Chu Chỉ Nhược cười nhạt, nói:
– Ta với chàng trước đây từng đính hôn với nhau, phu quân ta hiện giờ sống chết chưa biết thế nào, hôm nay ta lại không giết chàng, người ngoài đều nghĩ ta vẫn còn tình xưa nghĩa cũ với chàng. Ngày mai lại gọi chàng ra tiếp tay, anh hùng thiên hạ sẽ chửi ta là kẻ vô liêm sỉ, tính nết trăng gió.
Trương Vô Kỵ vội nói:
– Chỉ cần mình không cảm thấy hổ thẹn với lương tâm, thì cần gì phải để ý đến lời dị nghị của kẻ khác?
Chu Chỉ Nhược nói:
– Nhưng ta tự vấn lại cảm thấy hổ thẹn thì sao?
Trương Vô Kỵ ngây ra, không trả lời được, chỉ ấp úng:
– Nàng… nàng…
Chu Chỉ Nhược nói:
– Trương giáo chủ, hai ta cô nam quả nữ, đêm khuya ở chung một chỗ dễ bị người ta dị nghị. Giáo chủ mau về đi!
Trương Vô Kỵ đứng lên, vái một cái thật dài, nói:
– Tống phu nhân, nàng từ nhỏ đã đối xử tốt với ta, mong nàng gia ân một lần nữa. Trương Vô Kỵ ta còn sống ngày nào, không dám quên tình nghĩa cao cả của nàng.
Chu Chỉ Nhược lặng thinh, không nhận lời, cũng chẳng cự tuyệt. Nàng từ đầu chí cuối không hề quay đầu lại, Trương Vô Kỵ không nhìn rõ sắc mặt nàng, đang định thấp giọng khẩn cầu, thì Chu Chỉ Nhược bỗng cao giọng, nói:
– Tĩnh Tuệ sư tỷ, tiễn khách!
Kẹt một tiếng, cửa mở ra, Tĩnh Tuệ đã đứng chực sẵn ngoài hiên, tay cầm trường kiếm, mặt hầm hầm nhìn chàng. Trương Vô Kỵ nghĩ việc sống chết của nghĩa phụ là ở lúc này, mình có muối mặt chịu nhục, cũng không đáng gì, liền quỳ ngay xuống, rập đầu lạy Chu Chỉ Nhược bốn cái, nói:
– Tống phu nhân, mong nàng thương tình.
Chu Chỉ Nhược vẫn trơ trơ như tượng đá.
Tĩnh Tuệ quát:
– Trương Vô Kỵ, chưởng môn đã bảo ngươi đi ra, sao còn cứ lải nhải gì ở đó? Đúng là hạng người vô liêm sỉ, quân bại hoại trong võ lâm!
Tĩnh Tuệ lại tưởng Trương Vô Kỵ thừa dịp Tống Thanh Thư sắp chết, đến van xin nối lại tình cũ duyên xưa.
Trương Vô Kỵ thở dài, đứng dậy đi ra.
Chàng về đến dãy lều của Minh giáo, Triệu Mẫn đứng đón, hỏi:
– Vết thương của Tống Thanh Thư có thể cứu được phải không? Chàng lại đem “Hắc ngọc đoạn tục cao” của muội đi cứu người ta chứ gì?
Trương Vô Kỵ nói:
– Ồ, nàng dự đoán như thần. Thương thế của hắn có cứu được hay không, lúc này chưa dám chắc.
Triệu Mẫn thở dài, nói:
– Chàng tưởng cứu sống Tống Thanh Thư thì đổi được Tạ đại hiệp ư? Vô Kỵ ca ca, chàng chỉ làm hỏng chuyện thêm thôi, chàng chả hiểu tâm sự gì của người ta cả.
Trương Vô Kỵ lấy làm lạ, hỏi:
– Vì sao? Ta chưa hiểu tại sao?
Triệu Mẫn nói:
– Chàng tận tâm cứu sống Tống Thanh Thư, có khác nào bảo với Chu tỷ tỷ rằng chàng chẳng còn luyến tiếc chút gì với nàng ta nữa, vậy thì nàng ta có buồn hay không?
Trương Vô Kỵ ngẩn ra, không biết nói sao, không lẽ Chu Chỉ Nhược lại không muốn chàng cứu chữa cho chồng nàng ta, nhưng đúng là nàng có nói: “Ta biết giáo chủ sẽ tận tâm tận lực cứu y để trong lòng khỏi áy náy, yên tâm đi làm quận mã triều đình”. Câu nói ấy quả là có ý oán trách, huống chi nàng ta còn nói “Nếu ta tự vấn lại cảm thấy hổ thẹn thì sao?”
Triệu Mẫn nói:
– Chàng cố cứu mạng Tống Thanh Thư, bây giờ lại hối hận rồi phải không?
Không chờ Trương Vô Kỵ trả lời, nàng mỉm cười, thản nhiên đi vào lều.
Trương Vô Kỵ ngồi xuống một tảng đá, nhìn vầng trăng lạnh, ngẩn ngơ xuất thần, nhớ lại mọi chuyện từ ngày quen biết Chu Chỉ Nhược tới nay, nhất là lời lẽ, thần sắc của nàng tối nay, càng hoang mang khó hiểu.
Sáng ngày mồng sáu tháng năm, chuông chùa Thiếu Lâm gióng lên vang động, quần hùng lại tụ tập trên bãi rộng. Lão tăng nọ của Đạt Ma đường lần này không thỉnh thị Không Trí nữa, tự đứng ra, dõng dạc nói:
– Các vị anh hùng, hôm qua tỷ võ tranh tài, chưởng môn phái Nga Mi Tống phu nhân nghệ quán quần hùng, xin mời Tống phu nhân ra sau núi phá cửa địa lao, nhận Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn, lão tăng sẽ dẫn đường.
Nói xong ông ta đi trước.
Tám ni cô đại đệ tử phái Nga Mi liền đi theo, tiếp đến Chu Chỉ Nhược và các đệ tử khác, sau cùng là quần hùng kéo cả đoàn đi về phía núi sau.
Trương Vô Kỵ thấy Chu Chỉ Nhược vẫn mặc trang phục giống hôm qua, không mặc đồ tang, biết là Tống Thanh Thư chưa chết, nghĩ thầm: “Hắn đã qua được một đêm, thì chắc là sẽ sống”.
Mọi người lên tới đỉnh núi, thấy ba vị lão tăng ngồi xếp bằng dưới ba gốc cổ tùng. Vị lão tăng của Đạt Ma đường nói:
– Kim Mao Sư Vương bị nhốt trong địa lao, nằm dưới giữa ba góc cây tùng kia. Canh giữ địa lao là ba vị trưởng lão của tệ phái. Tống phu nhân võ công thiên hạ vô song, chỉ cần thắng ba vị trưởng lão của tệ phái, là có thể phá lao mang tù đi. Mọi người chúng tôi lại được chiêm ngưỡng thân thủ của Tống phu nhân.
Dương Tiêu nhìn sắc diện hoang mang của Trương Vô Kỵ, bèn ghé tai nói nhỏ với chàng:
– Giáo chủ cứ yên tâm. Hai vị Vi Bức Vương, Thuyết Bất Đắc đã chỉ huy Ngũ Hành kỳ mai phục dưới chân núi. Nếu phái Nga Mi không chịu trao Tạ Sư Vương, chúng ta đành sử dụng vũ lực.
Trương Vô Kỵ cau mày, nói:
– Như thế thì vi phạm quy củ của đại hội, mất cả tín nghĩa.
Dương Tiêu nói:
– Thuộc hạ chỉ sợ Tống phu nhân cầm kiếm kề vào cổ Tạ Sư Vương, mình ném chuột sợ vỡ đồ quý, chứ chuyện tín nghĩa không đáng ngại lắm.
Triệu Mẫn cũng nói nhỏ:
– Tạ Sư Vương có quá nhiều kẻ thù, mình phải đề phòng trong đám đông có kẻ phóng ám khí đánh trộm đấy.
Dương Tiêu nói:
– Phạm hữu sứ, Thiết Quan đạo trưởng, Bành đại sư, Chu huynh bốn người đã phân chia bốn góc đề phòng chuyện đó rồi.
Triệu Mẫn nói nhỏ:
– Tốt nhất là khi có kẻ phóng ám khí đánh trộm, mình thừa cơ đoạt luôn Tạ Sư Vương; như thế anh hùng thiên hạ cũng không thể trách ta mất tín nghĩa. Nếu như sóng lặng gió êm… thì lại… Ồ, Dương tả sứ, có lẽ tả sứ hãy ngầm sai người giả bộ đánh lén Tạ Sư Vương, rồi nhân lúc hỗn loạn mà xông ra cướp người.
Dương Tiêu cười, nói:
– Kế đó hay lắm!
Liền sai người đi lo liệu.
Trương Vô Kỵ biết làm như thế chẳng quang minh lỗi lạc chút nào, nhưng vì muốn cứu nghĩa phụ, cũng không có cách nào khác, trong lòng bất giác cảm kích, nghĩ thầm: “Mẫn muội và Dương tả sứ đều có tài quyết đoán khi lâm sự, thảo nào hay thấy họ bàn tính với nhau rất ăn ý, ta thật không có cái tài ấy”.
Bỗng nghe Chu Chỉ Nhược nói:
– Ba vị cao tăng là trưởng lão của phái Thiếu Lâm, dĩ nhiên võ học thâm hậu. Nếu bổn tòa lấy một địch ba, đã không công bằng, lại còn bất kính.
Vị lão tăng của Đạt Ma đường nói:
– Nếu Tống phu nhân muốn có thêm một, hai người trợ giúp cũng được, không sao cả.
Chu Chỉ Nhược nói:
– Bản tòa may mắn đoạt danh vị đứng đầu chẳng qua nhờ anh hùng thiên hạ nhường nhịn, nhờ võ công do tiên sư Diệt Tuyệt sư thái bí truyền. Nếu lấy ba địch ba, dù đắc thắng, cũng không hiển lộ được công lao của ân sư vất vả giáo huấn bổn tòa. Còn nếu lấy một địch ba, hóa ra là bất kính với chủ nhân. Thôi thế này vậy, bổn tòa gọi một tiểu tử ra liên thủ; kẻ đó hôm qua bị thương dưới tay bổn tòa, hiện giờ chưa khỏi. Tiểu tử ấy ngày trước từng bị tiên sư đánh ba chưởng thổ huyết, thiên hạ đều biết. Như thế sẽ khỏi tổn thương uy danh của tiên sư.
Trương Vô Kỵ nghe vậy cả mừng: “Tạ ơn trời đất, nàng quả nhiên đã nhận lời ta”. Chỉ nghe Chu Chỉ Nhược gọi:
– Trương Vô Kỵ, mau ra đây!
Quần hào Minh giáo trừ bọn Dương Tiêu, không ai hiểu nguyên do, thấy Chu Chỉ Nhược gọi giáo chủ của họ là tiểu tử này tiểu tử nọ, thảy đều bất bình. Song họ lại thấy Trương Vô Kỵ có vẻ tươi tỉnh, bước ra, vái một cái thật dài, nói:
– Đa tạ Tống phu nhân hôm qua đã nương tay, tha mạng cho tiểu tử.
Trong bụng chàng đã có chủ ý: “Nàng nhục mạ ta trước đám đông, chẳng qua để gỡ thể diện cho phái Nga Mi, trả thù cái chuyện chú rể bỏ đi trong ngày cưới chưởng môn của họ mà thôi. Vì nghĩa phụ, ta phải nhịn nhục đến cùng cho xong việc”.
Chu Chỉ Nhược nói:
– Ngươi hôm qua bị trọng thương hộc máu, bây giờ ta cũng không cần ngươi giúp gì lắm, chỉ ra cho có vậy thôi.
Trương Vô Kỵ đáp:
– Vâng, mọi việc xin theo lệnh Tống phu nhân, không dám làm trái.
Chu Chỉ Nhược rút nhuyễn tiên ra, tay phải rung một cái, cây roi đã tạo nên hơn mười vòng tròn, lớn nhỏ đủ cả, trông vô cùng đẹp mắt; tay trái lật một cái, thanh quang loáng lên, lộ ra một cây đoản đao. Quần hùng hôm qua đã thấy uy lực của nhuyễn tiên trong tay nàng, ai ngờ tay trái nàng còn có thể dùng đao, vậy là binh khí một dài một ngắn, một cứng một mềm, thực là hai thứ trái ngược với nhau. Quần hùng vừa kinh ngạc vừa thán phục, cảm thấy hào hứng hẳn lên.
Trương Vô Kỵ rút trong bọc ra hai tấm thánh hỏa lệnh, bước tới hai bước, đột nhiên chân bước loạng choạng, cố ý ho to mấy tiếng, làm bộ bị thương chưa khỏi, xem chừng tự lo cho mình còn chưa xong, giả dụ thắng được ba vị lão tăng, thì quần hùng sẽ hiểu là hoàn toàn trông cậy ở công lao của Chu Chỉ Nhược.
Chu Chỉ Nhược tới bên chàng, hỏi nhỏ:
– Chàng từng thề sẽ báo thù cho biểu muội, nếu hung thủ làm hại nàng ta lại là nghĩa phụ của chàng, thì chàng có cứu ông ấy nữa hay không?
Trương Vô Kỵ sững sờ, nói:
– Nghĩa phụ có lúc tâm trí thất thường, nếu vậy không tính.
Độ Ách nói:
– Trương giáo chủ hôm nay lại lên chỉ giáo ư?
Trương Vô Kỵ đáp:
Cúi mong ba vị đại sư lượng thứ.
Độ Ách nói:
– Nói khéo lắm! Vị chưởng môn phái Nga Mi này, nghe đâu hôm qua tài nghệ cao hơn hết thảy anh hùng thiên hạ, lẽ nào võ công nàng ta lại còn cao hơn cả Trương giáo chủ được sao?
Trương Vô Kỵ đáp:
– Đúng thế! Hôm qua vãn bối bị Chu chưởng môn đánh cho trọng thương hộc máu.
Độ Nạn nói:
– Thế thì lạ thật!
Trường tiên của ba vị lão tăng từ từ vươn ra.
Ngay lúc ấy, từ dưới lưng chừng núi bỗng vọng lên tiếng hợp tấu đàn và sáo. Trương Vô Kỵ mừng thầm, thấy bốn bạch y thiếu nữ đi lên, tay mỗi người cầm một cây đàn ngắn; tiếp đến bốn hắc y thiếu nữ, tay mỗi nàng cầm một cây sáo dài. Đen trắng xen nhau, tám thiếu nữ chia nhau đứng ở tám phương vị, cùng gảy đàn thổi sáo, âm vận rất tao nhã. Một mỹ nữ mặc áo lụa mỏng màu vàng khoan thai bước tới, chính là người mà Trương Vô Kỵ từng gặp ở Lư Long trong lần gặp quần hào Cái Bang.
Cô bé Sử Hồng Thạch, bang chủ Cái Bang, vừa trông thấy, liền chạy ra, sà vào lòng hoàng y mỹ nữ, nói:
– Dương tỷ tỷ, Dương tỷ tỷ, các vị trưởng lão và long đầu của bên ta bị người ta giết chết rồi.
Cô bé vừa nói vừa chỉ Chu Chỉ Nhược, nói:
– Chính phái Nga Mi và phái Thiếu Lâm hạ độc thủ đó.
Hoàng y mỹ nữ gật đầu, nói:
– Ta biết rồi. Hừ, “Cửu âm bạch cốt trảo” vị tất đã là môn võ công vô địch thiên hạ.
Nàng lên núi với cung cách như thế, dung nhan lại xinh đẹp cao sang, khiến ai nấy đổ dồn nhìn nàng, câu nói vừa rồi ai cũng nghe rõ mồn một. Quần hùng giật mình, những người đứng tuổi đều nghĩ thầm: “Pho trảo pháp của phái Nga Mi không lẽ lại là “Cửu âm bạch cốt trảo”, môn võ công âm độc lừng danh giang hồ một trăm năm về trước?” Họ từng nghe cái tên đó, nhưng nó quá tàn độc, lại thất truyền đã lâu, chưa ai chứng kiến lần nào cả.
Hoàng y mỹ nữ cầm tay Sử Hồng Thạch, đi lẫn vào đám đệ tử Cái Bang, ngồi xuống một tảng đá.
Chu Chỉ Nhược mặt hơi biến sắc, hỏi nhỏ:
– Nữ nhân ấy là ai vậy?
Trương Vô Kỵ đáp:
– Ta mới gặp nàng có một lần, chưa biết lai lịch họ tên, chỉ biết có mối liên hệ sâu xa với Cái Bang.
Chu Chỉ Nhược nói:
– Hừ, ra tay đi thôi!
Trường tiên của nàng rung một cái, phóng cuồn cuộn về phía sợi dây dài của Độ Nạn, mượn thế nhảy luôn vào khoảng giữa ba cây cổ tùng.
Chiêu đầu tiên nàng đã tấn công thẳng vào trung cung của địch, vừa mau lẹ vừa ác liệt, lại rất gan dạ, dẫu cao thủ hạng nhất trên giang hồ cũng khó sánh kịp. Quần hùng chỉ thấy thân hình nàng từ trên không trung nhẹ nhàng đáp xuống như một con hạc xanh, nhuyễn tiên trong tay phải cuốn lấy sợi dây của Độ Nạn, đã mượn sức đối phương, lại khiến cho lão ta nhất thời chưa sử dụng được binh khí. Hai sợi trường tiên của Độ Kiếp và Độ Ách cùng vung ra, chia hai bên đánh vào.
Trương Vô Kỵ liền xông thẳng tới, chân vừa nhấp một cái, đột nhiên lảo đảo. Mọi người ồ lên ngạc nhiên, tưởng chàng bị thương mới khỏi, còn chưa đứng vững. Nào ngờ đó là một chiêu võ công Ba Tư ghi trên thánh hỏa lệnh, thân pháp quái dị, muốn đạt cực điểm phải làm như ngã nhào về phía trước, hai tấm thánh hỏa lệnh trong hai tay chàng đã đánh ngay tới ngực Độ Nạn. Lúc này sợi trường tiên của Độ Nạn còn đang bị sợi nhuyễn tiên của Chu Chỉ Nhược quấn lấy, lão ta không thể thu về chống đỡ. Độ Ách và Độ Kiếp thấy thế nguy, vội bỏ Chu Chỉ Nhược, hai sợi dây cùng tấn công Trương Vô Kỵ. Hai sợi dây đen ấy linh động uy mãnh, hệt như hai con rồng đen, ai cũng nghĩ Trương Vô Kỵ khó lòng chống đỡ, không ngờ chàng lăn ngay xuống đất, đã thế, thật nguy hiểm, còn lăn ngay tới bên cạnh Độ Ách. Độ Ách liền chém tay trái xuống vai chàng. Trương Vô Kỵ dùng tâm pháp “Càn khôn đại na di” hóa giải, nhỏm người dậy, lấy vai hích vào Độ Kiếp.
Hôm nay chàng cố ý nhường cho Chu Chỉ Nhược được nổi danh, chưởng môn phái Nga Mi sẽ được tiếng đánh bại ba vị cao tăng Thiếu Lâm; còn chàng chỉ cốt cứu được nghĩa phụ, cho nên chàng sử dụng toàn là võ công Ba Tư, lăn sang bên này một cái, nhào qua bên kia một cái, đã khó coi cho khó coi thêm, đã bệ rạc cho bệ rạc thêm. Trong số quần hùng đứng ngoài xem, không ít nhân vật có kiến thức siêu việt, nhưng thứ võ công Ba Tư này quá cổ quái, người Trung thổ lại chưa ai sử dụng bao giờ, huống hồ việc hôm qua Trương Vô Kỵ bị trọng thương người người đều thấy rõ, cho nên thoạt đầu không ai nhận biết được sự thực. Kẻ thù của Minh giáo thì mừng thầm, bằng hữu của Minh giáo thì không khỏi lo lắng, chỉ sợ hôm nay chàng sẽ bỏ mạng nơi đây.
Hai bên trao đổi vài chục chiêu, chỉ thấy Chu Chỉ Nhược thân hình nhô lên hụp xuống cực kỳ phiêu diêu; còn Trương Vô Kỵ thì càng lúc càng tơi tả, vụng về, luống cuống, xem ra chưa bằng một kẻ mới học võ; thế nhưng bất kể tình huống nguy hiểm đến mức nào, chàng cũng đều thoát khỏi sát thủ của đối phương trong đường tơ kẽ tóc.
Những người tâm trí mẫn tiệp liền hiểu ngay bên trong tất có điều gì lạ thường, đoán chừng võ công chàng sử dụng có lẽ cùng loại như “Túy bát tiên”, trông bề ngoài loạng choạng ngả nghiêng, thực ra ẩn chứa biến hóa lạ kỳ; loại võ công này so với công phu chính lộ còn khó luyện hơn nhiều.
Lộ võ công Ba Tư này rất lợi hại, nếu một chọi một, đấu với bất cứ người nào trong ba vị lão tăng, cũng sẽ làm cho đối phương luống cuống chân tay, giống như Trương Vô Kỵ đấu với Phong Vân tam sứ. Ở đây ba vị cao tăng từng luyện khô thiền mấy chục năm, tâm ý tương thông, một vị có sơ hở trong chiêu số thì hai vị kia lập tức bù cho ngay. Thân pháp cực kỳ quái dị của Trương Vô Kỵ lẽ ra cứ mỗi chiêu đều khiến đối phương hoa mắt, tưởng bên trái mà hóa ra bên phải, tưởng trước mặt hóa ra ở sau lưng, không sao biện thức nổi. Thế nhưng ba sợi dây của ba cao tăng tùy tâm mà động, chẳng buồn lý đến mọi biến hóa của Trương Vô Kỵ. Đấu tới bảy, tám chục chiêu rồi, Trương Vô Kỵ đã thi thố không biết bao nhiêu quái chiêu, vẫn không chạm tới một sợi lông của ba vị cao tăng. Đấu tới trăm chiêu, chàng chỉ cảm thấy uy lực của ba sợi dây càng mạnh lên, trong khi thân pháp của chàng thì trì trệ dần, không còn linh hoạt biến ảo như ban đầu.
Chàng đâu biết rằng thứ võ công mình đang sử dụng gần một nửa đã nhập ma đạo, trong khi “Kim cương phục ma khuyên” của ba vị cao tăng chính là đại pháp tinh diệu của nhà Phật để chế ngự tà ma. Người ngoài đứng xem thấy chàng càng đấu càng hăng hái, kỳ thực ma quỷ cứ lớn dần lên trong tâm linh chàng; chỉ cần đấu thêm một trăm chiêu nữa, sẽ bị võ công thượng thừa của Phật môn khống chế hoàn toàn, sẽ nhảy múa điên cuồng loạn xạ không còn tự chủ, ba vị cao tăng khỏi cần ra tay, chàng sẽ tự kết liễu đời mình. Minh giáo bị người đời gọi là Ma giáo, vốn cũng có nguyên do nhất định của nó; còn kẻ sáng tạo ra lộ võ công này là “Sơn trung lão nhân”, một tên đại ác ma giết người không chớp mắt. Trương Vô Kỵ lúc mới luyện, chưa cảm thấy gì cả; nhưng bây giờ gặp kình địch, mới phát huy hết chỗ tinh diệu của thứ võ công đó, tâm linh càng lúc càng cảm ứng, đột nhiên chàng ngửa cổ cười hô hố ba tiếng, âm thanh chứa đầy gian trá tà ma.
Ba tiếng cười của chàng vừa dứt, bỗng từ địa lao bên dưới ba gốc cổ tùng vọng lên tiếng tụng kinh, chính là giọng của Tạ Tốn. Giọng già nua của Tạ Tốn đang đọc kinh “Kim Cương”:
– Bấy giờ Tu Bồ Đề nghe giảng kinh này, hiểu sâu nghĩa lý, nước mắt ràn rụa, bạch Phật rằng “Bạch Thế Tôn, Phật giảng kinh điển thâm sâu nhường ấy, tôi từ khi có được tuệ nhãn đến nay, chưa bao giờ được nghe kinh này. Bạch Thế Tôn, nếu ai nghe kinh này mà có lòng tin thanh tịnh, ắt sinh thực tướng”…
Trương Vô Kỵ vừa đấu võ vừa nghe, từ lúc Tạ Tốn tụng kinh, uy lực của ba sợi dây đen trên tay ba vị cao tăng Thiếu Lâm lập tức giảm đi, chỉ nghe Tạ Tốn tụng tiếp:
– Bạch Thế Tôn, hôm nay tôi được nghe kinh này, tin mà làm theo, không còn gì khó. Nếu đến kiếp sau, năm trăm năm nữa, chúng sinh nghe kinh này, ai tin mà làm theo, thì người ấy thành đấng Thế Tôn liền. Vì sao thế? Vì người đó Vô ngã tướng, Vô nhân tướng, Vô thọ giả tướng…
Trương Vô Kỵ nghe tới đây, trong lòng dồn dập bao ý nghĩ, biết nghĩa phụ từ khi bị nhốt dưới địa lao trên đỉnh núi, ngày ngày nghe ba vị cao tăng Thiếu Lâm tụng kinh, lần trước hiển nhiên có thể thoát thân, nhưng tự biết mình tội nghiệt nặng nề, nhất định không chịu rời khỏi nơi đây, chẳng lẽ sau mấy tháng nghe kinh Phật, ông đã đại triệt đại ngộ hay sao? Trong kinh có câu: “Nếu đến kiếp sau, năm trăm năm nữa, chúng sinh nghe kinh này, ai tin mà làm theo…” Trong lòng nghĩa phụ lúc này, cái kẻ ở “kiếp sau, năm trăm năm” đó chính là Trương Vô Kỵ. Có điều kinh nghĩa thâm thúy, chàng đang mải đấu, chưa thể suy nghĩ kỹ. Dĩ nhiên chàng không biết Tu Bồ Đề nói trong kinh là một trưởng lão ở nước Xá Vệ bên Thiên Trúc, nghe Thích Ca Mâu Ni giảng kinh Kim Cương, thành thử nghe lời kinh Tạ Tốn đang tụng, chàng chỉ hiểu lờ mờ một nửa.
Lại nghe Tạ Tốn tụng kinh:
– Phật bảo Tu Bồ Đề: “Chính thế, chính thế đó! Nếu có ai nghe kinh này, không kinh sợ, không hoảng hốt, thì quả thật hiếm có trên thế gian… Như ta ngày trước vì vua Ca Lợi mà cắt bỏ thân thể. Ta phải Vô ngã tướng, Vô nhân tướng, Vô thọ giả tướng. Vì sao thế? Ta khi đó bị chặt ra từng khúc, nếu có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, thì sẽ sinh lòng giận dữ, thù hận… Tu Bồ Đề, hãy rời bỏ mọi thứ tướng”.
Đoạn kinh trên ý nghĩa thật rõ ràng, muốn nói rằng hết thảy trên thế gian đều là hư ảo, ngay cả đối với thân thể mình, tính mạng mình, trong lòng cũng không hề có chút ý niệm gì, dù kẻ khác có đâm chém thân thể ta, cắt ra từng khúc, mà ta căn bản không coi đó là thân thể của mình, thì sẽ hoàn toàn không có ý phiền não thù hận. Nghĩa phụ thân ở trong địa lao mà lòng bình thản như thế, chẳng lẽ ông đã đạt tới cảnh giới “không kinh sợ, không hốt hoảng” rồi sao? Chàng lại nghĩ: “Hay là nghĩa phụ nhắn ta rằng khỏi cần lo buồn cho ông, khỏi cần tốn sức cứu ông thoát hiểm?”
Nguyên Tạ Tốn mấy tháng qua bị nhốt dưới địa lao, ngày đêm nghe ba vị cao tăng tụng kinh Kim Cương, cũng ngộ ra được ít nhiều nghĩa lý của kinh văn, vừa rồi nghe thấy tiếng cười quái đản của Trương Vô Kỵ, tựa hồ tâm ma nổi dậy, dần dần đi vào hiểm cảnh, Tạ Tốn bèn lập tức tụng kinh Kim Cương để giúp chàng thoát khỏi ma chướng trong lòng.
Trương Vô Kỵ vừa nghe Tạ Tốn tụng kinh Phật, chiêu số trên tay vẫn không dừng; vừa ngẫm nghĩ hàm nghĩa của kinh văn, tâm ma tức thì tiêu giảm, pho võ công Ba Tư kia không còn ăn khớp với nhau, vút một cái, trường tiên của Độ Kiếp đánh tới vai trái của chàng. Trương Vô Kỵ hạ vai xuống tránh, bất giác sử dụng “Cửu dương thần công” phối hợp với tâm pháp “Càn khôn đại na di” chế ngự ngay được kình lực đánh tới, chợt nghĩ thầm: “Còn sử dụng pho võ công Ba Tư thì không thắng được”. Chàng liếc sang phía Chu Chỉ Nhược, thấy nàng lạng phải lách trái, có vẻ sắp thua, thì nghĩ bụng: “Tình thế hôm nay khó vẹn mọi bề. Nếu mình không dốc toàn lực, Chỉ Nhược bại trận, thì còn làm sao cứu được nghĩa phụ?” Bèn hú lên một tiếng thanh thoát, cầm hai tấm thánh hỏa lệnh chuyển sang thế công.
Tiếng tụng kinh của Tạ Tốn vẫn chưa dứt, nhưng Trương Vô Kỵ ngưng thần thi triển tâm pháp “Càn khôn đại na di”, nên không nghe rõ lời kinh nữa, chỉ cốt làm sao tóm được ba sợi dây dài của ba vị cao tăng, để Chu Chỉ Nhược tìm ra kẽ hở mà lọt vào giữa vòng.
Khi chàng dốc toàn lực ra thi triển, ba vị cao tăng cảm thấy áp lực đè lên sợi dây càng lúc càng nặng, khiến mỗi vị phải vội vận nội lực chống lại. “Kim cương phục ma khuyên” của ba vị cao tăng lấy kinh Kim Cương làm tinh nghĩa tối cao, cuối cùng mong đạt tới “Vô ngã tướng, Vô nhân tướng, Vô chúng sinh tướng, Vô thọ giả tướng”, không còn phân biệt ta với người, sống với chết, hết thảy đều là hư ảo cả. Có điều là ba vị cao tăng tuy tu luyện đã cao, nhưng lúc xuất thủ vẫn chưa từ bỏ nổi ý niệm khắc địch chế thắng, tuy đã gạt bỏ sự sống chết của bản thân mình ra ngoài, nhưng vẫn chưa diệt nổi sự phân biệt ta với người, cho nên uy lực của “Kim cương phục ma khuyên” chưa đạt tới mức tối cao. Trong ba vị cao tăng thì Độ Ách tu tập cao nhất, hiểu sâu việc trừ bỏ “bốn tướng” kia, nhưng cái ý nghĩ tranh hùng đấu thắng của hai cao tăng Độ Nạn, Độ Kiếp thì nhiễm tạp quá sâu, lẫn vào hình tích “tướng” của thế gian, thành thử phép đánh roi của Độ Ách không thể không chiều theo hai vị kia cho ăn ý.
Quần hùng theo dõi thấy Trương Vô Kỵ thay đổi chiêu số võ công, cuộc đấu ở giữa ba cây cổ tùng càng lúc càng trở nên ác liệt; một làn hơi lờ mờ bắt đầu bốc lên từ đỉnh đầu ba vị cao tăng, biết là mồ hôi ở trán và đỉnh đầu bị nội lực hun nóng thành hơi bốc lên, đủ hiểu năm người đã đến cảnh giới đấu nội lực với nhau. Hơi nước từ đầu Trương Vô Kỵ bốc lên thẳng như cây bút, nhỏ và dài, tụ mà không tán, hiển nhiên nội lực của chàng thâm hậu hơn ba vị cao tăng. Hôm qua quần hùng ai cũng thấy chàng bị trọng thương, nào ngờ chỉ sau một đêm đã hoàn toàn bình phục, nội lực thâm hậu như thế thật khiến ai nấy kinh hãi.
Chu Chỉ Nhược thì không giao phong trực diện với ba vị cao tăng, chỉ chạy ở ngoài vòng đánh cầm chừng, hễ thấy “Kim cương phục ma khuyên” có chỗ nào sơ hở mới vọt tới, nhuyễn tiên đánh vào đó, rồi lại lập tức phải nhảy ra vòng ngoài.
Đến lúc này tu luyện võ công giữa nàng và Trương Vô Kỵ ai cao ai thấp, thì đã hiện rõ. Trong quần hùng, không ít người bàn tán với nhau, họ nói:
– Vài năm nay người ta đồn giáo chủ Minh giáo võ công cao cường, thời nay không ai sánh kịp, quả nhiên danh bất hư truyền. Hôm qua hắn cố ý nhường vị Tống phu nhân kia thôi, cái đó gọi là đàn ông không thèm chấp đàn bà đó.
– Cái gì mà đàn ông không thèm chấp đàn bà? Tống phu nhân vốn là vợ của Trương giáo chủ đó, các hạ không biết ư? Cái đó phải gọi là tình cũ nghĩa xưa.
– Hừ, tình oan nghĩa trái thì có, chứ làm gì có chuyện tình cũ nghĩa xưa!
– Thế nhưng sau đó Tống phu nhân lại tha chết cho Trương giáo chủ, chẳng phải là tình chàng nghĩa thiếp hay sao?
Chiêu số của Thiếu Lâm tam tăng và Trương Vô Kỵ càng lúc càng chậm dần, biến hóa càng lúc càng tinh vi. Võ công của Chu Chỉ Nhược toàn lấy biến hóa kỳ ảo làm chính, thắng được Võ Đang nhị hiệp quả là tuyệt đỉnh rồi, còn nói về tu luyện nội công, thì còn thua xa Du Liên Châu với Ân Lê Đình. Hiện giờ Trương Vô Kỵ cùng Thiếu Lâm tam tăng đang đem bản lĩnh chân thực đấu với nhau, không có chuyện khéo léo gì ở đây. Chu Chỉ Nhược không cách gì xen vào được; có lúc nàng cố vung roi xông lên tấn công, nhưng đụng phải nội kình của bốn người kia lại lập tức bị dội ngược trở ra.
Lại đấu ngót nửa canh giờ nữa, “Cửu dương thần công” trong cơ thể Trương Vô Kỵ lưu chuyển dồn dập, thánh hỏa lệnh phát ra tiếng ù ù. Sắc diện của ba vị cao tăng vốn khác nhau, lúc này đều đỏ bừng như gấc, áo bào căng phồng lên như bị gió thổi phồng. Áo quần của Trương Vô Kỵ thì không thấy gì khác, tình trạng cao thấp xem ra đã rõ ràng, nếu là một chọi một, thậm chí một chọi hai, thì chàng đã thắng từ lâu. “Cửu dương chân khí” chàng luyện được vốn thâm hậu khôn cùng, lại được Trương Tam Phong chỉ điểm cho phép luyện khí trong “Thái cực quyền”, cho nên càng đấu càng mạnh, có thể kéo dài hai canh giờ nữa, đến khi đối phương hoàn toàn kiệt sức. Thiếu Lâm tam tăng lúc này đã hiểu, càng đấu lâu càng bất lợi, đột nhiên cùng quát to, ba sợi dây dài cùng chuyển động thần tốc, bóng dây tung hoành, thực thực hư hư. Trương Vô Kỵ ngưng thần theo dõi thế roi của địch, đòn nào cũng hóa giải, nhưng trong bụng thì lo nghĩ: “Võ công của Chu Chỉ Nhược tuy lạ, nhưng học chưa lâu, thành ra uy lực không bằng ông ngoại ta liên thủ với Dương tả sứ; ta một mình khó làm nổi chuyện gì, xem chừng hôm nay lại thua mất. Lần này không cứu được nghĩa phụ, biết làm sao đây?”
Chàng vừa hoang mang, nội lực liền suy giảm, ba vị cao tăng thừa cơ tấn công, khiến càng nguy hiểm thêm. Trong óc Trương Vô Kỵ vụt thoáng qua hình ảnh cử chỉ yêu thương mà Tạ Tốn dành cho chàng hồi nhỏ ở Băng Hỏa đảo, lại nghĩ đến việc Tạ Tốn mắt đã mù mà chấp nhận đại mạo hiểm, trở lại giang hồ, hoàn toàn chỉ vì chàng; hôm nay nếu không cứu được nghĩa phụ, thật chàng cũng chẳng thiết sống một mình nữa. Mắt thấy sợi dây dài của Độ Nạn từ phía sau cuốn tới, chàng chẳng còn nghĩ tới an nguy sinh tử của bản thân, bèn giơ nhanh tay trái ra cho sợi dây quất vào cánh tay, dùng tâm pháp “Càn khôn đại na di” chế ngự sức roi, tay phải dùng thánh hỏa lệnh ngăn chặn hai sợi dây của Độ Ách và Độ Kiếp cùng đánh tới; thân hình chàng như một con chim ưng bay giạt sang bên trái, xoay một vòng trên không trung, đã quấn được sợi dây dài của Độ Nạn vào cây cổ tùng mà lão tăng đang ngồi dưới gốc.
Chiêu này thực bất ngờ, Trương Vô Kỵ tay trái kéo mạnh về phía sau, định xiết cho sợi dây hằn sâu vào thân cây. Độ Nạn cả kinh, vội giật lại. Trương Vô Kỵ biến chiêu cực nhanh, thuận theo đà giật của Độ Nạn mà kéo luôn sợi dây về phía lão. Cây cổ tùng tuy to lớn, nhưng dưới gốc đã bị khoét mất một nửa làm chỗ tránh mưa gió cho ba vị lão tăng, lúc này bị sợi dây cực kỳ dẻo dai quấn quanh, bị sức kéo cùng về một phía của hai luồng lực đạo do Trương Vô Kỵ và Độ Nạn phát ra, chỉ nghe răng rắc thật to, rồi cây cổ tùng gãy ngay chỗ bị khoét rỗng mà đổ ập xuống.
Thừa lúc Độ Ách và Độ Kiếp còn đang kinh hãi chưa kịp trở tay, song chưởng của Trương Vô Kỵ cùng tung ra, chàng quát một tiếng, đánh thẳng vào cây cổ tùng của Độ Ách. Chưởng lực này là hội tụ công lực của cả đời chàng, cây cổ tùng thứ hai không chịu nổi, cũng gãy liền. Hai cây cổ tùng gãy, cộng cả cành lá phải nặng mấy ngàn cân, đổ sập xuống cây cổ tùng của Độ Kiếp. Trương Vô Kỵ phi thân nhảy lên, đạp mạnh thêm một cái vào thân cây cổ tùng thứ ba ấy, cây đó rung chuyển, từ từ đổ xuống.
Trong tiếng cây đổ, tiếng người reo hò huyên náo, Trương Vô Kỵ ném hai tấm thánh hỏa lệnh về phía Độ Ách và Độ Kiếp. Nhân lúc hai người ấy luống cuống vừa tránh cây đổ, vừa đối phó với thánh hỏa lệnh, Trương Vô Kỵ liền thụp xuống, lăn vào giữa “Kim cương phục ma khuyên”, sử dụng tâm pháp “Càn khôn đại na di”, song chưởng vừa đẩy vừa lay, lập tức xê dịch tảng đá lớn đậy nắp hầm, gọi to:
– Nghĩa phụ, mau lên thôi!
Chàng sợ Tạ Tốn không chịu ra, không đợi ông trả lời, liền thò tay xuống địa lao nắm lưng ông kéo lên.
Ngay lúc ấy, hai sợi dây của Độ Ách và Độ Kiếp cùng đánh tới, Trương Vô Kỵ đành buông Tạ Tốn xuống, móc hai tấm thánh hỏa lệnh ném về phía hai lão tăng; hai tay nhanh như chớp chộp luôn hai đầu dây. Độ Ách, Độ Kiếp toan vận lực kéo về, thì thánh hỏa lệnh bay tới trước mặt, không kịp nghĩ gì nữa, đành vứt bỏ sợi dây mà nhảy vọt về phía sau mới tránh được đòn tập kích của thánh hỏa lệnh. Lúc đó Độ Nạn rảnh tay, vung tả chưởng đánh tới, Trương Vô Kỵ gọi:
– Chỉ Nhược, mau chặn lại!
Chàng nghiêng người né tránh, ôm Tạ Tốn mang ra khỏi chỗ ba cây cổ tùng, thì phái Thiếu Lâm sẽ không nói gì được nữa. Chu Chỉ Nhược hừ một tiếng, hơi chần chừ, hữu chưởng của Độ Nạn đã đánh tiếp theo. Trương Vô Kỵ né lệch sang một bên, cốt giữ yếu huyệt sau lưng, để cho chưởng đó đánh vào vai.
Chàng ôm Tạ Tốn, định nhảy ra khỏi chỗ ba cây tùng đổ, Tạ Tốn nói:
– Vô Kỵ hài nhi, ta một đời phạm nhiều tội nghiệt, ở đây được nghe kinh sám hối nên tâm đã yên, con hà tất phải cứu ta ra?
Nói xong ông giãy giụa đòi đứng xuống. Trương Vô Kỵ biết nghĩa phụ võ công cao cường, nếu ông quyết không chịu đi, thì rất khó đối phó, bèn nói:
– Nghĩa phụ, hài nhi đắc tội vậy!
Năm ngón tay phải của chàng điểm nhanh mấy huyệt đạo ở đùi, ngực và bụng Tạ Tốn, để tạm thời ông không thể cử động.
Đúng lúc đó, chưởng của Thiếu Lâm tam tăng cùng đánh tới, kèm theo tiếng quát:
– Để người lại!
Trương Vô Kỵ bị chưởng lực của ba vị lão tăng bao trùm bốn phương tám hướng, tay họ chưa tới, chưởng phong đã dồn ép, đành đặt Tạ Tốn xuống đất, giơ chưởng chống đỡ, miệng gọi:
– Chỉ Nhược, mau mang nghĩa phụ ra ngoài!
Song chưởng của chàng xoay thành vòng tròn, vận lực đối kháng với tam tăng, để họ không ai rảnh tay ngăn cản Chu Chỉ Nhược. Đây là công phu cao nhất trong tâm pháp “Càn khôn đại na di”, chưởng lực du di bất định, hư hư thực thực, dính chặt lấy chưởng lực của ba vị lão tăng.
Chu Chỉ Nhược nhảy vào trong vòng, tới bên cạnh Tạ Tốn. Tạ Tốn quát:
– Hừ, con tiện nhân!…
Chu Chỉ Nhược giơ tay điểm á huyệt của Tạ Tốn, mắng lại:
– Họ Tạ kia, ta có thiện ý cứu các hạ, sao các hạ lại mở miệng chửi ta? Các hạ tội trạng tày trời, tính mạng ở trong tay ta, tưởng ta không giết nổi các hạ chăng?
Nói rồi giơ tay phải, năm ngón thành trảo, vồ xuống đỉnh đầu Tạ Tốn.
Trương Vô Kỵ thấy vậy hốt hoảng kêu lên:
– Chỉ Nhược, không được thế!
Lúc này chàng đang giở hết sức bình sinh đấu với ba vị cao tăng, tuy tam tăng không có ý giết chàng, nhưng vào khoảnh khắc sống chết tùy thuộc trong nháy mắt, không đả thương người thì mình sẽ chết, thực không cách gì dung tha cho nhau. Trương Vô Kỵ vừa mở miệng, chân khí tiết lậu, chưởng lực của ba vị cao tăng như bài sơn đảo hải tràn tới, đành phải cố sức chống đỡ. Đôi bên không còn cách nào khác, đều vận yếu quyết chữ “dính chặt”, chưa phân thắng bại thì không thể nào thoát thân.
Chu Chỉ Nhược bàn tay để trên không, chưa vồ xuống, nhìn Trương Vô Kỵ, cười khẩy, nói:
– Trương Vô Kỵ, lần trước ở thành Hào Châu, đang làm lễ cưới, ngươi bỏ ta mà đi, đâu có ngờ đến ngày hôm nay phải không?
Tâm trí Trương Vô Kỵ phải chia ba, phần lo cho tính mạng của Tạ Tốn, phần chán chường vì đúng lúc nguy cấp nàng lại đem chuyện cũ đòi thanh toán, huống hồ chưởng lực của ba vị cao tăng vẫn cuồn cuộn tràn tới, dù có tập trung tâm thần đối phó, cuối cùng cũng thua, đằng này tâm thần rối loạn, thật đúng là đại họa lâm đầu.
Trán chàng đổ mồ hôi hột, trong giây lát, trước ngực sau lưng quần áo ướt đầm.
Phạm Dao, Dương Tiêu, Vi Bức Vương, Thuyết Bất Đắc, Du Liên Châu, Ân Lê Đình cả bọn thấy tình hình như vậy đều cả kinh thất sắc. Ai cũng nghĩ, chỉ cốt cứu được Trương Vô Kỵ, còn mình dù phải mất mạng cũng không hối tiếc; song ai cũng biết mình công lực bất cập, đừng nói gì chuyện can hai bên ra, mà dù có tiến lên tập kích ba vị cao tăng, tam tăng cũng sẽ dễ dàng dồn ngoại lực sang người Trương Vô Kỵ khiến chàng phải chịu lực nhiều hơn, cứu không xong lại còn làm hại chàng.
Không Trí cao giọng nói:
– Ba vị sư thúc, Trương giáo chủ có ơn với bản phái, xin hãy nhẹ tay cho.
Nhưng cuộc tỷ thí của bốn người đã đến lúc không thể phân giải được nữa. Trương Vô Kỵ vốn không định bụng đả thương ba vị cao tăng, tam tăng cũng nhớ cái ơn chàng giải vây cho lần trước, cũng đang tìm cách dừng tay, có điều đôi bên đều ở vào thế đâm lao phải theo lao. Tam tăng không còn chú ý gì đến bên ngoài, thành thử không nghe thấy lời nói của Không Trí, mà dù có nghe thấy thì cũng đành chịu.
Vi Nhất Tiếu lắc mình một cái, như một làn khói mỏng bay vào giữa chỗ ba cây tùng đổ, toan tấn công Chu Chỉ Nhược, song thấy nàng ta để tay trên không, nếu lão xông lên, năm ngón tay nàng ta sẽ vồ xuống đầu Tạ Tốn ngay tức thời. Tạ Tốn mà chết, Trương Vô Kỵ sẽ quá đau đớn, sẽ lập tức bỏ mạng bởi chưởng lực của tam tăng. Vi Nhất Tiếu đứng cách Chu Chỉ Nhược chưa đầy một trượng, nhưng đành đứng trơ trơ ở đó, không dám xông tới tấn công. Trong giây lát, trên đỉnh núi ai nấy cứ y như tượng đá, không cử động, không nói năng.
Đột nhiên Chu Điên cười khà khà, hùng dũng tiến lên.
Dương Tiêu giật mình, quát to:
– Chu huynh, không được lỗ mãng.
Chu Điên bất chấp, cứ bước tới trước mặt ba vị lão tăng Thiếu Lâm, hớn hở nói:
– Ba vị đại hòa thượng, có xơi thịt chó không nào?
Lão thò tay vào bọc lôi ra một cái đùi chó đã luộc chín, nhứ nhứ trước mặt Độ Ách. Hai ngày nay chùa Thiếu Lâm đãi ăn chỉ toàn món chay, Chu Điên thì mê rượu thịt, mấy bữa liền toàn rau dưa đậu phụ, làm sao chịu nổi? Tối qua lão đi bắt trộm được một con chó, làm thịt chén no, còn dành lại một đùi, bây giờ thấy tình thế cấp bách liền đem ra quấy nhiễu tâm thần của Thiếu Lâm tam tăng. Bọn Dương Tiêu thấy vậy thì cả mừng, nghĩ thầm: “Chu Điên bình thời hành sự điên điên khùng khùng, nhưng bây giờ giở ngón kia ra rất hay”. Mọi người biết rằng, khi tỷ thí nội lực, điều cốt tử là tập trung tinh thần ý chí; Chu Điên phá rối như thế, chỉ cần một lão tăng nổi giận, tâm thần hơi phân tán, là Trương Vô Kỵ có thể chiến thắng.
Ba vị lão tăng nhìn mà không thấy, chẳng buồn để ý tới Chu Điên. Chu Điên đưa đùi thịt chó lên miệng, cắn một miếng, nhai tóp tép, khen:
– Thơm quá! Ngon quá! Ba vị đại hòa thượng ăn thử một miếng coi nào!
Thấy tam tăng thản nhiên như không, Chu Điên liền giơ cái đùi thịt chó lại bên miệng Độ Ách, toan giúi vào mồm lão ta. Các hòa thượng Thiếu Lâm đứng ngoài cùng quát lên:
– Gã điên kia, mau xéo đi!
Chu Điên gí cái đùi thịt chó vào môi Độ Ách, đột nhiên cánh tay chấn động, nửa người tê dại, “bạch” một tiếng, cái đùi chó rơi xuống đất. Thì ra lúc này Độ Ách nội kình lan tỏa toàn thân, đến mức “ruồi muỗi không đậu được”, ngoại lực chạm vào bất cứ chỗ nào trên cơ thể cũng sẽ bị dội ngược ra.
Chu Điên kêu lên:
– Ối, ối! Tệ quá, tệ quá! Lão không xơi thịt chó thì thôi, hà tất phải hất cái đùi chó ngon lành của ta xuống đất, làm bẩn hết thế này? Lão phải đền cho ta! Ta bắt đền đấy!
Chu Điên hoa chân múa tay, kêu la om sòm, nào ngờ ba vị cao tăng tu luyện thâm sâu, hoàn toàn không bị ma chướng bên ngoài quấy rối. Chu Điên liền rút ra một chiếc đoản đao, nói:
– Lão mà không chịu xơi món thịt chó của ta, ta sẽ thí mạng cho mà xem!
Nói rồi đưa đao lên rạch một đường ngay trên má mình, lập tức máu chảy ròng ròng.
Quần hùng kinh ngạc, Chu Điên lại đưa đao lên rạch một đường nữa ngay trên má, khiến máu me nhoe nhoét trên mặt, trông đáng sợ. Hình ảnh ấy bất cứ ai nhìn thấy cũng kinh hãi, song ba vị lão tăng vẫn chuyên chú, mắt, tai, mũi, họ đều không sử dụng, chẳng những họ không nhìn thấy cảnh Chu Điên tự hủy hoại diện mạo, mà ngay cả sự hiện diện của Chu Điên trước mắt họ, họ cũng không biết tới. Chu Điên lại kêu toáng lên:
– Ông sư gớm nhỉ, ông mà không đền cái đùi thịt chó, thì ta sẽ chết trước mặt ông cho coi!
Nói xong giơ đoản đao lên toan đâm vào tim mình. Lão thấy giáo chủ nguy đến tính mạng, bèn quyết ý xả mệnh tự sát để quấy nhiễu tinh thần ba vị cao tăng.
Đột nhiên một cái bóng vàng nhoáng lên, một người phi thân tới, đoạt đoản đao khỏi tay Chu Điên, tiếp đó nghiêng người lướt đi, năm ngón tay vồ xuống đỉnh đầu Chu Chỉ Nhược, thủ pháp giống hệt như cách mà Tống Thanh Thư đã sử dụng để giết chết hai vị trưởng lão Cái Bang.
Năm ngón tay của Chu Chỉ Nhược tuy chỉ cách đỉnh đầu Tạ Tốn chưa đầy một thước, song thân pháp của người kia nhanh quá, Chu Chỉ Nhược đành thu tay về để đối phó.
Trương Vô Kỵ nội kình chẳng thua kém gì ba vị cao tăng liên thủ, song công phu khô thiền “ta, vật đều quên” thì kém xa, chưa đạt mức vào mắt mà không thấy, vào tai mà không nghe thấy, khi thấy Chu Chỉ Nhược xuất thủ uy hiếp Tạ Tốn, tâm thần chàng liền xáo động. Chu Điên lên quấy rối, đến lúc giơ đao toan tự sát, chàng đều nhìn thấy, càng thêm nóng ruột. Chính lúc nội tức trào lên, chỉ giây lát sẽ hộc máu mà chết, thì bỗng thấy hoàng y mỹ nữ nhảy vào đoạt đao khỏi tay Chu Điên, xuất chiêu tấn công Chu Chỉ Nhược, giải cứu Tạ Tốn khỏi nguy nan.
Trương Vô Kỵ cả mừng, nội kình lập tức trỗi dậy, hóa giải kình lực của ba vị cao tăng, trong nháy mắt đã tạo thành cục diện cân bằng. Ba vị cao tăng tuy không nhìn, không nghe sự vật ngoại giới, nhưng nội kình đôi bên tăng giảm thế nào, đều cảm nhận rất tinh tế, đột nhiên phát hiện nội kình của đối phương đại tăng, song đối phương không chuyển từ thế thủ sang thế công, chính là cơ hội tốt nhất để giải trừ nguy nan cho cả đôi bên; ba vị cao tăng tâm ý tương thông, lập tức thu kình lại một chút. Trương Vô Kỵ cũng thu bớt một phần nội kình, ba vị cao tăng lại giảm một phần. Cứ thu dần mỗi bên một phần như thế, trong giây lát kình lực đôi bên đã thu hết về. Bốn người cùng cười ha hả, nhất tề đứng dậy. Trương Vô Kỵ vái một cái thật dài. Độ Kiếp, Độ Nạn, Độ Ách ba vị cao tăng cũng chắp tay đáp lễ. Cả bốn người cùng nói:
– Bội phục, bội phục!
Trương Vô Kỵ quay đầu nhìn, thấy hoàng y mỹ nữ đang cùng Chu Chỉ Nhược giao đấu dữ dội. Hoàng y mỹ nữ tay không, Chu Chỉ Nhược tay phải dùng roi, tay trái đoản đao, nhưng xem ra lại núng thế. Võ công của hoàng y mỹ nữ tựa hồ cùng một lộ với Chu Chỉ Nhược, phiêu diêu linh động, vô cùng biến ảo, song mọi động tác tay chân của nàng ta đều là chính chứ không tà, nếu bảo hình dáng Chu Chỉ Nhược như quỷ mị, thì phong thái của hoàng y mỹ nữ chẳng khác gì thần tiên. Trương Vô Kỵ chỉ nhìn qua, cũng biết hoàng y mỹ nữ chỉ có thắng chứ không thua, nghĩa phụ không còn gặp nguy hiểm, xem chừng nàng ta ra chiêu là có ý thăm dò, muốn biết võ công của Chu Chỉ Nhược đến mức nào, chứ muốn đánh thắng, thì đã đánh ngã Chu Chỉ Nhược từ lâu rồi.
Độ Ách nói:
– Thiện tai, thiện tai! Trương giáo chủ, các hạ tuy không thắng được ba huynh đệ ta, song ba huynh đệ ta cũng không thắng nổi các hạ. Tạ cư sĩ, xin ông cứ tự nhiên!
Nói rồi bước lại giải huyệt cho Tạ Tốn, nói:
– Tạ cư sĩ, ném đao đi, lập tức thành Phật. Cửa Phật luôn luôn mở rộng, thế gian này không ai là không độ được. Ta với ông ở trên núi với nhau nhiều ngày, cái đó cũng là cơ duyên đấy.
Tạ Tốn đứng dậy, nói:
– Ngã Phật từ bi, đa tạ ba vị đại sư chỉ cho con đường sáng, Tạ Tốn này cảm kích vô cùng.
Bỗng nghe hoàng y mỹ nữ quát khẽ một tiếng, tay trái đã đoạt lấy trường tiên của Chu Chỉ Nhược, tiếp đó thúc cùi chỏ vào huyệt đạo ở ngực nàng, năm ngón tay phải xòe ra đặt hờ trên đỉnh đầu nàng, nói:
– Ngươi có muốn nếm mùi “Cửu âm bạch cốt trảo” hay chăng?
Chu Chỉ Nhược không cử động được, nhắm mắt chờ chết.
Tạ Tốn tuy mù, không nhìn thấy gì, song vẫn biết rõ toàn bộ tình cảnh xung quanh, liền vái một cái, nói:
– Cô nương đã cứu mạng hai cha con ta, đại đức thật sâu nặng. Còn Chu cô nương nếu không hối cải, cứ tiếp tục làm điều bất nghĩa, cuối cùng chắc sẽ bị quả báo. Cúi mong cô nương hôm nay hãy tạm tha cho cô ta.
Hoàng y mỹ nữ nói:
– Kim Mao Sư Vương hối cải quả là nhanh thật.
Thân hình rung nhẹ một cái, nàng đã lui ra ngoài.
Trương Vô Kỵ cầm tay Tạ Tốn, đang định sánh vai bước ra, Tạ Tốn bỗng nói:
– Hãy khoan!
Ông chỉ về phía một lão già đứng trong đám tăng chúng Thiếu Lâm, nói:
– Thành Côn, ngươi mau ra đây, trước mặt anh hùng thiên hạ hãy nói rõ toàn bộ tiền nhân hậu quả xem nào!
Quần hùng kinh ngạc, chỉ thấy đó là một lão tăng lưng còng, diện mạo ti tiện, chẳng giống Thành Côn chút nào. Trương Vô Kỵ đang định nói: “Người kia không phải là Thành Côn!” Chỉ nghe Tạ Tốn lại nói:
– Thành Côn, ngươi có thể thay đổi diện mạo, chứ thanh âm thì không. Ngươi chỉ cần đằng hắng một tiếng, ta đã biết ngay là ai.
Lão tăng kia cười nham hiểm, nói:
– Ai đi nghe lời lẽ xằng bậy của một thằng mù kia chứ!
Lão ta vừa mở miệng, Trương Vô Kỵ nhận ra liền. Lần ở trên đỉnh Quang Minh, chàng nằm trong túi vải, từng nghe Thành Côn nói một thôi một hồi, giọng hắn thế nào, chàng nhớ quá rõ. Lúc này Thành Côn cố ý đổi giọng, diện mạo cũng cải trang cực kỳ khôn khéo, song thanh âm rốt cuộc rất khó che giấu. Trương Vô Kỵ liền nhảy tới chặn đường lui của lão tăng kia, nói:
– Viên Chân đại sư, Thành Côn tiền bối, đại trượng phu quang minh lỗi lạc, sao không cho mọi người thấy bản lai diện mục của mình?
Thành Côn cải trang náu mình trong tăng chúng Thiếu Lâm, thủy chung không lộ chút sơ hở nào, mãi đến lúc hoàng y mỹ nữ chế ngự Chu Chỉ Nhược, thật bất ngờ đối với hắn, hắn lại đằng hắng, ho khẽ vài tiếng. Tạ Tốn sau khi bị mù thì tai trở nên cực thính, tiếng đằng hắng của kẻ thù khắc cốt ghi xương không khác gì tiếng sấm giữa ban ngày, nên ông nhận ra hắn ngay.
Thành Côn thấy sự việc đã bại lộ, bèn thẳng lưng lên, quát to:
– Tăng chúng Thiếu Lâm nghe đây: Ma giáo quấy phá đất Phật, coi thường bổn phái, tăng chúng hãy nhất tề ra tay giết sạch chúng đi, không cần nói năng nhiều lời.
Bọn đồng đảng tay chân của hắn nhao nhao hưởng ứng, rút binh khí tiến lên toan động thủ.
Không Trí chỉ vì sư huynh Không Văn đang bị bọn phản đồ trong chùa khống chế, phải nín nhịn đã lâu, lúc này nghe Viên Chân ra lệnh đánh nhau với Minh giáo, nếu đôi bên hỗn chiến, tăng chúng Thiếu Lâm tự không biết sẽ bị tổn hại như thế nào. Cân nhắc nặng nhẹ, thì tính mạng của tăng chúng là chuyện lớn, bèn quát to:
– Không Văn phương trượng đã rơi vào tay tên phản đồ Viên Chân này, các đệ tử hãy bắt giữ hắn trước, rồi cứu phương trượng sau.
Phút chốc trên đỉnh núi náo loạn cả lên.
Trương Vô Kỵ thấy Chu Chỉ Nhược nằm gục dưới đất, vẻ mặt ủ rũ, trong lòng không nỡ, liền bước tới giải huyệt cho nàng, đỡ nàng đứng dậy. Chu Chỉ Nhược hất tay chàng ra, đi về với đám đệ tử phái Nga Mi.
Chỉ nghe Tạ Tốn dõng dạc nói:
– Việc hôm nay hoàn toàn do Thành Côn và tại hạ gây nên, bao nhiêu ân oán trói buộc, xin hãy để hai người chúng tôi kết liễu lấy. Sư phụ, toàn bộ võ công của ta đều do sư phụ truyền thụ. Thành Côn, cả gia đình ta bị ngươi giết hại. Đại ân cũng như đại cừu, hôm nay hai ta phải thanh toán cho xong.
Thành Côn thấy Không Trí không ngại gì nữa, đã lên tiếng ra lệnh, dẫu gì thì trong số tăng chúng, chính phái vẫn đông hơn hẳn, đồng đảng của hắn chỉ chiếm một phần nhỏ, xem chừng cái mộng lên làm phương trượng chưởng môn phái Thiếu Lâm đã tan thành mây khói, nghĩ bụng: “Tạ Tốn gây vô số tội ác; nếu mình hạ được hắn, thì mọi tội trạng cứ trút xuống đầu hắn; võ công của hắn đều do mình truyền thụ, hắn lại mù cả hai mắt, chẳng lẽ mình không đối phó nổi hay sao?” Bèn nói:
– Tạ Tốn, bao nhiêu anh hùng hảo hán trên giang hồ đã bỏ mạng dưới tay mi, hôm nay mi còn chiêu dẫn hàng loạt tên ma đầu Ma giáo đến quấy phá đất lành của nhà Phật, đối địch với anh hùng thiên hạ. Ta hối hận ngày trước đã truyền võ công cho mi, bây giờ ta phải thanh lý môn hộ, trừng trị tên nghịch đồ khi sư diệt tổ mới xong.
Nói đoạn hắn nghênh ngang bước đến trước mặt Tạ Tốn.
Tạ Tốn cao giọng nói:
– Quý vị anh hùng bốn phương nghe đây, võ công của Tạ Tốn này, vốn là do vị sư phụ Thành Côn truyền thụ; nhưng y đã bức gian vợ ta không được, lại giết hại cha mẹ vợ con ta. Thầy trò tuy thân, cũng không thân bằng cha sinh mẹ đẻ của mình. Tạ Tốn tìm Thành Côn để báo thù, như thế có đáng hay không đáng?
Quần hùng tứ phía hò reo vang động:
– Đáng lắm! Đáng trả thù lắm!
Thành Côn không nói một lời, “vù” một cái, đánh một chưởng vào đầu Tạ Tốn. Tạ Tốn nghiêng đầu, giữ chỗ yếu hại trên đỉnh đầu, nghe “bộp” một tiếng, chưởng đó trúng vai ông. Tạ Tốn không trả đòn, nói:
– Hừ, Thành Côn, năm xưa ngươi truyền cho ta chiêu “Trường hồng kinh thiên”, có dặn là khi đánh trúng địch thủ, thì phải vận “Hỗn nguyên nhất khí công” để đả thương kẻ địch, vì sao ngươi lại không vận công? Hay là tuổi đã già, không còn công để vận nữa?
Nguyên chiêu đầu tiên của Thành Côn chỉ là hư chiêu, không ngờ đối phương lại chẳng né tránh, đánh là trúng ngay. Nhưng chiêu này hắn chẳng dồn chút lực nào, nên Tạ Tốn không hề bị thương.
Thành Côn tay trái đánh nhứ, tay phải tung ra một chưởng nữa. Tạ Tốn nghiêng người tránh, vẫn chưa trả đòn. Thành Côn hai chân liên tiếp đá tới, “bộp bộp” hai tiếng, hông Tạ Tốn trúng luôn hai cước. Hai cú đá này kình lực cực mạnh, Tạ Tốn tuy thân thể cao lớn, cũng chịu không nổi, ộc ra một ngụm máu lớn.
Trương Vô Kỵ vội kêu lên:
– Nghĩa phụ, trả đòn đi! Sao cha chỉ chịu đòn mà không đánh trả?
Tạ Tốn loạng choạng mấy bước, gượng cười, nói:
– Y là sư phụ ta, có chịu một chưởng hai cước cũng đáng.
Nói xong ông hú lên một tiếng, múa chưởng đánh ra.
Thành Côn thầm tiếc rẻ: “Hoài của, hoài của! Mình cứ ngỡ hắn với mình thù sâu như biển, vừa gặp là đánh trí mạng ngay, nếu biết hắn nhường mình ba chiêu, thì đã hạ sát thủ ngay từ đầu, đâu bỏ lỡ cơ hội thế này?” Thấy chưởng thế của Tạ Tốn rất lợi hại, bèn tay trái đưa xéo ra, gạt chưởng lực của đối phương, thân hình xoay nửa vòng, đã luồn ra sau lưng Tạ Tốn, khinh thường Tạ Tốn bị mù không nhìn thấy, lẳng lặng vô thanh vô tức đánh vào lưng ông một chưởng. Nhưng Tạ Tốn tựa hồ có mắt, giơ chân đá ngược ra sau. Thành Côn nhảy vọt lên cao, từ trên không bổ xuống như chim ưng. Thành Côn đã ở tuổi cổ lai hi, song thân pháp vẫn lẹ làng như người còn trẻ. Tạ Tốn song chưởng chống đỡ, thế đánh từ trên xuống của Thành Côn bị chặn lại, hắn bật trở lên, nhẹ nhàng xoay một vòng trên không trung, lại đánh xuống.
Hai người vừa ra tay, lấy nhanh đánh nhanh, chốc lát đã qua lại bảy, tám chục chiêu. Tạ Tốn tuy không nhìn thấy gì, nhưng võ công của ông toàn do Thành Côn truyền thụ, quyền cước, chiêu số của Thành Côn thế nào, ông đã thuộc lòng. Sau mấy chục năm, việc tu luyện nội công của hai người đều đại tiến triển, riêng chiêu thuật quyền cước thì vẫn là bài bản cũ; Tạ Tốn dẫu không nhìn thấy, cũng biết chưởng này của ông đối phương hóa giải thế nào, tiếp sau chiêu này sẽ biến hóa đại để ra sao. Đã thế, ông lại trẻ hơn Thành Côn mười mấy tuổi, khí huyết còn mạnh hơn, khí hậu khắc nghiệt ở Băng Hỏa đảo giúp ông tu luyện nội lực rất thuận lợi, nhờ thế hơn một trăm chiêu vẫn không bị lép vế chút nào.
Tạ Tốn căm hận Thành Côn khôn tả, ông canh cánh đợi chờ mấy chục năm rồi, bây giờ mới có dịp giao đấu. Trương Vô Kỵ cứ tưởng nghĩa phụ sẽ đánh thí mạng ngay, sẵn sàng cả hai cùng chết; nào ngờ từng chiêu từng thức đều trầm ổn lạ thường, bảo vệ môn hộ cực kỳ nghiêm mật. Thoạt tiên Trương Vô Kỵ lấy làm lạ, nhưng sau khi xem mấy chục chiêu, liền hiểu ra, võ công của Thành Côn chẳng thua gì ba vị cao tăng Độ Ách, Độ Nạn, Độ Kiếp; nếu Tạ Tốn ngay từ đầu nóng máu hung hăng, chỉ e không chịu nổi ba trăm chiêu. Hiển nhiên mối thù trong lòng Tạ Tốn càng sâu, thì ông ra tay càng thận trọng, lo rằng nếu mình bại trận, thì không trả được món nợ máu cho cha mẹ vợ con.
Thấm thoắt đôi bên đã qua lại hơn hai trăm chiêu. Tạ Tốn quát lên một tiếng, đánh ra một quyền. Quan Năng của phái Không Động thốt lên:
– Thất thương quyền!
Chỉ thấy Tạ Tốn tả hữu song quyền liên tiếp đánh ra, vô cùng uy mãnh, chư lão phái Không Động ai nấy kinh hãi, bất giác hổ thẹn thấy mình không bì kịp. Thành Côn tránh liền ba quyền, chờ lúc quyền thứ tư đánh tới, hữu chưởng bèn đẩy ngang ra, “bộp” một tiếng, quyền chưởng đụng nhau, Tạ Tốn râu tóc dựng đứng, uy phong lẫm liệt đứng bất động; còn Thành Côn phải lật đật lùi ba bước.
Quần hùng đứng xem, nhiều người lớn tiếng reo hò. Diễn biến và nguyên do mối thù hằn của Tạ Tốn với Thành Côn thế nào, cả giang hồ đều biết. Người ta tuy giận Tạ Tốn ra tay quá tàn ác, lạm sát người vô tội, song cũng cảm thông với tình cảnh bi thảm cùng cực mà ông phải gánh chịu; trong khi Thành Côn quá ư gian hiểm, trừ thân nhân và bằng hữu của những người bị Tạ Tốn sát hại, còn quá nửa đều mong Tạ Tốn đắc thắng.
Tạ Tốn tiến lên ba bước, lại đánh ra vù vù hai quyền, Thành Côn trả lại hai chưởng, lại phải lùi ba bước. Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: “Hỏng rồi! Thành Côn sử dụng ‘Thiếu Lâm Cửu dương công’, là công phu hắn học được sau khi bái Không Kiến thần tăng làm thầy, mà nghĩa phụ thì chưa được truyền thụ”.
Tạ Tốn khi luyện “Thất thương quyền”, vì nôn nóng mà năm xưa từng bị nội thương; môn này vốn có khuyết điểm, Thành Côn thừa biết chỗ cốt yếu đó, hắn cố ý tỏ ra kém thế, đem “Thiếu Lâm Cửu dương công” ra đối phó. Mỗi quyền Tạ Tốn đánh ra, Thành Côn chịu bảy thành kình lực, dùng “Cửu dương công” hóa giải; còn ba thành thì phản kích trở lại. Tạ Tốn vù vù đánh ra mười hai quyền, Thành Côn liên tiếp thoái lui mấy chục bước, nhìn bề ngoài tưởng là Tạ Tốn đại chiếm thượng phong, kỳ thực nội thương càng lúc càng nặng.
Trương Vô Kỵ ruột như lửa đốt, đây là cơ hội phục thù mà nghĩa phụ ngày đêm mong đợi suốt đời, chàng không có cách gì xen vào trợ giúp; nhưng cứ đà này đấu thêm vài chục chiêu, Tạ Tốn sẽ hộc máu mà chết.
Không Trí đột nhiên lạnh lùng nói:
– Viên Chân, sư huynh ta năm xưa truyền cho ngươi “Thiếu Lâm Cửu dương công”, để bây giờ ngươi đem ra hại người ư?
Thành Côn cười khẩy, đáp:
– Ân sư ta bỏ mạng vì “Thất thương quyền”, hôm nay ta báo thù rửa hận cho lão nhân gia.
Triệu Mẫn bỗng nói to:
– “Cửu dương công” của Không Kiến thần tăng cao siêu hơn hẳn ngươi, sao Không Kiến thần tăng không chống đỡ nổi “Thất thương quyền”? Không Kiến thần tăng bị chết chính vì sự gian tặc của ngươi. Ngươi đánh lừa lão nhân gia đứng ra hóa giải oan nghiệt, để lão nhân gia chịu đòn chứ không đánh trả. Ô kìa, hãy nhìn xem ai đang đứng sau lưng ngươi? Một người mặt đầy máu, đang hầm hầm chỉ vào lưng ngươi, chẳng phải Không Kiến thần tăng thì còn ai?
Thành Côn thừa biết là lời dọa suông, nhưng sau khi hắn phạm tội, không khỏi bị lương tâm cắn rứt, bất giác cũng thấy rờn rợn. Đúng lúc ấy Tạ Tốn lại đánh ra một quyền, Thành Côn giơ chưởng đỡ, thân hình hơi lảo đảo, nhưng không lùi về sau, vì đã phân tâm nên chân khí tán loạn. Hắn bị trúng một quyền vào ngực, khí huyết nhộn nhạo, vội thi triển khinh công chạy quanh Tạ Tốn một hồi, mới lấy lại sự quân bình.
Triệu Mẫn lại gọi:
– Không Kiến thần tăng, đại sư hãy bám sát hắn, đúng rồi, cứ như thế, đại sư hãy phả hơi lạnh vào gáy hắn. Đại sư chết bởi tay đồ đệ, hắn cũng sẽ chết bởi tay đồ đệ; như thế gọi là ông trời có mắt, quả báo nhãn tiền.
Thành Côn bị nàng dọa cho nổi da gà, thần hồn nát thần tính, cảm thấy hình như có từng đợt gió lạnh thổi tới mình, trong lúc hoảng loạn quên mất rằng trên đỉnh núi cao thế này, gió núi thổi quanh năm không ngừng, hơn nữa hai người đang nhảy nhót giao đấu, sau lưng có gió là chuyện đương nhiên.
Triệu Mẫn thấy hắn hơi chần chừ, lại gọi:
– Ối chao, Thành Côn, ngươi thử ngoảnh lại xem ai ở sau lưng kìa? Ngươi không dám ngoảnh lại hả? Thế thì hãy ngó xuống nhìn mấy bóng đen dưới đất, vì sao hai người giao đấu mà lại có những ba cái bóng?
Thành Côn bất giác nhìn xuống đất, quả nhiên giữa hai bóng người có một vệt thẫm đen, trong bụng hơi hoảng, quyền của Tạ Tốn đã đánh tới. Thành Côn không kịp hóa giải, cũng tống một quyền ra chọi lại, “bộp” một tiếng, hai người lấy chân lực đấu nhau, đều lảo đảo lùi lại một bước. Thành Côn lúc đó mới nhìn kỹ, cái bóng sẫm kia chẳng qua là bóng cây tùng gãy mà thôi.
Thành Côn đánh lâu chưa thắng, nóng ruột nghĩ thầm: “Hắn là đệ tử, hai mắt lại mù; mình lại không hạ nổi hắn, những kẻ tâm phúc đứng xem bên ngoài sẽ không phục mình nữa. “Huyễn Âm Chỉ” thần công của mình lần trước bị tên tiểu tặc ác ôn Trương Vô Kỵ dùng nội lực thuần dương phá mất rồi, nếu không hôm nay đâu phải đấu dây dưa mãi với Tạ Tốn thế này? Tình hình hiện tại rất nguy hiểm, chỉ có cách duy nhất là nhanh chóng chế ngự tên nghịch đồ này mới khống chế được Minh giáo, rồi thừa cơ kêu gọi các kẻ thù của Tạ Tốn cùng xông lên; như vậy chí ít mình cũng có thể thoát thân”. Nghĩ vậy, hắn liền len lén di chuyển hai bước về phía một cây tùng gãy.
Tạ Tốn đánh ra liên tiếp ba quyền, tiến lên hai bước; Thành Côn lùi thêm hai bước nữa, định dụ Tạ Tốn tới chỗ cây tùng gãy đổ. Tạ Tốn đang đuổi theo, thì Trương Vô Kỵ kêu lên:
– Nghĩa phụ, cẩn thận dưới chân!
Tạ Tốn giật mình, lạng sang một bên, do vậy chậm lại, Thành Côn đã tìm được chỗ sơ hở, một chưởng vô thanh vô tức đánh ra, tới ngực Tạ Tốn thì dồn sức vào đó, khiến Tạ Tốn ngã ngửa ra sau.
Thành Côn giơ chân lên đạp mạnh một cái xuống đầu Tạ Tốn. Tạ Tốn vội lăn một vòng, đứng bật dậy, khóe miệng máu tươi chảy thành dòng. Thành Côn đứng im, tay phải chậm rãi giơ ra. Tạ Tốn đấu với hắn toàn là nhờ chiêu số quen thuộc, cộng với nghe tiếng gió mà nhận định tình hình, bây giờ Thành Côn ra chiêu không theo chưởng pháp thông thường nữa, hắn nhẹ nhàng thong thả đưa tới trước mặt Tạ Tốn rồi đột ngột đánh trúng vai địch thủ. Tạ Tốn loạng choạng mấy cái, cố đứng vững lại.
Quần hùng đa số không phục, nhao nhao la ó:
– Mắt sáng đấu với người mù, sao lại dùng thủ đoạn hèn hạ như thế?
Thành Côn bất chấp, lại chậm rãi đánh ra một chưởng. Tạ Tốn chăm chú lắng nghe, vừa cảm thấy chưởng của địch ập tới, thì lập tức đưa tay gạt ra.
Trương Vô Kỵ thấy mái tóc vàng của nghĩa phụ bay tung, khóe miệng ri rỉ máu tươi, trong lòng vừa phẫn nộ vừa bối rối, biết nếu cứ đà này đấu thêm, nghĩa phụ hẳn sẽ mất mạng dưới tay Thành Côn; nhưng nếu chàng nhảy ra trợ giúp, dù có hạ sát được Thành Côn, thì nghĩa phụ cũng sẽ ôm hận suốt đời. Chàng nắm lấy tay Triệu Mẫn, hỏi dồn:
– Mau nghĩ kế hộ ta đi!
Triệu Mẫn nói:
– Chàng lén bắn ám khí, làm mù hai mắt hắn đi có được chăng?
Trương Vô Kỵ lắc đầu:
– Nghĩa phụ thà chết, không chịu cho ta làm thế đâu.
Lại thấy Thành Côn chậm rãi đánh ra một chưởng. Triệu Mẫn kêu lên:
– Trên ngực kìa!
Tạ Tốn liền đấm thẳng một quyền ra trước ngực, chưởng của Thành Côn chưa đến vội thu về. Hắn đánh liền mấy chưởng thật chậm, đều bị Triệu Mẫn báo động cho Tạ Tốn, thấy cách đó không ổn, bèn tương kế tựu kế, đánh một chưởng thật chậm vào vai bên phải của Tạ Tốn. Triệu Mẫn kêu:
– Vai phải!
Trương Vô Kỵ thấy vai trái của Thành Côn hơi động, chàng hiểu ngay ý đồ của hắn, vội kêu to:
– Sau lưng!
Tạ Tốn nghe tiếng nhắc của Triệu Mẫn, bèn giơ tay chống đỡ đòn đánh vào vai bên phải, đâu biết đó chỉ là hư chiêu, Thành Côn thừa cơ Tạ Tốn vừa giơ tay chống đỡ hữu chưởng, thì tay trái liền giáng một chưởng thật nặng vào sau lưng Tạ Tốn. Trương Vô Kỵ tuy kịp thời nhắc ông, nhưng đòn này của Thành Côn cực nhanh, Tạ Tốn nghe tiếng kêu của Trương Vô Kỵ thì không kịp biến chiêu nữa rồi.
Mọi người kinh hãi kêu ồ lên, thấy Tạ Tốn phun ra một ngụm máu to, trúng ngay mặt Thành Côn. Thành Côn kêu “Ối”, giơ tay lên lau mặt; còn Tạ Tốn thì ngã lăn ra đất. Bỗng nghe cả hai người cùng thét lên, rồi không thấy họ đâu nữa.
Nguyên Tạ Tốn ngã xuống, lập tức ôm lấy hai chân Thành Côn, gắng sức xô hắn ngã, thế là cả hai cùng rơi xuống địa lao.
Trong địa lao nước ngập đến cổ, tối như hũ nút, Thành Côn tức thời chẳng khác gì người mù. Hắn vội nhảy lùi về phía sau, cốt càng xa đối thủ càng tốt. Nhưng địa lao quá chật hẹp, nhảy lùi thì lưng đụng vào vách đá, vừa nhảy lên thì bụng dưới trúng một chiêu Thất thương quyền, đau thấu tâm can. Thành Côn biết quyền này khiến hắn bị thương không nhẹ, nếu còn nhảy lên, sẽ tiếp tục bị đòn quyền, vội biến chiêu, dùng “Tiểu cầm nã thủ” để đối phó. “Tiểu cầm nã thủ” vốn dùng để đánh gần trong bóng tối, phải ứng biến cực nhanh, mắt tuy không nhìn thấy, song ngón tay, bàn tay, cánh tay, khuỷu tay, bất cứ chỗ nào đụng phải cơ thể kẻ địch, đều lập tức nắm, bắt, chộp, bẻ, vặn, thúc, cấu ngay. Tạ Tốn quát to một tiếng, cũng dùng “Tiểu cầm nã thủ” đối phó.
Mọi người chỉ nghe thấy dưới địa lao tiếng quát tháo, tiếng quyền chưởng đánh vào cơ thể, nước bắn văng tung tóe, hẳn là hai người đang dốc sức tấn công nhau. Trương Vô Kỵ trống ngực đập thình thịch, nghĩ bụng lúc này nghĩa phụ có gặp hung hiểm, chàng cũng không cứu nổi; chàng không thể nhảy xuống địa lao trợ giúp, nên lo toát cả mồ hôi.
Tạ Tốn bị mù đã hơn hai mươi năm, công phu nghe âm thanh để định hình đã luyện thành thạo, lấy tai thay mắt đã quá quen rồi. Thành Côn ở trong địa lao ngập nước, đánh đấm loạn xạ chỉ là hú họa cầu may, ưu thế đôi bên bây giờ đã thay đổi hẳn. Thành Côn thầm kinh hãi, không biết tính sao, đành hai tay sử dụng “Tiểu cầm nã thủ”, thi triển liền liền như gió táp mưa sa hết độc chiêu này đến độc chiêu khác, bụng nghĩ: “Không để cho hắn đánh trúng một đòn nào nữa, phải tìm cách ra khỏi địa lao mới được”.
Quần hùng nhích dần từng bước tới gần miệng hầm, lòng bàn tay nhơm nhớp mồ hôi lạnh, nghe tiếng quát tháo của Thành Côn và Tạ Tốn từ địa lao không ngớt vọng lên, xem chừng chưa phân thắng bại. Bỗng nghe có tiếng rú thảm thiết của Thành Côn, kế đó hai bóng người từ dưới địa lao phóng vọt lên.
Dưới ánh nắng, chỉ thấy hai mắt của cả Thành Côn lẫn Tạ Tốn đều chảy máu, hai người đứng đối diện nhau bất động.
Nguyên trong lúc ác đấu, hai tay của Tạ Tốn đột nhiên tách ra để chém vào hai mạng sườn Thành Côn. Thành Côn cả mừng, kêu:
– Trúng này!
Hai ngón trỏ và giữa của tay phải tức thời chọc nhanh vào hai mắt Tạ Tốn. Chiêu “Song long sang châu” này vốn dĩ tầm thường, nhưng khi dùng xen vào với “Tiểu cầm nã thủ” thì lại có uy lực cực lớn, đối phương thể nào cũng phải quay đầu né tránh; tay trái ta sẽ lập tức quét qua, thể nào cũng sẽ trúng huyệt Thái Dương của địch. Ngờ đâu Tạ Tốn chẳng tránh né gì hết, cũng quát to:
– Trúng này!
Cũng sử dụng đúng chiêu “Song long sang châu”, hai ngón trỏ và giữa tức thời chọc nhanh vào hai mắt Thành Côn.
Hai ngón tay Thành Côn chọc trúng mắt Tạ Tốn, trong óc một ý nghĩ lóe lên như tia chớp: “Chết rồi!” thì mắt đã đau nhói vì hai ngón tay Tạ Tốn chọc vào. Hai người bị thương y như nhau, nhưng Tạ Tốn đã mù sẵn, chỉ là tổn thương da thịt, còn Thành Côn thì từ nay biến thành kẻ mù.
Tạ Tốn cười khẩy, hỏi:
– Làm thằng mù thích chứ?
“Vù” một tiếng, đấm luôn ra một quyền. Thành Côn không còn nhìn thấy gì, chẳng biết đường né tránh, bị trúng ngay chiêu “Thất thương quyền” ấy vào giữa ngực.
Tay trái của Tạ Tốn lại tung tiếp một quyền, Thành Côn lảo đảo lùi mấy bước, vấp cây tùng đổ, ngã xuống, máu mồm trào ra như suối. Độ Ách lên tiếng:
– Thiện tai, thiện tai!
Tạ Tốn ngây ra, quyền thứ ba đánh ra chợt ngừng lại giữa chừng, nói:
– Ta vốn định đánh ngươi đủ mười ba đòn “Thất thương quyền”. Nhưng bây giờ ngươi đã mất hết võ công, lại mù cả hai mắt, từ nay trở thành tàn phế, không còn làm ác trên thế gian được nữa. Mười một quyền còn lại, khỏi cần đánh tiếp.
Bọn Trương Vô Kỵ thấy Tạ Tốn toàn thắng, đều hoan hô vang dậy. Tạ Tốn đột nhiên ngồi xuống đất, xương cốt toàn thân kêu lách cách. Trương Vô Kỵ cả kinh, biết nghĩa phụ vận ngược nội tức để tự hủy bỏ toàn bộ võ công, vội kêu lên:
– Nghĩa phụ, đâu cần làm thế!
Chàng vọt tới, toan lấy tay áp vào lưng ông, dùng “Cửu dương thần công” ngăn lại.
Tạ Tốn đột nhiên đứng dậy, vung tay đấm mạnh vào ngực mình một cái, máu tươi phun ra đằng miệng. Trương Vô Kỵ vội đưa tay đỡ, chỉ thấy tay ông lẩy bẩy yếu ớt, quả nhiên võ công đã mất hết, khó lòng phục hồi được nữa.
Tạ Tốn chỉ Thành Côn, nói:
– Thành Côn, ngươi giết cả nhà ta, hôm nay ta hủy đôi mắt ngươi, phế bỏ võ công của ngươi, gọi là để báo thù. Sư phụ, toàn bộ võ công của đệ tử là do sư phụ truyền thụ, vừa rồi đệ tử cũng đã tự hủy hết, trả lại cho sư phụ. Từ nay trở đi, hai ta vô ân vô oán, vĩnh viễn không còn thấy mặt nhau nữa.
Thành Côn hai tay ôm mắt, rên một tiếng đau đớn, không trả lời.
Quần hùng nhìn nhau, không ngờ cuộc đấu giữa hai thầy trò cuối cùng kết thúc như thế này.
Tạ Tốn dõng dạc nói:
– Tạ Tốn này tác ác đa đoan, vốn không mong sống được tới ngày hôm nay. Trong chư vị anh hùng thiên hạ, vị nào có thân nhân, sư hữu bị Tạ mỗ giết hại, xin mời ra lấy mạng Tạ mỗ cho xong. Vô Kỵ, con không được ngăn cản, càng không được phục thù sau này, để khỏi tăng thêm nghiệp chướng cho nghĩa phụ.
Trương Vô Kỵ nuốt lệ vâng lời.
Trong quần hùng tuy không ít người có thù oán sâu xa với Tạ Tốn, song thấy ông trả mối thù cả nhà bị giết cũng chỉ phế bỏ võ công của Thành Côn, sau đó võ công của mình cũng tự hủy đi, nếu bây giờ mình bước ra đâm một kiếm, đấm một quyền, thì chẳng đáng mặt anh hùng hảo hán chút nào.
Từ đám đông, một hán tử bước ra, nói:
– Tạ Tốn, phụ thân ta Nhạn Linh Phi Thiên Đao Khưu lão anh hùng chết dưới tay ngươi, ta ra đây báo thù cho tiên phụ!
Nói xong bước tới trước mặt Tạ Tốn. Tạ Tốn buồn rầu nói:
– Đúng thế, lệnh tôn quả thật bị tại hạ sát hại. Xin Khưu huynh cứ ra tay.
Gã họ Khưu rút đao ra, tiến lên hai bước.
Trương Vô Kỵ trong lòng rối loạn, nếu không ra tay ngăn cản, nghĩa phụ sẽ mất mạng dưới đao của người này; nhưng nếu đánh đuổi gã đi, e rằng nghĩa phụ còn sống ngày nào sẽ phiền não ngày đó, huống hồ ông hai mắt đã mù, võ công mất hết, sống trên đời còn gì vui thú; chàng thực là khó nghĩ, bất giác tiến lên hai bước.
Tạ Tốn quát:
– Vô Kỵ, nếu con ngăn cản người ta báo thù, tức là đại đại bất hiếu đối với ta. Sau khi ta chết, con xuống địa lao xem kỹ, sẽ biết mọi việc.
Gã họ Khưu giơ đao ngang ngực, bỗng ứa nước mắt, nhổ một bãi nước bọt vào mặt Tạ Tốn, nghẹn ngào nói:
– Tiên phụ một đời anh hùng, nếu lão nhân gia ở trên trời linh thiêng, thấy ta cầm đao giết một người mù không còn chút võ công, chắc sẽ thất vọng về ta…
Keng một tiếng, gã đã ném đao xuống đất, ôm mặt chạy trở vào đám đông.
Một trung niên nữ nhân bước ra, nói:
– Tạ Tốn, ta báo thù cho chồng ta là Âm Dương Phán Quan Tần Đại Bằng.
Nói rồi cũng nhổ một bãi nước bọt vào mặt Tạ Tốn, khóc òa lên, bỏ đi.
Trương Vô Kỵ thấy nghĩa phụ liên tiếp chịu nhục, thủy chung vẫn đứng yên, thì trong lòng đau như dao cắt.
Hào sĩ võ lâm coi cái chết nhẹ như lông hồng, song lại quyết không chịu nhục, cho nên mới có câu “Sĩ khả sát nhi bất khả nhục”. Hai người vừa rồi nhổ nước bọt vào mặt ông, quả là đại nhục, mà Tạ Tốn vẫn thản nhiên chịu đựng, đủ biết ông đã hối hận cực điểm về mọi tội lỗi trong quá khứ. Từ trong đám đông một số người lần lượt tiến ra, kẻ tát hai cái, kẻ đá một cái, cũng có kẻ chửi bới nặng nề, song Tạ Tốn trước sau vẫn nín nhịn, không tránh né, cũng không nói lại nửa lời.
Cứ thế hơn ba chục người ra làm nhục Tạ Tốn một phen. Cuối cùng một đạo sĩ râu dài bước ra, cúi đầu nói:
– Bần đạo là Thái Hư Tử, có hai vị sư huynh bị chết dưới tay Tạ đại hiệp. Hôm nay bần đạo nhìn thấy phong phạm của Tạ đại hiệp, trong lòng cảm thấy rất hổ thẹn, bần đạo cũng từng giết vô số hào kiệt hắc đạo, bạch đạo. Nếu bần đạo tìm Tạ đại hiệp báo thù, thì kẻ khác cũng có thể tìm bần đạo để báo thù.
Nói xong rút trường kiếm, giơ ngón tay trái búng một cái, nghe “keng” một tiếng, thanh kiếm gãy đôi. Y ném kiếm gãy xuống đất, hành lễ với Tạ Tốn rồi lui về.
Quần hùng xôn xao bàn tán, cái gã Thái Hư Tử này danh tiếng chưa nổi lắm trên giang hồ, võ công cao siêu đã đành, không ngờ lại có tấm lòng khoan dung lớn và biết tự trách mình, xem ra chẳng còn ai làm khó với Tạ Tốn nữa.
Giữa lúc ấy, một nữ ni trung niên từ đám đệ tử phái Nga Mi bước đến trước mặt Tạ Tốn, nói:
– Mối thù giết chồng ta, ta cũng nhổ một bãi nước bọt để kết thúc.
Nói xong há mồm, nhổ một bãi nước bọt vào trán Tạ Tốn. Không ngờ bãi nước bọt này kình phong rất mạnh, bên trong lại có một cái đinh sắt hình hạt táo.
Tạ Tốn nghe tiếng gió có điều khác lạ, gượng cười buồn bã nhưng không tránh né, nghĩ thầm: “Ta bây giờ mới chết, đã là quá muộn”.
Bỗng dưng một bóng vàng lướt qua, Hoàng y mỹ nữ bất ngờ vọt tới, phất tay áo cuốn lấy cái đinh sắt, quát:
– Vị sư thái này pháp danh là gì?
Nữ ni kia đột kích không trúng, hơi kinh hoảng, đáp:
– Ta là Tĩnh Chiếu.
Hoàng y mỹ nữ nói:
– Hừ, Tĩnh Chiếu, Tĩnh Chiếu. Trước khi bà xuất gia, chồng bà tên gì? Tại sao ông ta lại bị Tạ đại hiệp giết?
Tĩnh Chiếu giận dữ nói:
– Chuyện đó liên can gì tới cô nương, việc gì cô nương đi lo chuyện bao đồng?
Hoàng y mỹ nữ nói:
– Tạ đại hiệp sám hối tội lỗi ngày trước, nếu có ai muốn báo thù cho cha mẹ, anh em, thầy bạn, dù có dùng đao kiếm băm vằm ông, Tạ đại hiệp cũng cam chịu, người ngoài không thể can thiệp. Thế nhưng, nếu có kẻ bất lương, định thừa cơ đục nước béo cò, toan giết người diệt khẩu, thì mọi người đều có quyền can thiệp.
Tĩnh Chiếu nói:
– Ta với Tạ Tốn không thù không oán, hà tất phải giết người diệt…
Chữ “khẩu” chưa kịp thốt ra, bà ta biết mình lỡ lời, vội nín bặt, mặt trắng bệch, bất giác liếc Chu Chỉ Nhược một cái.
Hoàng y mỹ nữ nói:
– Đúng thế, bà với Tạ đại hiệp không thù không oán, hà tất phải giết người diệt khẩu? Hừ, mười hai nữ ni hàng chữ “Tĩnh” của phái Nga Mi, Tĩnh Huyền, Tĩnh Hư, Tĩnh Không, Tĩnh Tuệ, Tĩnh Già, Tĩnh Chiếu… đều là khuê nữ xuất gia, chồng ở đâu mà có?
Tĩnh Chiếu không nói gì, cắm đầu chạy về.
Hoàng y mỹ nữ quát:
– Ai cho bỏ đi dễ dàng như thế?
Nàng tiến lên hai bước, giơ tay chộp đầu vai Tĩnh Chiếu. Tĩnh Chiếu nghiêng người tránh được cái trảo đó. Hoàng y mỹ nữ liền giơ ngón trỏ tay phải chọc vào mạng sườn, tiếp đó tung cước đá trúng huyệt Hoàn Khiêu ở đùi Tĩnh Chiếu. Tĩnh Chiếu ngã huỵch xuống đất. Hoàng y mỹ nữ cười khẩy, nói:
– Chu cô nương, cái kế giết người diệt khẩu của cô nương độc địa thật.
Chu Chỉ Nhược lạnh lùng nói:
– Tĩnh Chiếu sư tỷ muốn báo thù Tạ Tốn, có gì mà bảo là giết người diệt khẩu?
Rồi phất tay trái, nói:
– Ở đây có vô số đệ tử danh môn chính phái, thế mà chẳng ai phân biệt được chính tà, cam tâm nhập bọn với bàng môn yêu ma. Phái Nga Mi không thể a dua với chúng, thôi bọn ta đi về.
Các đệ tử phái Nga Mi đáp ứng, đứng cả dậy. Hai nữ đệ tử ra dìu Tĩnh Chiếu đi, Hoàng y mỹ nữ không ngăn cản nữa. Chu Chỉ Nhược dẫn các đồng môn xuống núi.
Trương Vô Kỵ tới trước mặt Hoàng y mỹ nữ, vái dài, nói:
– May được tỷ tỷ mấy phen trợ giúp, đại ân đại đức, không dám cảm tạ bằng lời. Chỉ mong được biết phương danh, để Trương Vô Kỵ này ngày đêm ghi nhớ trong lòng.
Hoàng y mỹ nữ mỉm cười, nói:
– Chung Nam sơn hậu, hoạt tử nhân mộ, Thần Điêu hiệp lữ, tuyệt tích giang hồ.
Nói xong nâng một chút vạt áo lên thi lễ, vẫy tay một cái, dẫn tám bạch y, hắc y thiếu nữ khoan thai mà đi.
Trương Vô Kỵ bước theo, gọi:
– Xin tỷ tỷ hãy dừng bước.
Hoàng y mỹ nữ không ngoảnh lại, tiếp tục đi xuống núi.
Cô bé Sử Hồng Thạch, bang chủ Cái Bang, gọi to:
– Dương tỷ tỷ! Dương tỷ tỷ!
Chỉ nghe từ lưng núi vọng lên giọng nói của hoàng y mỹ nữ:
– Đại sự của Cái Bang, mong Trương giáo chủ tận lực trợ giúp.
Trương Vô Kỵ lớn tiếng đáp lời:
– Vô Kỵ tuân lệnh.
Hoàng y mỹ nữ nói:
– Đa tạ!
Hai tiếng “Đa tạ!” văng vẳng vọng lên, đôi bên đã cách nhau rất xa, nhưng giọng nói trong trẻo, nghe vẫn rõ lạ thường. Trương Vô Kỵ trong dạ không khỏi bồi hồi.
*****
Nguồn: truyenkimdung


