cố lồm cồm bò mãi mà không dậy được.

Lại thấy một người múa song đao xông tới. Đao quang như một bức màn trắng xóa hộ vệ toàn thân, tưởng chừng như nước mưa cũng không rơi vào được. Khi đến trước mặt hai gã đại hán, người này quát lên một tiếng thật to rồi đột nhiên biến đổi đao pháp, vung song đao nhằm chém vào đùi hai gã. Đại hán bên hữu không thèm nhìn đến đường đao biến hóa ra sao, cứ vung Thiết chử lên đập vào giữa làn bạch quang. Chỉ nghe một tiếng rú, song đao của người kia đã bị Thiết chử đánh gãy. Y bị mũi đao gãy đâm vào ngực, máu chảy đầm đìa khắp người, rồi ngã lăn long lóc xuống chân núi.

Hai gã đại hán đánh trọng thương hai người, những người khác không dám tiến lên nữa. Lại nghe có tiếng vó câu lộp cộp, một người cưỡi lừa đi lên. Đó là một thiếu niên thư sinh mới độ mười tám mười chín tuổi, mặc áo bào rộng thùng thình, vẻ người nho nhã, tướng mạo anh tuấn phi thường. Người cưỡi lừa chạy đến bên bọn Tiêu Phong thì ai nấy đều nhận thấy gã này khác hẳn những hào khách giang hồ, bất giác đều quay lại nhìn y. Đoàn Dự đột nhiên la lên một tiếng: “Ôi chao!”, rồi ấp úng: “Ngươi… ngươi…” Nhưng chàng thư sinh này không thèm đưa mắt nhìn, cứ ngồi trên lưng lừa chạy qua mặt chàng.

Chung Linh ngạc nhiên hỏi: “Huynh nhận ra vị tướng công này ư?” Đoàn Dự đỏ mặt đáp:”Không! Ta nhận lầm người. Y… y là nam nhân. Ta có biết y là ai đâu?” Chàng nói câu này thật là ngớ ngẩn. A Tử cười khì một tiếng rồi nói: “Ca ca! Té ra ca ca chỉ biết nữ nhân chứ không biết nam nhân.” Nàng ngừng một lát rồi hỏi: “Chẳng lẽ người vừa đi qua là nam nhân ư? Rõ ràng là nữ nhân mà?” Đoàn Dự hỏi: “Ngươi cũng bảo y là nữ nhân ư?” A Tử đáp: “Đúng là nữ nhân! Người cô ta tiết ra một mùi hương, đúng là của nữ nhân.” Đoàn Dự nghe đến chữ “hương” thì trống ngực đập thình thình, tự hỏi: “Phải chăng đúng là nàng?”

Lúc này thư sinh cưỡi lừa đã đến trước mặt hai gã đại hán, lớn tiếng quát: “Tránh ra!”Thanh âm rất trong trẻo, rõ ràng là giọng một thiếu nữ. Đoàn Dự không còn nghi ngờ gì nữa, cất tiếng gọi: “Mộc cô nương! Uyển Thanh muội tử! Ngươi… ngươi… Ta… ta…” Miệng chàng ấp úng gọi loạn lên, giục ngựa tiến lại. Hư Trúc vội la lên:”Tam đệ! Cẩn thận vết thương…” Ba Thiên Thạch, Chu Đan Thần cùng phóng ngựa đuổi theo.

Thiếu niên thư sinh cưỡi lừa vẫn trừng mắt nhìn hai gã đại hán, không quay đầu lại. Ba Thiên Thạch cùng Chu Đan Thần nhìn nghiêng thấy nửa mặt nàng, đã nhận ra con người xinh đẹp này đúng là người mà Đoàn Dự đã đưa về Trấn Nam Vương phủ nước Đại Lý, chính là Mộc Uyển Thanh. Hai người lẩm bẩm: “Chúng ta thật có mắt như mù, không bằng cô bé đui mắt kia.” Thì ra A Tử tuy mắt chẳng nhìn thấy gì, nhưng thính mũi hơn người thường. Mộc Uyển Thanh có một mùi hương khác lạ, nàng vừa đi qua, A Tử đã ngửi thấy ngay. Còn mọi người thì mắt nhìn rõ ràng là một thiếu niên thư sinh, nhất thời chẳng ai để ý xem xét đó là nam hay nữ.

Đoàn Dự phóng ngựa đến bên, vươn tay nắm lấy vai nàng, dịu dàng nói: “Muội tử! Từ ngày ấy đến nay muội ở đâu? Tiểu huynh nhớ muội quá chừng.” Mộc Uyển Thanh rụt vai lại, né tránh tay Đoàn Dự. Nàng quay đầu hững hờ nhìn chàng, thản nhiên hỏi: “Ngươi nhớ ta ư? Tại sao lại nhớ ta? Ngươi có nhớ ta thật không?” Đoàn Dự ngẩn người ra, cả ba câu hỏi này đều quá khó với chàng.

Đại hán đứng đối diện cười ha hả rồi nói: “Ái chà! Té ra là một cô chiêu! Ta cho cô qua đấy!” Đại hán kia cũng nói: “Nữ nhân thì chúng ta cho qua, còn bọn nam nhân thối tha thì không được đâu. Thằng lỏi kia cút đi!” Hắn trỏ vào mặt Đoàn Dự, nói tiếp: “Cái loại mặt trơn trán bóng kia, lão gia vừa nhìn thấy là ghét cay ghét đắng rồi. Ngươi mà tiến thêm một bước thì lão gia bằm ra làm mắm, đừng có trách ai!” Đoàn Dự nói: “Tôn huynh nói nghe lạ quá! Đường cái là để cho người ta đi lại, tôn huynh không cho đi là vì lẽ gì? Xin được lĩnh giáo!”

Đại hán đáp: “Tôn Tán Vương tử nước Thổ Phồn có lệnh: cửa ải này đóng lại mười ngày, qua khỏi Trung Thu sẽ mở trở lại. Trước ngày Trung Thu chỉ có nữ nhân mới được qua, còn nam nhân thì không được. Ngoài ra, tăng nhân được qua, người phàm tục không được qua; người già được qua, người trẻ không được qua; người chết được qua, người sống không được qua. Cái luật này gọi là Tứ Quá Tứ Bất Quá.” Đoàn Dự hỏi: “Như vậy thì còn nghĩa lý gì?” Đại hán lớn tiếng nói: ” Ngươi hỏi nghĩa lý gì ư? Chẳng có nghĩa lý gì hết. Cặp Đồng chùy của lão gia và cây Thiết chử của lão nhị, chính là nghĩa lý. Tôn Tán vương tử đã hạ lệnh, chính là nghĩa lý. Ngươi là nam nhân, không phải hòa thượng, cũng không phải lão già, thì phải biến thành xác chết mới qua cửa quan này được.”

Mộc Uyển Thanh nói: “Ái chà! Sao lại có hạng người nói chuyện càn rỡ đến thế?” Nàng vung tay phải lên một cái, hai mũi tên bay vèo vèo nhằm vào hai gã đại hán. Chỉ nghe hai tiếng bịch bịch như bắn vào da thuộc, rõ ràng ám tiễn đã bắn trúng ngực mà hai gã này chẳng tổn thương chi hết. Đại hán cầm Thiết chử tức giận quát to: “Cô bé kia thật không biết điều! Sao lại phóng ám khí vào bọn ta?” Mộc Uyển Thanh giật mình kinh hãi nghĩ bụng: “Có lẽ hai tên này măc áo giáp bằng da, tên độc của ta không bắn thủng được.” Đại hán cầm Thiết chử vươn bàn tay to như cái quạt ra, toan nắm lấy Mộc Uyển Thanh. Người gã cao lớn, Mộc Uyển Thanh ngồi trên lưng lừa mà gã chỉ vươn tay ra đã tới trước ngực nàng.

Đoàn Dự la lên:”Tôn huynh không được vô lễ.” Chàng vội đưa tay trái lên chặn lại. Gã liền xoay tay nắm chặt lấy cổ tay Đoàn Dự. Đại hán sử song chùy reo lên: “Hay lắm! Chúng ta hãy xé thằng lỏi mặt trắng này thành hai mảnh.” Gã đưa hữu chùy sang tay trái, tay phải nắm lấy tay kia của Đoàn Dự toan kéo mạnh.

Mộc Uyển Thanh vội quát: “Không được hại ca ca ta!” Mấy mũi ám tiễn lại phóng ra veo véo rồi mất tích như đá quăng xuống biển. Mộc Uyển Thanh phóng ám tiễn vào thân thể chúng không ăn thua gì, lại muốn bắn vào mắt mũi chúng, nhưng ở giữa còn có Đoàn Dự, nên lại sợ trúng phải chàng. Hai bên lối đi này là hai vách núi dựng đứng. Hư Trúc, Ba Thiên Thạch, Chu Đan Thần bị Mộc Uyển Thanh và Đoàn Dự cưỡi ngựa chặn mất lối đi, không thể tiến lên cứu ứng được.

Hư Trúc tung mình nhảy lên, rời khỏi yên ngựa, lao tới tên đại hán cầm Thiết chử, toan giơ tay ra điểm vào sườn gã. Đoàn Dự bỗng cười ha hả nói: “Nhị ca bất tất phải hoang mang. Bọn chúng không hại tiểu đệ được đâu.”

Thân hình cao lớn của hai gã đại hán bỗng dần dần run rẩy, hai cái đầu to tướng lắc lư không dừng được, lát sau cả hai đồng thời ngã huỵch xuống đất. Nội lực Bắc Minh Thần Công trong mình Đoàn Dự chuyên hút chân khí địch nhân, nội lực hai gã đại hán bị hút hết, thần lực trời sinh cũng bằng vô dụng, liền ngã lăn ra. Đoàn Dự nói: “Các ngươi đã đánh chết cùng đả thương nhiều người, nên bây giờ phải chịu trừng phạt như thế này. Từ đây về sau không được càn rỡ thế nữa!”

Chung Linh lúc đó cũng tới nơi, liền cười nói: “E rằng bọn chúng không còn bản lĩnh để càn rỡ nữa” Nàng quay đầu lại nhìn Mộc Uyển Thanh nói: “Mộc cô cô! Không ngờ lại chính là cô cô!” Mộc Uyển Thanh lạnh lùng hỏi: “Ngươi là muội tử ta, sao lại gọi ta bằng cô cô?” Chung Linh ngạc nhiên hỏi: “Mộc cô cô nói giỡn rồi! Sao điệt nữ lại là muội tử của cô cô được?” Mộc Uyển Thanh trỏ vào Đoàn Dự nói: “Ngươi cứ hỏi y sẽ rõ.” Chung Linh quay lại nhìn Đoàn Dự, chờ chàng giải thích.

Mặt Đoàn Dự đỏ bừng lên, chàng ấp úng một hồi mà không nói được tiếng nào. May mà lúc đó hai gã đại hán kia đã ngã, những người vốn bị ngăn cản ào ạt kéo qua để tiến vào Linh Châu.

A Tử cất tiếng hỏi: “Ca ca! Vị cô nương thơm phức kia cũng là người quen cũ của ca ca ư? Sao ca ca không giới thiệu với tiểu muội?” Đoàn Dự đáp: “Ngươi đừng nói lăng nhăng. Đó là… tỉ tỉ ngươi đó. Ngươi lại bái kiến đi!” Mộc Uyển Thanh tức giận nói: “Ta làm gì có phúc khí lớn như thế?” Rồi nàng quất roi vào mông cho lừa chạy về phía trước.

Đoàn Dự đuổi theo hỏi: “Từ bấy đến nay, muội tử ở đâu? Muội… muội trông gầy ốm đi nhiều.” Mộc Uyển Thanh tính tình vừa cao ngạo vừa hung hãn, động tay là giết người, nhưng chỉ nghe một câu nói dịu dàng của Đoàn Dự đã thấy chua xót trong lòng. Hơn một năm nay nàng phiêu bạt giang hồ, dạn dày mưa gió, nghĩ lại cực kỳ đau khổ. Bao nhiêu thảm trạng trong chớp mắt lại hiện ra, nàng không còn ngăn được đôi dòng lụy nhỏ xuống như mưa. Đoàn Dự lại nói: “Muội tử! Bọn chúng ta đông người, có đủ vật dụng. Muội đi cùng với bọn ta nhé!” Mộc Uyển Thanh vùng vằng nói: “Ai cần huynh chiếu cố? Không có huynh thì ta không sống được hay sao?” Đoàn Dự nói: “Tiểu huynh có nhiều chuyện muốn nói với muội. Muội có chịu đi theo ta không?” Mộc Uyển Thanh vẫn hằn học nói: “Huynh còn gì để nói với ta nữa? Chẳng qua lại là mấy câu nói nhăng nói cuội chứ gì?” Tuy nàng không ưng chịu, nhưng khóe miệng đã lộ nét cười. Đoàn Dự cả mừng nói: “Hảo muội tử! Tuy muội có gầy đi đôi chút, nhưng càng lớn lên lại càng xinh đẹp.”

Mộc Uyển Thanh sầm mặt nói: “Huynh là huynh trưởng của ta, từ nay không được nói như thế nữa!” Hiện giờ, lòng dạ Mộc Uyển Thanh rối bời. Nàng biết rõ Đoàn Dự là huynh trưởng cùng cha khác mẹ của mình, thế mà lòng yêu mến nhớ nhung chẳng những không phai nhạt, mà mỗi ngày lại mỗi tăng thêm.

Đoàn Dự cười nói: “Ta khen muội tử càng lớn lên càng xinh đẹp, thì có gì là sai đâu? Hảo muội tử! Muội cải dạng nam trang đến Linh Châu để thi tuyển làm phò mã ư? Muội trông rất giống một chàng thư sinh thiếu niên anh tuấn, công chúa nước Tây Hạ mà nhìn thấy thì phải điên đảo thần hồn.” Mộc Uyển Thanh hỏi: “Còn huynh đến Linh Châu làm chi?” Đoàn Dự đỏ mặt lên đáp: “Ta chỉ muốn đến xem cuộc náo nhiệt này, không có ý gì khác cả.” Mộc Uyển Thanh “hừ” một tiếng rồi nói: “Huynh đừng dối muội nữa. Gia gia bảo huynh đến ứng tuyển làm phò mã, lại sai hai gã Ba, Chu đưa huynh đi. Huynh tưởng muội không biết hay sao?”

Đoàn Dự ngạc nhiên hỏi: “Ô hay! Sao muội lại biết thế?” Mộc Uyển Thanh đáp: “Mẫu thân của muội vừa gặp gia gia. Muội cùng đi với mẫu thân, nên nghe nói thế.” Đoàn Dự nói: “Té ra là vậy! Muội biết ta đi Linh Châu nên cũng đi xem phải không?” Mộc Uyển Thanh đỏ mặt lên vì Đoàn Dự nói câu này rất đúng tâm sự nàng, nhưng chỉ bĩu môi đáp: “Muội đi xem ca ca làm chi? Muội chỉ muốn xem công chúa nước Tây Hạ đẹp đến cỡ nào mà làm náo loạn cả thiên hạ.” Đoàn Dự nghĩ thầm: “Công chúa Tây Hạ chỉ đẹp bằng nửa muội cũng là tốt lắm rồi.” Nhưng chàng nhận ra câu này nói với tình nhân thì được, nói với muội tử thì không nên, bèn không nói ra nữa. Mộc Uyển Thanh lại nói: “Tiểu muội cũng muốn đi xem Đoàn Vương tử nước Đại Lý cầu hôn có thành công hay chăng.” Đoàn Dự khẽ nói: “Ta không làm phò mã nước Tây Hạ đâu. Nhưng muội muội chớ nên tiết lộ với ai, nếu gia gia bức bách thì ta sẽ trốn biệt.”

Mộc Uyển Thanh hỏi: “Chẳng lẽ lệnh của gia gia mà huynh dám cãi ư?” Đoàn Dự nói: “Ta không cãi lệnh, mà chỉ bỏ trốn thôi.” Mộc Uyển Thanh cười nói: “Bỏ trốn với cãi lệnh thì khác gì nhau? Người ta là công chúa cành vàng lá ngọc, sao huynh lại không muốn lấy?” Từ lúc gặp nhau, bây giờ Mộc Uyển Thanh mới hé miệng cười. Đoàn Dự cả mừng nói: “Muội muội tưởng ta cũng giống gia gia, gặp người nào là yêu người nấy, rồi không dứt ra được hay sao?”

Mộc Uyển Thanh nói: “Hừ! Tiểu muội thấy huynh giống hệt gia gia, chẳng khác chút nào, đúng là cha nào con ấy. Có điều huynh không được tốt phúc bằng gia gia thôi. Rồi nàng thở dài nói tiếp: “Sau lưng thì má má tiểu muội trách móc gia gia đủ điều, mà hễ gặp mặt là tha thứ hết. Nhưng các cô nương trẻ tuổi bây giờ không được rộng lượng như má má tiểu muội đâu.”.

Ba Thiên Thạch cùng Chu Đan Thần cũng đã tới, gặp Mộc Uyển Thanh, bèn giới thiệu nàng với Tiêu Phong, Hư Trúc. Hai người Ba, Chu tuy đã biết nàng là con gái của Trấn Nam Vương, nhưng chưa tổ chức nghi lễ nhìn nhận chính thức, nên vẫn gọi nàng là Mộc cô nương.

Đoàn người đi được mấy dặm thì trời đã xế chiều, bỗng nghe phía bên trái có tiếng kêu gào rất lớn, chính là thanh âm Nam Hải Ngạc Thần. Dường như hắn đang gặp phải chuyện gì nguy hiểm. Đoàn Dự nói: “Là đồ đệ ta đó!” Chung Linh cũng la lên: “Chúng ta mau tới đó xem sao. Đồ đệ công tử rất tốt!” Hư Trúc cũng nói: “Phải đó! Mẫu thân đệ là Diệp Nhị Nương, tỉ muội với Nam Hải Ngạc Thần nên đệ không khỏi có chút tình hương hỏa.”

Mọi người giục ngựa lao về phía có tiếng hét, vòng vèo qua mấy góc núi thì đến một khu rừng rậm, bỗng thấy trên bờ vực thẳm một cảnh tượng kinh hồn động phách.

Bờ vực có một cây tùng đơn độc. Trên một cành cây mọc ngang ra, có người lấy gậy đâm vào rồi đứng lên đó. Người này mình mặc áo xanh chính là Đoàn Diên Khánh. Tay trái lão nắm gậy, tay mặt cũng cầm một cây gậy nữa, đầu cây gậy này có một người nắm lấy, chính là Nam Hải Ngạc Thần. Tay kia của Nam Hải Ngạc Thần lại túm lấy đầu tóc của Cùng Hung Cực Ác Vân Trung Hạc. Hai tay Vân Trung Hạc nắm giữ hai cổ tay một thiếu nữ. Cả bốn người nối thành một sợi đây dài lơ lửng trên không, ở vào tình trạng nguy hiểm vô cùng! Bất luận ai sểnh tay một chút là mấy người cùng rơi xuống vực thẳm. Dưới khe núi này đá tai mèo chi chít tựa cây rừng, nhiều mỏm đá nhọn hoắt như mũi dao chĩa thẳng lên, ai rớt xuống chắc chắn phải tan xác. Lúc ấy một cơn gió thổi qua, Nam Hải Ngạc Thần, Vân Trung Hạc và thiếu nữ lắc lư thành vòng cung. Thiếu nữ lúc trước xoay lưng về phía mọi người, bây giờ quay nghiêng mặt lại. Đoàn Dự vừa trông thấy đã la hoảng: “Trời ơi!” rồi suýt nữa chàng lọt từ trên lưng ngựa xuống.

Thiếu nữ này chẳng phải ai xa lạ, chính là Vương Ngữ Yên mà chàng ngày đêm thương nhớ. Đoàn Dự định thần lại, ngẩng đầu nhìn lên thì thấy sườn núi cực kỳ hiểm hóc, không có cách nào phi ngựa lên được. Chàng vội vàng xuống ngựa, chạy lại trước cây tùng thì thấy một người vừa lùn vừa béo mập đang cầm búa lớn chặt gốc cây tùng này. Đoàn Dự kinh hãi quá, la lên: “Ôi chao! Ngươi làm gì vậy?” Người béo lùn lờ đi như không nghe thấy, giơ búa tiếp tục chặt cây. Đoàn Dự trỏ ngón tay ra vận chân khí, muốn phát Lục Mạch Thần Kiếm tấn công hắn. Nhưng chàng sử Lục Mạch Thần Kiếm chưa được linh hoạt, không phải lúc nào muốn phát huy cũng được ngay, chỉ trỏ luôn mấy cái mà vẫn chẳng thấy kiếm khí vọt ra. Đoàn Dự lại càng sợ hãi đến cuống cuồng, lớn tiếng hô hoán: “Đại ca! Nhị ca! Hai vị hảo muội tử! Bốn vị hảo cô nương! Lại đây! Mau lại đây cứu người!”

Tiêu Phong, Hư Trúc vội chạy lại. Người lùn kia vốn khuất sau một tảng đá lớn nên ở dưới nhìn lên không thấy, gió núi lại thổi mạnh, tiếng chặt cây cũng không nghe rõ, nên không ai phát giác từ xa. May mà cây tùng này rất lớn, hắn không chặt đứt ngay được.

Bọn Tiêu Phong thấy tình trạng này đều vô cùng kinh hãi, không biết tại sao cơ sự lại như thế. Hư Trúc kêu lên: “Lão huynh mập kia, đừng chặt cây nữa!” Lão lùn mập nói: “Cây này do ta trồng, bây giờ ta muốn chặt về làm quan tài, ngươi cấm được ta ư?” Hắn vừa nói, vừa tiếp tục chặt cây. Nam Hải Ngạc Thần vẫn lớn tiếng la hoảng không ngớt. Đoàn Dự nói: “Nhị ca! Không thể nói chuyện phải trái với y được. Nhị ca hãy kiềm chế y trước rồi sẽ nói sau!” Hư Trúc đáp: “Đúng thế!”

Hư Trúc toan chạy tới thì bỗng thấy một người chống gậy lướt qua mặt mọi người mau lẹ phi thường, chỉ nhô lên hụp xuống mấy cái đã đến trước mặt gã béo lùn. Người này lướt đi mau quá nhìn không rõ, lúc hắn dừng lại mới biết là Du Thản Chi. Không biết gã đã chui từ trong xe lừa ra lúc nào.

Du Thản Chi chống một gậy xuống đất, một gậy giơ lên, lạnh lùng nói: “Không ai được lại đây!” Mộc Uyển Thanh chưa biết mặt gã, đột nhiên thấy dung mạo hắn xấu xí khủng khiếp, nàng cả kinh thất sắc, khẽ la lên một tiếng: “Úi chao!”

Đoàn Dự vội nói: “Trang Bang chủ! Bang chủ mau ngăn trở vị nhân huynh béo mập kia, đừng để y chặt đứt cây tùng.” Du Thản Chi lạnh lùng hỏi lại: “Ta ngăn trở y để làm chi, được ích lợi gì?” Đoàn Dự đáp: “Cây tùng mà đổ xuống thì mấy người kia đều chết hết.”

Hư Trúc thấy tình thế cực kỳ nguy hiểm liền tung mình nhảy vọt ra để ngăn trở không cho gã béo mập chặt cây, đồng thời cứu bọn Đoàn Diên Khánh, Nam Hải Ngạc Thần xuống. Ngày trước Hư Trúc giải được thế cờ Trân Lung bí hiểm, cũng đã nhờ Đoàn Diên Khánh chỉ điểm cho. Sau này y học được bản lĩnh đầy mình, cũng chính mở đầu từ ngày đó. Tuy những sự việc này là phúc hay là họa của y thì cũng khó nói, nhưng Đoàn Diên Khánh đối với y thì dĩ nhiên chỉ có hảo ý mà thôi.

Tay phải Du Thản Chi cắm cây trượng gỗ xuống đất, tay trái phóng ra một chưởng. Một luồng khí âm hàn theo chưởng phong xô ra. Hư Trúc không sợ âm hàn độc chưởng, nhưng biết rằng chưởng lực đối phương thâm hậu, không dám coi thường, phải định thần phóng chưởng chống lại. Du Thản Chi lại phóng phát chưởng thứ hai đánh vào cây tùng. Một cành cây rơi xuống, những cành khác lung lay không ngớt, bốn người đang treo lơ lửng cũng lắc lư theo.

Đoàn Dự vội la lên: “Nhị ca! Đừng tới gần nữa. Chúng ta nói chuyện tử tế hay hơn, hà tất phải động thủ? Trang Bang chủ! Ngươi có thù với ai? Sao lại hại người như thế?” Du Thản Chi hỏi: “Đoàn công tử! Ngươi muốn ta ngăn trở lão béo này thì chẳng có chi là khó. Nhưng ngươi có làm chuyện gì tốt cho ta không?” Đoàn Dự nói: “Bang chủ… muốn gì… ta cũng đồng ý. Ngươi muốn sao thì cứ nói ra, lẹ lên, lẹ lên! Đừng chần chừ nữa!” Du Thản Chi đáp: “Ta ngăn trở gã mập này xong, muốn cùng A Tử cô nương lập tức rời khỏi nơi đây. Ngươi cùng bọn Tiêu Phong, Hư Trúc không ai được ngăn trở. Các vị có ưng thuận như vậy không?”

Đoàn Dự vội đáp: “A Tử đang muốn nhị ca của ta chữa mắt cho sáng lại. Nếu A Tử đi theo ngươi thì làm sao chữa mắt?” Du Thản Chi đáp: “Hư Trúc tiên sinh đã có thể chữa mắt cho nàng, thì ta cũng có thể tìm cách chữa trị.” Đoàn Dự ngập ngừng nói: “Cái đó… cái đó…” Chàng thấy gã béo lùn vẫn đang tiếp tục chặt cây, nghĩ rằng cứu người là gấp, liền đáp: “Ta ưng thuận lời ngươi. Ngươi… ngươi… nhanh…”

Du Thản Chi vung chưởng đánh vào gã lùn mập. Gã này cười khì khì, quẳng búa xuống, đứng thủ thế, quát lên một tiếng rồi vung song chưởng lên chống đỡ phát chưởng của Du Thản Chi. Chưởng phong của gã rít lên veo véo, thanh thế cực kỳ mãnh liệt, còn phát chưởng của Du Thản Chi lại không một tiếng động.

Đột nhiên sắc mặt gã béo lùn biến đổi. Gã đang tỏ vẻ kiêu ngạo khinh người, bỗng ra chiều kinh hãi, dường như thấy một quái sự không ngờ nổi. Rồi khóe miệng gã ứa máu tươi, thân thể co rúm lại như một quả bóng, từ trên sườn núi lăn xuống vực thẳm. Một lát sau nghe “ầm” một tiếng, người gã đã đập vào những tảng đá lởm chởm dưới đáy hang. Mọi người nghe tiếng động, tưởng tượng ra thảm trạng gã béo lùn bị vỡ tan đầu óc, thân thể nát nhừ, đều không khỏi rùng mình.

Hư Trúc tung người nhảy vọt lên cành tùng, thấy cây cương trượng của Đoàn Diên Khánh cắm sâu vào cành cây. Nội lực lão cực kỳ ghê gớm, mới có thể đeo được cả bốn người nặng như thế lơ lửng mà không tuột trượng ra. Hư Trúc cực kỳ khâm phục, đưa tay ra nắm lấy cầy cương trượng kéo lên.

Nam Hải Ngạc Thần oang oang khen ngợi: “Tiểu hòa thượng! Ta đã sớm biết ngươi là người tốt! Ngươi là con của nhị tỉ ta, dĩ nhiên là tiểu điệt của Nhạc lão nhị. Ngươi đã là tiểu điệt, dĩ nhiên thấy Nhạc lão nhị bị nguy hiểm thì phải ra tay giúp đỡ. Hôm nay, nếu không được ngươi đến cứu mạng thì thật là nguy quá. Chúng ta bị treo ở đây đã ba ngày ba đêm rồi, không muốn nếm mùi cay đắng này nữa.” Vân Trung Hạc nói: “Thôi thôi! Đừng nói khoác nữa! Làm gì mà bị treo những ba ngày ba đêm.” Nam Hải Ngạc Thần tức giận nói: “Lúc nãy ta mà không gượng nổi, thả đầu tóc ngươi ra thì còn chi là mạng? Bây giờ ngươi có muốn ta thử buông tay không?” Hai người này tuy gặp lúc nguy hiểm mà vẫn gây gổ nhau.

Chỉ trong nháy mắt, Hư Trúc đã kéo được Đoàn Diên Khánh lên, rồi tiếp tục kéo đến Nam Hải Ngạc Thần cùng Vân Trung Hạc, sau cùng là Vương Ngữ Yên. Hai mắt nàng nhắm nghiền, hơi thở yếu ớt, dường như ngất đi đã lâu.

Đoàn Dự thấy cứu được nàng thì hết sức hoan hỉ, sau đó lại nổi lòng thương xót. Hai cổ tay nàng đều có quầng đen vì bị ngón tay Vân Trung Hạc nắm chặt. Chàng nghĩ tới Vân Trung Hạc là con người hung tàn hiếu sắc, đã mấy lần toan xúc phạm đến Mộc Uyển Thanh và Chung Linh, mà lần nào cũng nhờ Nam Hải Ngạc Thần cứu gỡ. Hôm nay lại diễn ra tấn kịch này, chàng tức giận đến cực điểm, liền nói: “Đại ca! Nhị ca! Gã Vân Trung Hạc này thật là khả ố! Chúng ta giết quách gã đi thôi!”

Nam Hải Ngạc Thần vội la lên: “Không nên! Không nên! Đoàn… sư phụ! Hôm nay hoàn toàn nhờ ở lão tứ mới cứu được… sư nương… Nếu không có y thì tính mạng sư nương đã… ô hô ai tai rồi.”

Lão nói mấy câu này ngắc ngứ tới ba bốn chỗ, mọi người nghe không rõ. Mộc Uyển Thanh thấy Đoàn Dự vì Vương Ngữ Yên mà nóng nảy hoảng hốt, đã rầu rầu nét mặt tự thương thân mình. Bây giờ nàng thấy dung mạo Vương Ngữ Yên tuyệt thế vô song thì trong lòng có một cảm giác kỳ dị khó mà tả được. Vương Ngữ Yên từ từ mở mắt ra, la lên một tiếng rồi hỏi: “Đây có phải là âm phủ không? Ta… chết rồi ư?”

Nam Hải Ngạc Thần nói: “Cô này ăn nói thật là hồ đồ! Nếu đây là âm phủ thì chẳng lẽ mọi người chúng ta đều chết cả rồi ư? Bây giờ cô chưa là vợ sư phụ ta, ta nói mấy câu vô lễ, cô đừng cho là phạm thượng. Theo chỗ ta biết thì sớm muộn gì cô cũng là sư nương ta. Ngày giờ thấm thoát qua nhanh lắm, may còn cơ hội này, ta gọi cô mấy tiếng cô nương tưởng cũng chẳng có chi quá đáng! Ta xin hỏi: Cô nương đang bình yên, sao lại đi tìm cái chết? Cô chết thì thỏa nguyện vọng của cô cũng đành, nhưng suýt nữa chết lây cả đến tứ đệ Vân Trung Hạc. Vân lão tứ có chết cũng không sao, nhưng còn liên can đến đại ca Đoàn Diên Khánh. Đoàn lão đại mà chết thì thật là đáng tiếc, nhưng hãy còn là việc nhỏ. Nhạc lão nhị bị liên can chết theo mới là việc nguy hiểm hơn hết.”

Đoàn Dự nói: “Vương cô nương! Vụ này là thế nào? Cô nương một phen kinh hãi, khiến tại hạ áy náy vô cùng! Thôi, cô nương hãy ngồi tựa vào gốc cây mà nghỉ một lúc.” Chàng dịu dàng an ủi, nhưng Vương Ngữ Yên lại rú lên một tiếng rồi khóc ròng, hai tay ôm đầu khẽ nói: “Các vị đừng nghĩ đến ta nữa! Ta không thể sống nữa đâu!” Đoàn Dự giật mình kinh hãi nghĩ thầm: “Té ra nàng muốn tự tử thật! Nhưng không hiểu tại sao? Chẳng lẽ…” Chàng liếc mắt nhìn Vân Trung Hạc thấy vẻ mặt gã rất đỗi hung tàn bạo ngược, thì la thầm: “Trời ơi! Phải chăng Vương cô nương đã bị gã này làm ô nhục nên định tự tử?”

Chung Linh tiến lên một bước, cất tiếng chào hỏi: “Nhạc lão tam! Mạnh khỏe chứ?” Nam Hải Ngạc Thần nhìn thấy Chung Linh, cả mừng đáp: “Tiểu sư nương! Sư nương vẫn mạnh giỏi chứ? Bây giờ ta là Nhạc lão nhị chứ không phải Nhạc lão tam nữa.” Chung Linh cũng nói: “Lão nhị cũng đừng kêu ta bằng tiểu nọ, tiểu kia nữa, khó nghe lắm! Nhạc lão nhị, ta hỏi ngươi: Vị cô nương kia tại sao lại toan tự tử? Phải chăng thằng cha giống như cây tre kia đã gây ra tai vạ? Ta phải giáo huấn hắn một phen.” Nàng úp hai tay lên miệng, phà hơi cho nóng. Vân Trung Hạc biến sắc mặt, lùi lại hai bước.

Nam Hải Ngạc Thần vội xua tay đáp: “Không phải! Không phải! Lần này không hiểu tại sao hắn đột nhiên biến tính trở thành người tốt. Bọn ta còn ba người, thiếu mất Diệp Nhị Nương, ai nấy đều đau buồn mới đi tản bộ lên đây. Bỗng nhiên thấy cô nương này đâm đầu nhảy xuống vực thẳm, Vân lão tứ đại phát từ tâm, nhảy xuống nắm theo được tay cô. Nhưng cô bé kia nhảy mạnh quá, lại kéo theo Vân lão tứ rớt xuống! Trời đất ơi! Hắn là một tên Cùng Hung Cực Ác, đột nhiên biến đổi tính nết làm việc thiện, mà lại không biết tự lượng sức mình.”

Vân Trung Hạc tức mình nói: “Con mẹ nó! Khi nào Vân mỗ lại đại phát từ tâm làm việc thiện? Vân mỗ thấy cô nương đây chim sa cá lặn mà lại đâm đầu xuống vực thẳm để tự tử, nên tiếc không muốn bỏ qua, mới nhảy theo để bắt nàng về làm phu nhân.”

Nam Hải Ngạc Thần tức giận quát lên như sấm, trỏ tay vào mặt Vân Trung Hạc mắng: “Quân khốn kiếp! Nhạc lão nhị tưởng mi đổi tính thành người tốt, ra tay cứu người, mới nghĩ tình huynh đệ mà nhảy theo nắm lấy tóc mi định lôi lên. Nếu Nhạc lão nhị sớm biết mi lòng lang dạ thú, thì đã để mi chết quách cho xong.”

Chung Linh cười nói: “Nhạc lão nhị! Lão có ngoại hiệu là Hung Thần Ác Sát, chuyên làm việc hung ác, không làm việc tốt. Lão biến đổi tính nết tự bao giờ, có phải là được sư phụ dạy dỗ không?” Nam Hải Ngạc Thần vò đầu bứt tai đáp: “Không đổi tính! Lão nhị không đổi tính, nhưng Tứ Đại Ác Nhân thiếu đi một người thì sức mạnh lại bớt đi một phần, nên ta mới nắm đầu lão tứ định lôi lên. Không ngờ chẳng lôi được hắn mà chính mình cũng bị té nhào. May nhờ Đoàn lão đại bản lĩnh phi thường, phóng đầu gậy xuống cho ta nắm lấy. Nhưng ba người nặng tới trên dưới bốn trăm cân, kéo cả Đoàn lão đại xuống theo. Lão đại liền phóng một cây trượng lên đâm lấy cành tùng, đang tìm cách trèo lên. Không ngờ lại có thằng cha lùn mập người nước Thổ Phồn xách búa đến chặt cây.”

Chung Linh hỏi: “Gã lùn mập đó là người nước Thổ Phồn ư? Sao gã lại toan ám hại các vị?” Nam Hải Ngạc Thần phun một bãi nước bọt rồi đáp: ” Mọi việc đều do lão tứ chẳng ra gì. Hắn lẻn vào hoàng cung nước Tây Hạ để nhìn trộm công chúa, không ngờ sau đó lại khua chiêng đánh trống, lớn tiếng huyên thuyên với mọi người, nào khen công chúa đẹp tựa thiên tiên, nào ca ngợi dáng điệu nàng như chim sa cá lặn. Vụ này đến tai Vương tử nước Thổ Phồn, bọn ta lại phải một phen chiến đấu, đánh chết mười mấy tên võ sĩ Thổ Phồn. Vì thế mà bọn đại ác chúng ta thành ra cừu địch với bọn Thổ Phồn.”

Mọi người nghe lão nói vậy thì đã hơi hiểu manh mối, nhưng vẫn chưa hiểu tại sao tại sao Vương Ngữ Yên định tự tử.

Nam Hải Ngạc Thần lại nói: “Vương cô nương! Sư phụ ta đã đến đây. Hai người biết nhau từ lâu rồi, kết nghĩa phu thê quách đi, đừng tự tử làm chi cho uổng!” Vương Ngữ Yên ngẩng đầu lên nghẹn ngào nói: “Ngươi còn nói nhăng nói càn khinh mạn, ta… ta sẽ đập đầu vào đây mà chết đi cho xong.” Đoàn Dự vội nói: “Không được! Cô hương không được làm thế!” Rồi chàng quay lại bảo Nam Hải Ngạc Thần: “Nhạc lão tam! Ngươi không được…” Nam Hải Ngạc Thần vội ngắt lời: “Nhạc lão nhị chứ!” Đoàn Dự nói: “Ừ, thì Nhạc lão nhị! Ngươi không được nói nhăng nữa. Nhưng ngươi đã có công cứu người, ta cảm kích vô cùng.”

Nam Hải Ngạc Thần giương cặp mắt ti hí lên nhìn Vương Ngữ Yên nói: “Cô không chịu làm sư nương ta, thì cũng chẳng thiếu gì người muốn làm. Vị này là đại sư nương, vị kia là tiểu sư nương, ta cứ kêu bằng sư nương hết.” Lão vừa nói vừa trỏ Mộc Uyển Thanh, rồi lại trỏ sang Chung Linh.

Mộc Uyển Thanh đỏ mặt lên, bĩu môi nói: “Hừ! Lão này say rượu nói càn!” Từ lúc mọi người chú ý nhìn Hư Trúc cứu người, bây giờ mới nhìn lại, phát giác Du Thản Chi cùng A Tử đã đi đâu mất rồi. Đoàn Đự hỏi Tiêu Phong: “Đại ca! Họ đi cả rồi ư?”

Tiêu Phong đáp: “Họ đi cả rồi. Tam đệ đã nhận lời gã, nên ta không ngăn trở nữa.” Chàng nói vậy mà trong lòng không khỏi bâng khuâng, không hiểu A Tử theo Du Thản Chi rồi về sau số phận nàng sẽ ra sao.

Nam Hải Ngạc Thần bỗng la lên: “Lão đại! Lão tứ! Chúng ta về thôi chứ?” Lão thấy Đoàn Diên Khánh cùng Vân Trung Hạc nhằm hướng Linh Châu trở gót, liền quay lại nói với Đoàn Dự: “Nhạc lão nhị cũng đi thôi!” Lão vừa nói vừa xoay mình lẹ bước đi theo bọn Đoàn Diên Khánh.

Chung Linh nói: “Vương cô nương! Chúng ta ngồi xe cùng đi.” Rồi nàng đỡ Vương Ngữ Yên lên ngồi vào chỗ A Tử trên cỗ xe lừa. Đoàn người lại nhằm đường Linh Châu thẳng tiến. Vào lúc xế chiều, mọi người đến nội thành Linh Châu.

***

Thời bấy giờ, thế lực nước Tây Hạ đang cường thịnh, có tới hai mươi hai châu. Khu vực nam sông Hoàng Hà có Linh Châu, Hồng Châu, Ngân Châu, Hạ Châu. Khu Hà Tây có Hưng Châu, Lương Châu, Cam Châu, Túc Châu nay là Cam Túc Ninh Hạ, Tuy Viễn. Vùng đất này có lợi thế ở nguồn nước sông Hoàng Hà nên lương thực rất dồi dào. Người ta thường nói “Hoàng Hà trăm thứ hại, chỉ có một thứ lợi”, thế mà Tây Hạ chiếm trọn vùng đất quanh con sông này. Tây Hạ binh cường mã tráng, có tới năm mươi vạn giáp binh, quân sĩ vừa kiêu dũng vừa thiện chiến. Tống sử chép rằng: “Người Tây Hạ dùng binh phần nhiều đứng ở núi hoang, đặt quân mai phục để bao vây địch, dùng thiết kỵ làm tiền quân xung phong. Đội thiết kỵ này cưỡi ngựa và mặc hai lần áo giáp, đao thương đâm không thủng, ngựa lại dùng xích sắt kết chặt vào nhau nên dù chết cũng không ngã xuống. Lúc giao tranh, đội thiết kỵ xông lên đột phá trước, khi trận địch rối loạn rồi đại quân mới tiến lên, quân bộ xen giữa kỵ binh mà tấn công. Quốc vương nước Tây Hạ vốn là người rợ Hồ ở họ Thát Bạt, đến đời Đường Thái Tông mới được ban cho họ Lý. Người Tây Hạ đánh nhau khắp bốn phương, vì vậy mà biên giới nước này biến đổi hoài, kinh đô cũng tùy lúc mà dời đi. Linh Châu tuy là kinh thành nước Tây Hạ nhưng so với các đô thị lớn ở Trung Nguyên thì còn kém xa lắm.”

Tối hôm ấy bọn Tiêu Phong không sao tìm được quán trọ. Linh Châu vốn đã chẳng phồn hoa đô hội gì, lại đã gần đến Trung Thu, hảo hán bốn phương tới đây không biết bao nhiêu mà kể, những khách sạn lớn đều chật ních những người. Bọn Tiêu Phong đành ra khỏi thành, tìm mãi mới được một tòa miếu cũ làm chỗ nghỉ đêm. Nam nhân tụ tập ở gian phía đông, còn nữ nhân ngủ ở phòng phía tây.

Từ lúc Đoàn Dự gặp Vương Ngữ Yên, trong lòng chàng vừa hoan hỉ lại vừa lo âu, đêm ấy chàng trằn trọc không sao ngủ được. Chàng tự hỏi: “Tại sao Vương cô nương lại toan tự tử? Ta phải tìm cách khuyên giải nàng mới được. Nhưng ta không biết nguyên nhân thì làm sao mà khụyên giải?”

Lúc đó, trăng đang lấp ló bên song cửa sổ, phủ xuống mặt đất một vùng ánh sáng trong trẻo. Đoàn Dự không sao ngủ được, rón rén đứng dậy ra sân. Chàng thấy bên góc tường có hai cây ngô đồng, mảnh trăng khuyết từ từ ló lên khỏi ngọn cây. Tiết đại thử vừa qua, đêm ở vùng Cam Lương này đã lạnh. Đoàn Dự quanh quẩn dưới gốc cây ngô đồng một lúc, thấy vết thương trước ngực ngâm ngẩm đau, thì biết rằng ban ngày đi nhiều quá làm động đến vết thương. Bất giác chàng lại tự hỏi: “Tại sao Vương cô nương lại muốn tự tử? Chuyện này thật khó mà hiểu được.”

Chàng thơ thẩn bước ra cửa miếu, dưới ánh trăng, xa xa bên bờ hồ bỗng thấy bóng người thấp thoáng. Dường như đó là một nữ lang áo trắng, mà bộ dạng lại hao hao giống Vương Ngữ Yên. Đoàn Dự kinh hãi la thầm: “Nguy rồi… Chắc nàng lại đi tự tử…” Chàng liền thi triển Lăng Ba Vi Bộ lướt đi rất nhanh mà không một tiếng động, chẳng khác mỹ nhân đạp trên mặt sóng, chỉ chớp mắt, chàng đã đến sau lưng nữ lang áo trắng. Nước hồ trong suốt như gương, phản chiếu dung mạo nữ lang, quả nhiên chính là Vương Ngữ Yên.

Đoàn Dự rụt rè chưa dám tiến lại. Chàng nghĩ thầm: “Khi ở núi Thiếu Thất, nàng đã căm hận ta, lần này gặp lại thì nàng vẫn chưa lộ vẻ gì, nhưng chắc hẳn chưa nguôi giận. Nàng tự tử, biết đâu chẳng vì giận ta mà ra? Than ôi! Đoàn Dự ơi là Đoàn Dự, ngươi đã mạo phạm giai nhân để nàng buồn thảm mà toan tự tử! Dù người có chết trăm lần cũng không đủ chuộc tội.” Chàng nấp vào sau một gốc cây lớn, tự than tự oán, càng nghĩ càng thấy tội mình thâm trọng.

Bỗng thấy mặt hồ trong như ngọc biếc, tự nhiên lăn tăn sóng gợn. Mấy vòng tròn trước còn nhỏ, sau lan rộng ra trên mặt nước. Đoàn Dự chú ý nhìn kỹ, thấy mấy giọt như hạt châu rớt xuống mặt hồ, thì ra là nước mắt Vương Ngữ Yên. Đoàn Dự càng nghĩ càng xót thương cho người ngọc. Chàng lắng tai, nghe nàng thở dài mấy tiếng rồi nghẹn ngào lẩm bẩm: “Ta chết cho xong, để khỏi phải chịu đau khổ hành hạ giày vò.”

Đoàn Dự không nhịn được nữa, ở sau gốc cây chạy ra nói: “Vương cô nương! Ngàn điều lỗi, vạn điều lỗi, cũng chỉ là tại hạ lỗi lầm, xin cô nương để tại hạ gánh chịu hết. Nếu có nương… mà nổi giận thì tại hạ xin quỳ xuống đây!” Chàng nói xong, quả nhiên quỳ xuống thật.

Vương Ngữ Yên giật mình kinh hãi hỏi: “Công tử! Công tử làm gì vậy? Công tử đứng lên đi. Nếu để người ngoài trông thấy thì còn ra thể thống gì?” Đoàn Dự nói: “Cô nương có tha thứ thì tại hạ mới dám đứng dậy.” Vương Ngữ Yên gắt lên: “Ta tha thứ công tử cái gì? Việc của ta có can dự gì đến công tử?” Đoàn Dự đáp: “Tại hạ thấy cô nương thương tâm, thì chắc rằng đang lúc cô nương yên vui thì tại hạ đắc tội với Mộ Dung công tử, để y buồn bực rồi gây phiền não cho cô nương. Lần sau gặp y, dù có bị y đánh giết, tại hạ nhất định chạy trốn, quyết không trả đòn.” Vương Ngữ Yên giậm chân nói: “Trời ơi! Chuyện đau lòng của ta không liên can gì đến công tử.” Đoàn Dự nói: “Thế cô nương không trách tại hạ ư?” Vương Ngữ Yên nói: “Dĩ nhiên là không!” Đoàn Dự nói: “Có thế tại hạ mới yên tâm.” Chàng đứng lên mà trong dạ ngậm ngùi. Giả tỉ Vương Ngữ Yên vì chàng mà thương tâm đến muốn tự tận, thì dù nàng có đánh mắng hay đâm chém, chàng còn thấy dễ chịu hơn. Nhưng nàng chỉ nói vẻn vẹn một câu: “Chuyện đau lòng của ta không liên can gì đến công tử”, khiến chàng chán ngán vô cùng.

Bỗng Vương Ngữ Yên lại cúi đầu xuống, dòng châu nhỏ giọt. Tay áo của nàng không thấm nước, những giọt lệ rớt vào lại lăn xuống mặt hồ. Đoàn Dự ruột nóng như lửa đốt, vội nói: ” Cô nương! Cô nương có điều gì khó giải quyết thì xin cứ nói ra. Tại hạ nhất định sẽ tận tâm tận lực, làm cho cô nương đổi giận thành vui.”

Vương Ngữ Yên từ từ ngẩng đầu lên. Dưới ánh trăng tỏ, đôi mắt nàng lóng lánh như ngọc, vẻ mặt buồn rười rượi, cất tiếng nói: “Đoàn công tử! Công tử thật đã hết lòng hết dạ với ta, lòng ta xiết bao cảm kích! Nhưng việc này công tử muốn giúp ta cũng không được đâu.”

Đoàn Dự đáp: “Thật ra tại hạ chẳng có bản lĩnh gì, nhưng Tiêu đại ca và Hư Trúc nhị ca của tại hạ đều là những cao thủ vào bậc nhất võ lâm. Hiện giờ, hai người cũng ở đây, đối với tại hạ như tình cốt nhục. Tại hạ nhờ đến việc gì thì hai vị đó nhất định không từ chối. Cô nương có điều chi phiền muộn cứ nói cho tại hạ nghe. Dù cho địch thủ ghê gớm quá không làm gì được, nhưng cô nương đã nói ra thì u uất trong lòng cũng nhẹ đi được vài phần.”

Sắc mặt Vương Ngữ Yên đang nhợt nhạt bỗng nhiên ửng hồng. Nàng quay đi phía khác, không dám nhìn thẳng Đoàn Dự, nói lí nhí trong cổ họng: “Y… muốn đi làm phò mã nước Tây Hạ. Công Dã nhị ca đến khuyên giải ta, nói là vì… vì việc… phục hưng nước Đại Yên gì gì đó, nên y không thể nghĩ đến chuyện nhi nữ tư tình được.” Nàng nói dứt lời, bất giác gục mặt vào vai Đoàn Dự khóc thút thít.

Đoàn Dự cảm thấy như được ban một ân huệ vô cùng vinh dự, người chàng không nhúc nhích. Nhưng chàng hiểu được tâm sự vương Ngữ Yên thì không khỏi thẫn thờ, chẳng hiểu mình nên vui mừng hay nên đau khổ. Mối thương tâm của Vương Ngữ Yên là vì Mộ Dung Phục. Y muốn sang cưới công chúa Tây Hạ để làm phò mã, tất nhiên sẽ không ngó ngàng gì đến nàng nữa. Đoàn Dự nghĩ thầm: “Khi nàng không thỏa nguyện với biểu huynh, biết đâu lại chẳng đoái hoài đến mình đôi chút. Mình chẳng dám nghĩ tới chuyện nàng hạ cố thành thân, mà chỉ cầu được nàng thỉnh thoảng vui vẻ nhìn mình cũng là thỏa mãn lắm rồi. Nếu nàng ưa thanh tịnh, mình sẽ theo hầu nàng ở nơi rừng sâu núi thẳm, hoặc ngoài hoang đảo xa khơi không vết chân người, sớm tối có nhau. Được thế thì quả không uổng một đời.” Nghĩ tới đây, chàng mừng quá bất giác khoa chân múa tay.

Vương Ngữ Yên run lên, lui lại một bước. Nàng thấy Đoàn Dự hớn hở tươi cười thì buồn bã nói: “Ta tưởng công tử là người tốt nên mới nói ra, té ra công tử thấy ta gặp tai họa lại lấy làm vui sướng.” Đoàn Dự hốt hoảng nói: “Không! Không! Cô nương! Trên có hoàng thiên, dưới có hậu thổ, chứng minh cho tấm lòng Đoàn Dự này. Nếu tại hạ thấy Vương cô nương gặp tai họa mà lại lấy làm vui sướng, thì xin sét đánh xuống đỉnh đầu, vạn mũi tên bắn vào thân thể.”

Vương Ngữ Yên vội nói: “Công tử đã không phải là người ác tâm thì thôi, phát thệ làm gì? Nhưng tại sao công tử lại vui sướng?” Nàng vừa hỏi xong, trong lòng cũng đã tự đáp được rồi, dĩ nhiên Đoàn Dự vui sướng là vì Mộ Dung Phục đi lấy công chúa Tây Hạ, chàng sẽ loại bỏ được một tình địch ghê gớm. Kể ra thì Đoàn Dự yêu thương Vương Ngữ Yên hết lòng hết dạ, có lý nào nàng lại không hay biết? Nhưng từ nhỏ nàng đã dành hết tình cảm cho biểu huynh, còn mối si tình của Đoàn Dự cũng thỉnh thoảng có lúc nàng nghĩ tới, nhưng không tài nào lay chuyển được mối tình đầu. Vương Ngữ Yên vừa hiểu vì sao Đoàn Dự vui mừng, nàng lập tức vừa tức giận vừa hổ thẹn, mặt đỏ bừng lên nói: “Tuy công tử không cười ta, nhưng cũng có tâm địa không tốt… Ta… ta…”

Đoàn Dự trong lòng kinh hãi, lẩm bẩm: “Đoàn Dự ơi là Đoàn Dự! Sao ngươi lại nảy ra ý nghĩ đê hèn, muốn thừa cơ cháy nhà để cướp của? Ngươi thật là một kẻ tiểu nhân vô sỉ!” Chàng thấy Vương Ngữ Yên mặt buồn rười rượi thì vô cùng đau xót, lòng hào hiệp lại nổi lên, nghĩ thầm: “Vừa rồi mình ước mơ được sớm tối ở cùng nàng tại hoang sơn dã đảo cho vui thú một đời, nhưng cái vui của Đoàn Dự lại không phải là cái vui của Vương Ngữ Yên, mà lại là nỗi đau lòng của nàng. Cái vui chân chính của ta là phải làm thế nào cho nàng được vui lòng, có thế mới là yêu thương nàng một cách chân thành.”

Vương Ngữ Yên nhìn xuống, khẽ hỏi: “Hay là ta nói sai? Công tử giận ta phải không?” Đoàn Dự đáp: “Không, không! Tại hạ có giận cô nương gì đâu?” Vương Ngữ Yên lại hỏi: “Thế sao công tử không nói gì?” Đoàn Dự đáp: “Tại hạ đang suy nghĩ một điều.”

Trong lòng chàng đang suy tính: “So với Mộ Dung Phục thì văn tài võ nghệ mình đều kém y, nhân phẩm phong độ cũng không bằng, thanh danh oai vọng lại càng không thể so sánh được. Mình đã thua kém cả mọi mặt, huống chi hai người còn thân cận từ thuở nhỏ, thâm tình ràng buộc đã lâu. Mình chỉ có một điều hơn Mộ Dung Phục xa, đó là tấm lòng chân thật của mình đối với nàng, cần phải cho nàng biết. Giả tỉ mấy chục năm sau, Vương cô nương ăn ở với Mộ Dung công tử có con có cháu rồi, mà trong lòng nàng thỉnh thoảng vẫn còn nhớ tới Đoàn mỗ là người hết lòng với nàng nhất trên đời, thế là ta thỏa nguyện.”

Đoàn Dự quyết định chủ ý xong, liền nói: “Vương cô nương! Cô nương bất tất phải phiền lòng. Tại hạ sẽ tìm cách khuyến cáo Mộ Dung công tử đừng đi làm phò mã nước Tây Hạ, phải hoàn thành hôn sự với cô nương!”

Vương Ngữ Yên giật mình, kinh hãi nói: “Không được! Biểu huynh ta căm hận công tử đến chết, nhất định y không nghe công tử khuyên can đâu.” Đoàn Dự nói: “Tại hạ sẽ lấy đại nghĩa mà nói. Trên thế gian này, mối tình phu phụ quan trọng nhất là phải tâm đầu ý hợp. Y chưa quen biết công chúa Tây Hạ, nàng xấu hay đẹp, tính thiện hay ác, y cũng chưa hiểu. Vừa nhìn thấy mặt đã nên đạo vợ chồng thì không thể nào thương yêu nhau được. Tại hạ lại nói cho y hiểu, Vương cô nương nhân phẩm khác thường trên đời có một, ôn nhu yểu điệu dưới thể không hai. Huống chi cô nương một lòng thiết tha với y, lẽ nào y lại là con người bạc bẽo để hảo hán thế gian thóa mạ, anh hùng thiên hạ chê cười?

Vương Ngữ Yên nghe Đoàn Dự nói một hồi, trong lòng cực kỳ xúc động, ngậm ngùi nói: “Đoàn công tử! Công tử nói như vậy là cố ý quá khen để ta được vui lòng.” Đoàn Dự vội nói: “Sai bét, sai bét!” Chàng vô tình bắt chước câu nói cửa miệng của Bao Bất Đồng, không nhịn được, bật cười nói tiếp: “Tại hạ một lòng thành thực, nói toàn lời gan ruột.” Vương Ngữ Yên cũng bị câu “Sai bét, sai bét” làm phải bật cười, rồi nói: “Công tử chẳng học cái gì hay tốt, lại đi học cái giọng lè nhè của Bao tam ca.”

Đoàn Dự thấy Vương Ngữ Yên bật cười thì trong lòng khoan khoái vô cùng. Chàng nói: “Tại hạ còn nhiều phương pháp để khuyên can, khiến cho Mộ Dung công tử chẳng những bỏ ý nghĩ sang Tây Hạ làm phò mã mà còn gấp rút thành hôn với cô nương!” Vương Ngữ Yên nói: “Công tử hành động như thế để làm chi? Có ích lợi gì cho công tử đâu?” Đoàn Dự đáp: “Chỉ cần được thấy cô nương nói cười vui vẻ, là tại hạ mãn nguyện lắm rồi.”

Vương Ngữ Yên bất giác rung động, câu nói của Đoàn Dự tuy hời hợt mà đã biểu lộ một mối chân tình khôn tả. Nhưng nàng không tài nào quên được Mộ Dung Phục, lại thở đài nói: “Công tử chưa hiểu tâm sự của biểu huynh ta. Y coi việc phục hưng nước Đại Yên là trọng đại nhất trong đời. Y từng nói: tấm thân nam tử phải lấy việc mở mang cơ nghiệp là lớn, chuyện nhi nữ thường tình là nhỏ, anh hùng khí đoản thì không phải anh hùng. Y còn bảo: công chúa Tây Hạ xấu xí như Chung Vô Diệm cũng được, có kiêu ngạo lăng loàn thì cũng chẳng sao. Y chỉ mong tìm được phương tiện để khôi phục lại nước Đại Yên là đủ.”

Đoàn Dự trầm ngâm rồi đáp: “Quả là như thế. Họ Mộ Dung vẫn chuyên tâm trí vào việc lên ngôi hoàng đế, nếu Tây Hạ khởi binh giúp y phục quốc thì… Việc này… Việc này thật khó mà ngăn cản được.” Chàng thấy Vương Ngữ Yên nước mắt chảy quanh, liền ưỡn ngực ra nói: “Cô nương cứ yên tâm. Để tại hạ sang tranh đoạt ngôi phò ma nước Tây Hạ, hất Mộ Dung công tử ra ngoài, nhất định y phải thành hôn với cô nương!”

Vương Ngữ Yên vừa kinh ngạc vừa hoan hỉ, vội hỏi lại: “Công tử nói gì?” Đoàn Dự đáp: ” Tại hạ nhất định sang tranh ngôi, phò mã nước Tây Hạ.” Khi ở núi Thiếu Thất, Vương Ngữ Yên đã chứng kiến Đoàn Dự thi triển Lục Mạch Thần Kiếm đả bại Mộ Dung Phục, biết rằng võ công chàng cao cường hơn biểu huynh mình, nếu chàng quyết tâm đi làm phò mã thì biểu huynh khó mà tranh giành được. Nàng nghĩ vậy, hạ thấp giọng xuống nói: “Đoàn công tử thật hết lòng vì ta, nhưng làm như thế thì biểu huynh ta phải căm hận công tử đến chết chưa thôi.” Đoàn Dự đáp: “Chuyện đó cũng chẳng quan hệ gì, vả lại đằng nào y cũng căm hận tại hạ rồi!” Vương Ngữ Yên lại nói: “Chính công tử vừa nói chưa hiểu công chúa đẹp hay xấu, thiện hay ác, thế mà lại đi thành thân cùng nàng, hóa ra… ta lạm dụng công tử nhiều quá ư?”

Đoàn Dự không ngần ngừ gì, đáp ngay: “Miễn sao được việc cho cô nương, còn đối với tại hạ thì khuất tất một chút phỏng có chi đáng kể.” Câu nói vừa ra khỏi miệng, chàng lại nghĩ: “Giả tỉ mình kể công với nàng thì đâu phải hành vi của người quân tử?” Nghĩ vậy, chàng liền nói tiếp: “Không phải tại hạ vì cô nương mà chịu khuất tất đâu. Gia gia đã ra lệnh cho tại hạ là phải cưới cho bằng được công chúa nước Tây Hạ. Đạo làm con phải tận hiếu với song thân, việc này không can dự gì đến cô nương.”

Vương Ngữ Yên là người thông tuệ phi thường, lẽ nào không hiểu mối thâm tình của Đoàn Dự? Nàng nghĩ tới chàng vì mình mà cam tâm đi lấy một cô gái chưa quen biết, cắn răng ép lòng mà ngoài miệng lại không chịu nhận, thật là người quân tử. Nàng cảm động vô cùng, đột nhiên đưa tay ra nắm lấy tay Đoàn Dự nói: “Đoàn công tử! Kiếp này… ta không thể báo đáp cho công tử được, xin hẹn kiếp sau.” Rồi nàng nghẹn ngào, không nói thêm được nữa.

Hai người đã mấy phen qua cơn hoạn nạn, khi ôm cõng, khi nâng đỡ, đụng chạm nhau không phải một lần. Nhưng trước kia đều là những trường hợp bất đắc dĩ, chỉ có lần này mới là cố ý, Vương Ngữ Yên vì cảm động mà tự nắm lấy tay chàng. Đoàn Dự cảm thấy bàn tay mềm mại nắm lấy tay mình mà tưởng như trời sắp sập, sung sướng quá, miệng lẩm bẩm: “Nàng đối đãi với mình thế này thì đừng nói phải lấy một công chúa Tây Hạ, dù có phải lấy công chúa Đại Tống, công chúa Đại Liêu, công chúa Thổ Phồn hay công chúa Cao Ly gì gì nữa, mình cũng nhất định lấy hết.” Chàng bị trọng thương chưa khỏi, vì vui mừng quá độ mà nhiệt huyết bốc lên không chống nổi, đột nhiên tưởng chừng như trời đất quay cuồng, đầu nhức mắt hoa. Người chàng lảo đảo, rồi “ùm” một tiếng, chàng đã ngã xuống hồ.

Vương Ngữ Yên cả kinh la gọi: “Đoàn công tử! Đoàn công tử!” Rồi đưa tay ra kéo chàng lên. May mà hồ nước không sâu, Đoàn Dự chỉ bị ướt. Nước lạnh thấm vào, đầu óc chàng tỉnh táo lại bèn bò lên bờ, người lem luốc bùn sình.

Tiếng la hoảng của Vương Ngữ Yên vừa rồi đã làm cho nhiều người trong miếu tỉnh giấc. Bọn Tiêu Phong, Hư Trúc, Ba Thiên Thạch, Chu Đan Thần hốt hoảng chạy ra, thấy Đoàn Dự hoang mang cùng Vương Ngữ Yên bẽn lẽn đứng bên nhau, đều cho là hai người ra bờ hồ tình tự lúc đêm khuya, bất giác cùng nghĩ là không nên hỏi nhiều. Đoàn Dự muốn tìm lời giải thích nhưng chẳng biết nói sao.

Hôm sau đã là mười hai tháng tám, còn ba ngày nữa là đến tiết Trung Thu. Ba Thiên Thạch từ sáng sớm đã vào thành Linh Châu để thăm dò tin tức. Khoảng giờ Tỵ, y lật đật chạy về miếu nói với Đoàn Dự:”Công tử! Tại hạ đã tới bộ Lễ, đưa thư của Vương gia về việc cầu thân với công chúa Tây Hạ. Thượng thư bộ Lễ xem thư xong, tỏ vẻ rất lịch sự. Y nói: Công tử đến cầu thân, thật là một vịnh dự lớn cho nước Tây Hạ, tin rằng công tử sẽ được như nguyện.”

Một lúc sau, ngoài cửa miếu bỗng có tiếng người ngựa nhộn nhịp rồi tiếng âm nhạc nổi lên. Ba Thiên Thạch cùng Chu Đan Thần chạy ra nghênh tiếp. Thì ra đây là Đào thị lang bộ Lễ nước Tây Hạ thống lĩnh nhân viên đến đón Đoàn Dự vào quán dịch để khoản đãi. Tiêu Phong làm Nam Viện Đại Vương nước Liêu, một nước lớn còn phồn thịnh hơn Đại Lý. Giả tỉ người Tây Hạ biết chàng tới đây thì cuộc nghênh tiếp còn long trọng hơn, nhưng Tiêu Phong đã căn dặn mọi người đừng tiết lộ hành tung của chàng. Tiêu Phong, Hư Trúc cùng mọi người đều tự nhận là tùy tùng của Đoàn Dự, cùng đến quán dịch.

Mọi người vừa thu xếp xong, bỗng nghe ngoài sân có tiếng ồm ồm quát mắng: “Các ngươi là cái thá gì mà dám đến dòm ngó công chúa Tây Hạ? Ngôi phò mã Tây Hạ dĩ nhiên là tiểu Vương tử chúng ta nắm chắc rồi. Ta khuyên bọn ngươi nên cúp đuôi chạy trốn sớm đi là hơn.” Bọn Ba Thiên Thạch nghe thấy, nổi giận bừng bừng, tự hỏi: “Bọn này là ai mà ăn nói vô lễ thế?” Lúc họ mở cửa quán dịch ra coi thì thấy bảy tám đại hán cao lớn đang đứng trong sân, la ó om sòm.

Ba Thiên Thạch cùng Chu Đan Thần đều là trọng thần nước Đại Lý, hành động cực kỳ tinh tế, nhưng Chu Đan Thần hơn mấy phần nho nhã, còn Ba Thiên Thạch hơn mấy phần uy võ. Hai người đều không lên tiếng, chỉ đứng tựa cửa nhìn ra. Mấy tên đại hán mỗi lúc một lớn tiếng thóa mạ, thỉnh thoảnh lại xen tiếng Phiên vào nghe không hiểu. Miệng chúng cứ lặp đi lặp lại: “tiểu Vương tử chúng ta, tiểu Vương tử chúng ta…” Dường như bọn này là thuộc hạ của Vương tử nước Thổ Phồn.

Ba Thiên Thạch đang nghĩ cách để dẹp chúng đi, thì đột nhiên cánh cửa một gian nhà bên trái mở ra đánh “ầm” một tiếng. Hai người ở bèn trong nhảy xổ ra, một người áo vàng, một người áo đen, tay đấm chân đá. Chỉ trong chớp mắt ba gã đại hán nằm thẳng cẳng dưới đất kêu oai oái không ngớt, còn mấy gã kia đã bị liệng ra khỏi cửa hết. Hán tử áo đen nói: “Thú quá! Thú quá!” Hán tử áo vàng lại nói: “Sai bét, sai bét! Đã lấy gì làm thú?” Thì ra hai người này chính là Phong Ba Ác và Bao Bất Đồng.

Mấy tên võ sĩ Thổ Phồn đứng ngoài cửa lớn tiếng la hét: “Gã Mộ Dung kia! Ta khuyên ngươi sớm về Cô Tô là hơn. Ngươi âm mưu kiếm chuyện với tiểu Vương tử bọn ta, định lấy công chúa Tây Hạ làm vợ, thì Vương tử sẽ thi triển kỹ thuật Gậy ngươi đập lưng ngươi, bắt biểu muội ngươi về làm tì thiếp.” Phong Ba Ác nghe bọn chúng thóa mạ mỗi lúc một thô tục, liền nhảy xổ ra vung chưởng đánh. Tiếp theo là những tiếng la hét ầm ĩ, mấy tên võ sĩ Thổ Phồn chạy trốn mỗi lúc một xa, tiếng thóa mạ cũng dần dần không nghe thấy nữa.

Vương Ngữ Yên ngồi trong phòng đã nghe thanh âm hai gã Bao Phong, nhưng nàng chưa quyết định được có nên gặp họ hay không.

Bao Bất Đồng nhìn Ba Thiên Thạch, Chu Đan Thần chắp tay hỏi: “Ba huynh! Chu huynh! Các vị đến Tây Hạ để xem cuộc náo nhiệt hay còn có mưu đồ chuyện khác?” Ba Thiên Thach đáp: “Hai vị Bao, Phong đến với mục đích gì, hai huynh đệ tại hạ cũng đến với mục đích ấy.” Bao Bất Đồng biến sắc hỏi: “Đoàn công tử nước Đại Lý cùng đến đây cầu thân hay sao?” Ba Thiên Thạch đáp: “Chính thế! Công tử bọn tại hạ là Thế tử, con Hoàng Thái đệ Trấn Nam Vương nước Đại Lý. Ngày sau công tử lên ngôi đại bảo, làm vua nước Đại Lý, thế thì công tử thành hôn với công chúa Tây Hạ là môn đăng hộ đối. Còn Mộ Dung công tử tuy nhân phẩm không kém, nhưng chỉ là một gã bạch đinh thì xứng đôi thế nào được?” Bao Bất Đồng biến sắc nói: “Sai bét, sai bét! Ngươi chỉ biết có một mà không biết hai. Công tử ta là rồng là phượng trong loài người, tên ngốc họ Đoàn ví với công tử ta thế nào được?” Phong Ba Ác đi xồng xộc trở vào nhà nói: “Tam ca! Tranh hơi với hắn làm gì cho mệt! Hôm đó vào điện Kim Loan thi triển bản lĩnh sẽ biết!” Bao Bất Đồng nói: “Sai bét, sai bét! Cuộc tỉ thí ở Kim Loan Điện là mấy vị công tử so tài cao thấp, còn việc tranh hơi mới là việc của chúng ta.”

Ba Thiên Thạch cười nói: “Nếu nói về việc dùng lời lẽ tranh hơi, thì Bao huynh là đệ nhất, tự cổ chí kim không ai bì kịp, tiểu đệ phải chịu thua thôi.” Đoạn gã vẫy Chu Đan Thần cùng đi vào phòng, rồi nói: “Chu hiền đệ! Nghe Bao Bất Đồng nói thì dường như công tử phải tham dự một cuộc tỉ thí gì đó ở Kim Loan Điện. Thế mà công tử bị trọng thương chưa khỏi, võ công lại chỉ trông vào môn Lục Mạch Thần Kiếm lúc linh nghiệm lúc không. Nếu lúc tỉ thí mà Lục Mạch Thần Kiếm của công tử thi triển không linh nghiệm, thì chẳng những mất ngôi phò mã mà còn nguy đến tính mạng.” Chu Đan Thần cũng đành chiu bó tay, không có mưu chước gì khác. Hai người liền đi tìm Tiêu Phong và Hư Trúc để thương nghị.

Tiêu Phong hỏi: “Không hiểu luật lệ tỉ thí ở điện Kim Loan như thế nào? Hai người đơn đả độc đấu hay là cho cả thuộc hạ xuất trận? Nếu người ngoài cũng được tham gia tỉ thí thì chẳng có gì đáng lo hết.” Ba Thiên Thạch nói: “Chu hiền đệ! Chúng ta đi hỏi Đào thị lang cho biết rõ luật lệ tỉ thí, để chuẩn bị kế hoạch.”

Hai người đi rồi, ba anh em Tiêu Phong, Hư Trúc cùng Đoàn Dự ngồi quây quần uống rượu, chén chú chén anh thật là khoan khoái. Tiêu Phong hỏi Đoàn Dự về Lục Mạch Thần Kiếm, chàng muốn dạy nghĩa đệ cách vận khí để lúc nào muốn phát ra kiếm khí cũng được ngay. Ngờ đâu Đoàn Dự chẳng hiểu chút gì về nội công, ngoại công. Tiêu Phong không biết làm thế nào, chỉ lắc đầu lia lịa, rồi uống cạn hết chén này đến chén khác. Hư Trúc cùng Đoàn Dự tửu lượng kém xa, mới năm sáu chén đã say mèm ngã lăn ra, chẳng còn biết trời đất gì nữa.

Lúc chàng mơ màng tỉnh dậy, mở mắt ra nhìn thì thấy bóng trăng chênh chếch nhòm song, biết là đêm đã khuya rồi. Đoàn Dự giật mình nghĩ thầm: “Đêm qua mình cùng Vương cô nương nói chuyện chưa xong, thì mình đã vô ý té xuống hồ. Chẳng biết nàng còn muốn nói gì với mình nữa không? Hiện giờ nàng có chờ đợi ngoài kia không? Trời ơi! Nếu để nàng đợi lâu không nhẫn nại được, về phòng ngủ rồi thì há chẳng đáng tiếc ư?” Đoàn Dự nghĩ tới đó thì trong lòng nóng nảy, đứng phắt dậy, rón rén ra khỏi phòng. Chàng đi qua sân toan rút then cài cổng thì đột nhiên phía sau có tiếng người khẽ bảo: “Đoàn công tử! Công tử lại đây, ta có lời muốn nói.”

Đoàn Dự trong lúc không để ý, giật bắn người lên. Nghe giọng nói dường như không có hảo ý, Đoàn Dự toan quay đầu lại, thì đột nhiên thấy huyệt Thân Trụ ở sau lưng đã bị người ta nắm chặt. Chàng nghe thanh âm đã biết là ai, liền cất tiếng hỏi: “Có phải Mộ Dung công tử đấy không?” Người kia đáp: “Không dám! Chính là tại hạ! Tại hạ mời Đoàn huynh lại đằng kia nói chuyện.” Đoàn Dự thấy đúng là Mộ Dung Phục thì trong lòng hồi hộp đáp: “Mộ Dung công tử đã có lệnh, tại hạ lẽ nào chẳng tuân theo? Xin công tử buông tay ra.” Mộ Dung Phục đáp: “Bất tất phải buông tay.” Đoàn Dự đột nhiên thấy người nhẹ bỗng, rồi bay đi như người đằng vân giá vũ, thì ra Mộ Dung Phục nắm lưng chàng nhảy lên nóc nhà.

Chàng nghĩ: “Nếu mình la lên một tiếng, đại ca cùng nhị ca nghe mà chạy ra cứu viện thì có cơ thoát nạn.” Nhưng chàng lại tự nhủ: “Nếu mình la lên thì Vương cô nương cũng nghe rõ. Nàng thấy hai người lại tranh đấu, tất phải phiền lòng, nhưng chẳng bao giờ oán trách biểu huynh, mà cứ đổ tội cho mình. Thôi, mình chẳng để nàng phải buồn nữa là hơn.” Thế là chàng lẳng lặng để mặc cho Mộ Dung Phục xách mình chạy đi.

Đã sắp đến Trung Thu, ánh trăng vằng vặc tỏa sáng khắp một vùng, trông rõ mọi vật xung quanh. Lúc đầu Đoàn Dự thấy Mộ Dung Phục chạy nhanh trên đường lát đá xanh, lát sau rẽ vào con đường nhỏ đất vàng, hai bên đường cỏ dại mọc đầy, nửa xanh nửa úa.

Mộ Dung Phục chạy một lúc nữa rồi đột nhiên dừng bước, quăng Đoàn Dự xuống đánh “binh” một tiếng. Lưng và vai Đoàn Dự đập xuống đất đau đớn vô cùng. Chàng nghĩ thầm: “Thằng cha này ngoài mặt nho nhã mà hành vi lại dã man.” Chàng hắng giọng một tiếng rồi lồm cồm bò dậy, nói: “Mộ Dung huynh có gì thì cứ nói đi, giở thói thô lỗ làm gì?”

Mộ Dung Phục cười gằn hỏi: “Đêm qua ngươi cùng biểu muội ta đã nói những gì?” Đoàn Dự đỏ mặt lên đáp: “Có chuyện gì đâu? Tiểu đệ chỉ gặp cô nương, nói mấy câu chuyện tầm thường.” Mộ Dung Phục lại hỏi: “Đoàn công tử là nam tử hán, là đại trượng phu. Người quang minh lỗi lạc không làm điều ám muội, đã làm gì, nói gì cũng không giấu giếm.”

Đoàn Dự bị Mộ Dung Phục nói khích, bực tức đáp: “Dĩ nhiên là tiểu đệ chẳng cần phải giấu giếm Mộ Dung huynh. Tiểu đệ hứa với Vương cô nương là sẽ tìm Mộ Dung huynh để khuyên giải.” Mộ Dung Phục cười nhạt nói: “Phải chăng ngươi muốn khuyên ta: “Trên thế gian này, mối tình phu phụ quan trọng nhất là phải tâm đầu ý hợp. Ngươi còn nói: ta chưa quen biết công chúa Tây Hạ, nàng xấu hay đẹp, tính thiện hay ác ta cũng chưa hiểu, vừa nhìn thấy mặt đã nên đạo vợ chồng thì không thể nào thương yêu nhau được.” Có đúng thế không? Ngươi còn bình phẩm: “ta phụ rẫy tình cảm thiết tha của Vương cô nương thì sẽ là con người bạc bẽo để hảo hán thế gian thóa mạ, anh hừng thiên hạ chê cười.” Có đúng thế không?”

Mỗi câu nói của Mộ Dung Phục làm Đoàn Dự giật mình một cái. Chàng chờ y dứt lời, rồi ấp úng nói lại: “Phải chăng… Vương cô nương đã kể với Mộ Dung huynh như vậy?” Mộ Dung Phục đáp: “Khi nào nàng lại kể với ta?” Đoàn Dự hỏi: “Thế thì… Mộ Dung huynh đã đứng nấp một bên để nghe hay sao?” Mộ Dung Phục cười nhạt, đáp: “Ngươi lừa gạt một cô gái chẳng hiểu chuyện đời thì được, chứ lừa gạt ta sao nổi?” Đoàn Dự ngạc nhiên hỏi: “Tiểu đệ lừa gạt Mộ Dung huynh chuyện gì?”

Mộ Dung Phục cười đáp: “Sự tình đã rõ lắm rồi! Chính ngươi muốn làm phò mã nước Tây Hạ, sợ ta đến tranh nên bày trò, chỉ muốn ta mắc bẫy. Ha ha! Mộ Dung Phục này đâu phải đứa con nít lên ba, sao lại để kẻ khác lừa bịp một cách dễ dàng? Ngươi đừng mơ mộng nữa.” Đoàn Dự thở dài đáp: “Tiểu đệ hết sức chân thành, chỉ mong Vương cô nương cùng Mộ Dung huynh bén duyên cầm sắt, nâng án ngang mày, bách niên giai lão.” Mộ Dung Phục nói: “Đa tạ những lời vàng ngọc của Đoàn công tử. Nhà Mộ Dung ở Cô Tô cùng họ Đoàn nước Đại Lý vốn không thân thuộc lại không quen biết, sao ngươi phải bận tâm như vậy? Nếu ta bị Ngữ Yên quấn quít không nỡ buông ra, thì thật là dịp tốt cho ngươi qua làm phò mã Tây Hạ đấy nhỉ?”

Đoàn Dự tức giận nói: “Mộ Dung huynh nói vậy thì càn rỡ quá rồi. Tiểu đệ là Vương tử một nước, tuy Đại Lý là nước nhỏ, nhưng cũng chẳng coi hai chữ phò mã to như trời biển đâu, Mộ Dung huynh! Tại hạ chỉ thực tình khuyên nhủ: vinh hoa phú quý rồi cũng trở về không. Mộ Dung huynh muốn làm phò mã Tây Hạ thì còn dễ, nhưng muốn làm hoàng đế Đại Yên thì còn phải giết biết bao là người? Mộ Dung huynh có giết người Trung Nguyên đến máu chảy thành sông, thây chất thành núi cũng chưa chắc đã khôi phục được Đại Yên.”

Mộ Dung Phục không tức giận gì, lạnh lùng đáp: “Ngoài miệng ngươi thì nói nhân nghĩa đạo đức, mà lòng dạ chẳng khác gì rắn rết.” Đoàn Dự vội nói: “Mộ Dung huynh không tin lòng tốt của tiểu đệ thì tùy ý, nhưng tiểu đệ không nhường cho huynh lấy công chúa Tây Hạ đâu! Tiểu đệ không thể nhìn Vương cô nương vì Mộ Dung huynh mà tan ruột nát lòng, tìm cách tự tử.” Mộ Dung Phục cười gằn, hỏi: “Ha ha! Ngươi không cho ta lấy, nhưng ta nhất định lấy thì ngươi tính sao?” Đoàn Dự thản nhiên đáp: “Tiểu đệ nhất định hết sức ngăn trở. Nếu tự mình không đủ sức, thì nhờ bằng hữu giúp đỡ.”

*****

Nguồn: truyenkimdung

Tiếp tục hành trình học tập cùng UDECAREER

Khám phá các Learning Paths, lựa chọn khóa học phù hợp và bắt đầu với những kỹ năng bạn cần cho giai đoạn hiện tại.

Truy cập UDECAREER Learninghttps://learning.udecareer.com ↗
Mã QR UDECAREER Learning
Quét mã QRđể truy cập UDECAREER Learning trên thiết bị di động.
Đầu trang