Trương Vô Kỵ phân vân chưa trả lời. Thuyết Bất Đắc nói:
– Tên ác tăng này nhân lúc mọi người sơ hở, bất ngờ đánh lén, hành động đê hèn thế nào, chính tai ngươi đã nghe rõ cả. Nếu ngươi không giết hắn đi, mấy vạn người của Minh giáo từ trên xuống dưới đều sẽ bị tận diệt. Ngươi ra tay giết hắn, đó sẽ là hành vi hào hiệp, đại nhân đại nghĩa đó.
Trương Vô Kỵ vẫn do dự chưa đáp.
Viên Chân nói:
– Lúc này ta không cử động được, ngươi tới đánh chết ta, không sợ hảo hán trong thiên hạ chê cười hay sao?
Chu Điên giận dữ nói:
– Thằng trọc thối tha, phái Thiếu Lâm nhà ngươi tự xưng là danh môn chính phái thế mà lén lút lên đây đánh trộm, đâu có sợ hảo hán trong thiên hạ chê cười?
Trương Vô Kỵ đi về phía Viên Chân một bước, dừng lại, nói:
– Thuyết Bất Đắc đại sư, chuyện phải trái giữa quý giáo với sáu đại môn phái thế nào, tiểu khả thực không hiểu rõ. Tiểu khả rất muốn giúp bảy vị, song cũng không muốn đả thương vị đại hòa thượng phái Thiếu Lâm này.
Bành Oánh Ngọc nói:
– Tiểu huynh đệ có chỗ chưa biết, bây giờ nếu không giết hắn, chút nữa hắn phục hồi công lực rồi, thể nào hắn cũng sẽ giết luôn cả tiểu huynh đệ đó.
Viên Chân cười nói:
– Ta với vị tiểu thí chủ ấy không thù không oán, không lẽ tự dưng ta lại hãm hại y? Huống hồ vị tiểu thí chủ ấy không phải người của Ma giáo, không chừng còn bị Bố Đại hòa thượng nuôi ý đồ xấu, bắt mang lên đây. Ma giáo các ngươi chẳng từ việc xấu xa nào cả, làm sao có ý tốt với y được?
Hai bên hô hấp, nói năng hết sức khó khăn, nhưng vẫn tranh nhau nói lấy lòng Trương Vô Kỵ.
Trương Vô Kỵ thật khó nghĩ, tuy nghe thấy lão hòa thượng Viên Chân đánh lén người, hành vi không quang minh chút nào, nhưng bảo chàng bước lên đánh chết lão thì chàng không muốn. Hơn nữa, một chưởng đánh ra rồi, vĩnh viễn chàng sẽ phải đứng về phe Minh giáo, đối địch với sáu đại môn phái. Thái sư phụ, Võ Đang lục hiệp, Chu Chỉ Nhược, đều sẽ trở thành kẻ địch của mình. Chàng lại nghĩ thầm: “Minh giáo vốn bị người trong võ lâm coi là tà ma dị đoan, như Vi Nhất Tiếu hút máu người, nghĩa phụ lạm sát người vô tội, quả thực có biết bao điều sai trái. Thái sư phụ năm xưa từng một mực căn dặn ta nhất thiết không được kết giao với người trong Ma giáo, để khỏi chuốc họa suốt đời. Phụ thân ta chỉ vì lấy mẫu thân ta là người của Ma giáo mà phải tự vẫn trên núi Võ Đang, gương đó rành rành chưa lâu. Huống chi Viên Chân là đệ tử của Không Kiến thần tăng, người đã cam chịu mười ba quyền Thất Thương quyền để cảm hóa nghĩa phụ ta, đến nỗi phải bỏ mạng, bậc đại nhân đại nghĩa từ bi như thế thực hiếm có trong võ lâm, ta làm sao có thể giết đệ tử của thần tăng kia chứ?”
Nghe thấy Thuyết Bất Đắc thúc giục, Trương Vô Kỵ nói:
– Thuyết Bất Đắc đại sư, xin đại sư chỉ cho cách nào không phải giết vị hòa thượng kia, mà ông ta cũng không thể giết hại các vị, tiểu khả sẽ làm theo cách đó.
Thuyết Bất Đắc nghĩ thầm: “Cục diện trước mắt chỉ có một mất một còn, làm gì có cách bảo toàn cả đôi bên? Nếu Viên Chân sống, thì bên mình chết hết”. Còn đang ngẫm nghĩ, thì Bành Oánh Ngọc nói:
– Tiểu huynh đệ bụng dạ nhân từ, thật đáng kính phục. Vậy ngươi hãy giơ ngón tay điểm nhẹ vào huyệt Ngọc Đường ở ngực Viên Chân, làm như thế hắn sẽ không bị tổn thương, song trong vài canh giờ hắn cũng chưa thể vận nội lực. Bọn ta sẽ phái người đưa hắn rời khỏi đỉnh Quang Minh, không làm rụng một sợi tóc của hắn. Ngươi có biết vị trí huyệt Ngọc Đường hay chăng?
Trương Vô Kỵ giỏi y lý, biết rằng điểm nhẹ vào huyệt Ngọc Đường quả thực sẽ tạm thời ngăn chặn chân khí từ đan điền chạy lên, mà không làm tổn thương cơ thể, bèn đáp:
– Dạ, biết.
Viên Chân nói:
– Tiểu thí chủ chớ nghe lời bọn chúng. Ngươi điểm huyệt ta rồi cũng không sao, nhưng một khi chúng đã phục hồi nội lực rồi, chúng sẽ lập tức giết ta, ngươi làm sao ngăn nổi?
Chu Điên liền chửi:
– Ngươi nói thối như cứt, bọn ta đã bảo không giết ngươi là sẽ không giết. Ngũ tản nhân của Minh giáo đã bao giờ nuốt lời chưa?
Trương Vô Kỵ nghĩ thầm, Dương Tiêu và Ngũ tản nhân đều không phải hạng người tráo trở, chỉ ngại một mình Vi Nhất Tiếu, bèn hỏi:
– Vi tiền bối, tiền bối nghĩ sao?
Vi Nhất Tiếu đáp, giọng run run:
– Tạm thời tha cho hắn cũng được, lần sau gặp lại, sẽ liều… một mất… một còn… với hắn.
Bốn chữ sau cùng y nói thều thào, thở chẳng ra hơi.
Trương Vô Kỵ nói:
– Vậy thì được, Quang Minh tả sứ, Thanh Dực Bức Vương, Ngũ tản nhân, bảy vị đều là anh hùng hào kiệt thời nay, há có thể nuốt lời? Viên Chân đại sư, vãn bối đành đắc tội.
Nói rồi đến trước mặt Viên Chân.
Chàng ở trong cái túi, mỗi bước chỉ đi được chừng một thước, mươi bước sau mới tới gần Viên Chân. Cái cảnh người trong túi vải lật đật di động chậm chạp, trông thật hoạt kê, nhưng lúc này mạng sống của mọi người đều ở trong đường tơ kẽ tóc, chả ai cười nổi.
Trương Vô Kỵ lắng nghe hơi thở của Viên Chân, khi còn cách lão ta hai thước, chàng dừng lại, nói:
– Viên Chân đại sư, vãn bối vì muốn đôi bên chu toàn, xin đừng trách.
Đoạn thong thả đưa tay ra.
Viên Chân cười gượng, nói:
– Bây giờ toàn thân ta không cử động được, đành để ngươi muốn làm gì thì làm.
Từ khi “Điệp Cốc Y Tiên” Hồ Thanh Ngưu chết đi, Trương Vô Kỵ là người có khả năng nhận biết huyệt đạo có một không hai. Tuy chàng bị ngăn cách với Viên Chân bởi cái túi vải, nhưng đưa ngón tay ra là điểm trúng huyệt Ngọc Đường không sai một ly. Huyệt Ngọc Đường nằm ở ngực, bên dưới huyệt Tử Cung một tấc sáu phân, bên trên huyệt Đản Trung một tấc sáu phân, thuộc mạch Nhâm. Huyệt này không phải là huyệt lớn có thể gây nguy hiểm đến tính mạng, song nó nằm trên đường chân khí phải đi qua, nên một khi bị chặn lại, chân khí toàn thân sẽ tắc nghẽn.
Bỗng nghe Thuyết Bất Đắc, Dương Tiêu, Lãnh Khiêm cùng kêu lên:
– Úi chao! Mau thu tay về!
Trương Vô Kỵ chỉ cảm thấy ngón trỏ tay phải bị giật một cái, một luồng hàn khí chạy từ đầu ngón tay vào người, lập tức toàn thân lạnh giá. Chàng nghe thấy Chu Điên, Thiết Quan đạo nhân cả bọn cùng lớn tiếng chửi:
– Lão trọc khốn kiếp, dám giở trò gian trá!
Trương Vô Kỵ run lẩy bẩy, chợt hiểu Viên Chân tuy không di chuyển bằng chân được, song hắn có thể gượng giơ ngón tay lên ngay trước huyệt Ngọc Đường. Trương Vô Kỵ ở trong cái túi không nhìn thấy chiêu đó, khi ngón tay chàng điểm vào, hai đầu ngón tay đụng nhau, chỉ lực Ảo Âm Chỉ của Viên Chân xuyên qua lớp vải truyền sang cơ thể chàng.
Lần này Viên Chân dồn toàn bộ nội lực còn lại ra đầu ngón tay, hai chỉ đụng nhau rồi, toàn thân hắn tê dại, mặt tái nhợt như xác chết.
Sảnh đường vốn chỉ có tám người bị thương không cử động, bây giờ lại thêm Trương Vô Kỵ.
Chu Điên nóng nảy hơn cả, tuy nói năng đứt quãng vì hụt hơi, song vẫn cố chửi rủa lão tặc trọc Thiếu Lâm gian trá vô liêm sỉ. Còn bọn Dương Tiêu nghĩ thầm cũng chả nên trách Viên Chân, khi bị đối phương điểm huyệt, hắn có thể giơ tay tự vệ lắm chứ.
Lúc đó Viên Chân tuy kiệt sức, song mừng thầm, rằng gã tiểu tử kia ít tuổi, công lực chẳng đáng bao nhiêu, trúng phải Ảo Âm Chỉ rồi chỉ nửa ngày là chết, còn chân khí của mình thì một canh giờ sau sẽ từ từ tụ lại, rút cục mình vẫn làm chủ tình thế.
Sảnh đường lại lặng ngắt như tờ; quá nửa canh giờ sau, bốn cây nến cháy hết, trong sảnh tối om.
Bọn Dương Tiêu nghe hơi thở của Viên Chân lúc trước đứt quãng, nay đều dần, từ nặng nề hổn hển chuyển thành chậm và dài thì biết rằng chân khí trong cơ thể hắn đang ngưng tụ. Còn bọn họ thì mỗi lần vận công, hàn khí Huyễn Âm Chỉ lại xâm nhập đan điền, người cứ rét run bần bật. Càng lúc bọn họ càng thất vọng, đau đớn, chỉ mong Viên Chân sớm phục hồi công lực, giáng cho mỗi người một chưởng để bọn họ chết quách cho rồi, còn hơn phải chịu cảnh giày vò như thế này.
Bọn Chu Điên, Lãnh Khiêm thản nhiên nhắm mắt chờ chết, còn Bành Oánh Ngọc và Thuyết Bất Đắc thì chết không cam lòng. Trong Ngũ tản nhân, Thuyết Bất Đắc và Bành Oánh Ngọc đều là hòa thượng xuất gia, nhưng có hùng tâm hơn cả, hết sức quan tâm đến nỗi đau khổ của người đời, quyết chí làm nên sự nghiệp lẫy lừng. Bây giờ chuyện đến nỗi này, rốt cuộc bị chết dưới tay Viên Chân, chí nguyện bình sinh tan thành mây khói.
Thuyết Bất Đắc buồn bã nói:
– Bành hòa thượng, chúng ta lập chí những mong đánh đuổi bọn Thát tử Mông Cổ, ai ngờ cuối cùng hoàn toàn trắng tay. Ôi, nghĩ đến kiếp nạn của muôn ngàn bách tính chưa dứt, thật quá đau lòng!
Trương Vô Kỵ đang giữ luồng khí nóng trong đan điền chống đỡ hàn khí “Ảo Âm Chỉ”, nghe câu nói của Thuyết Bất Đắc thì không khỏi ngạc nhiên: “Ông ta mong đánh đuổi bọn Thát tử Mông Cổ ư? Không lẽ Ma giáo vốn mang tiếng xấu xa mà lại lo lắng cho bàn dân thiên hạ như thế sao?”
Lại nghe Bành Oánh Ngọc nói:
– Thuyết Bất Đắc, ta đã nói trước rồi, chỉ trông vào sức của Minh giáo thì không đánh đuổi nổi bọn Thát tử Mông Cổ đâu. Phải liên lạc với anh hùng hào kiệt khắp thiên hạ, cùng đứng lên mới có thể thành công. Sư huynh Bổng Hồ của ngươi, sư đệ Chu Tử Vượng của ta, năm xưa nổi lên tạo phản, khí thế oanh liệt vô cùng, nhưng rồi đại bại, chẳng phải cũng vì không có ngoại viện đó sao?
Chu Điên lớn tiếng nói:
– Chết đến đít rồi, hai lão trọc còn tranh cãi nhau, kẻ thì bảo phải lấy Minh giáo làm chủ, kẻ lại kêu phải liên lạc với các danh môn chính phái. Chu Điên ta thấy cả hai đều nói thối như cứt! Minh giáo chúng ta chia năm xẻ bảy, như rắn mất đầu, làm chủ cái con khỉ gì? Còn Bành hòa thượng muốn liên lạc với danh môn chính phái, lại càng thối hơn cứt; cả sáu môn phái đang vây đánh chúng ta đó, liên với chả lạc!
Thiết Quan đạo nhân xen vào:
– Giá Dương giáo chủ còn sống, bọn mình nện cho sáu môn phái một trận nên thân, lo gì họ không tuân theo hiệu lệnh của chúng ta?
Chu Điên cười ha hả, nói:
– Thằng cha mũi bò nói thối như rắm bò vậy! Dương giáo chủ mà còn sống, tất nhiên mọi việc suôn sẻ cả, ai chả biết thế? Ối chao… ối chao…
Y ta há miệng ra cười nên hụt hơi thở, hàn khí Huyễn Âm Chỉ thấm vào tim phổi, chịu hết nổi phải kêu lên.
Lãnh Khiêm nói:
– Im cả đi!
Câu nói của lão khiến cả bọn cùng im lặng.
Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: “Xem chừng Minh giáo là một giáo phái có nhiều uẩn khúc, hoàn toàn không phải chỉ làm điều xấu”. Chàng bèn hỏi:
– Thuyết Bất Đắc đại sư, tôn chỉ của quý giáo thực ra là gì? Đại sư có thể cho biết chăng?
Thuyết Bất Đắc nói:
– Ồ, ngươi chưa chết ư? Tiểu huynh đệ, ngươi mất mạng không đâu vì Minh giáo, bọn ta thật lấy làm tiếc. Ngươi chỉ còn sống được vài canh giờ nữa thôi, bí mật của bổn giáo có nói cho ngươi biết cũng chẳng sao. Lãnh Diện tiên sinh, nói được chăng?
Lãnh Khiêm đáp:
– Nói!
Đáng lẽ lão cần trả lời rằng “Ngươi cứ nói cho hắn nghe cũng được”, song lão chỉ dùng một chữ “Nói” cụt lủn vậy thôi.
Thuyết Bất Đắc nói:
– Tiểu huynh đệ, Minh giáo nguyên từ nước Ba Tư truyền sang Trung thổ vào đời nhà Đường, đương thời gọi là Tiên giáo. Vua nhà Đường cho xây dựng chùa Đại Vân Quang Minh ở các nơi, làm tự viện của Minh giáo. Giáo nghĩa của chúng ta là hành thiện trừ ác, chúng sinh bình đẳng, có vàng bạc tiền tài đều đem cứu tế kẻ nghèo khổ, không sát sinh, không uống rượu, tôn thờ Minh Tôn. Minh Tôn tức là thần lửa, thần thiện. Khổ nỗi đời nào bọn tham quan ô lại cũng áp bức Minh giáo, huynh đệ giáo chúng không nhịn nổi, thường nổi dậy chống đối. Từ đời Phương Lạp Phương giáo chủ thời Bắc Tống đến giờ, không biết đã bao nhiêu phen nổi dậy.
Trương Vô Kỵ từng nghe tên tuổi Phương Lạp, biết đấy là một trong “Tứ Đại Khấu”, lừng danh như Tống Giang, Vương Khánh, Điền Hổ, thời Tuyên Hòa Bắc Tống, nên chàng hỏi:
– Thì ra Phương Lạp là giáo chủ của quý giáo?
Thuyết Bất Đắc nói:
– Chính thế. Đến đời Nam Tống, thời Kiến Viêm, có giáo chủ Vương Tông Thạch khởi sự ở Tín Châu; thời Thiệu Hưng có giáo chủ Dư Ngũ Bà khởi sự ở Cù Châu; thời Thiệu Định có giáo chủ Trương Tam Thương khởi sự ở Giang Tây và Quảng Đông. Chỉ vì bổn giáo xưa nay luôn chống quan lại triều đình nên triều đình gọi chúng ta là Ma giáo, ra sức cấm đoán. Chúng ta muốn sống được đành phải hành sự kín đáo, bí mật, để tránh tai mắt quan quân. Các đại môn phái tích kết oán thù với chúng ta, thành thế đôi bên như nước với lửa. Đương nhiên, trong số giáo chúng của bổn giáo cũng có kẻ không tự kiềm chế đã làm những việc sai trái, ỷ mình có võ công mà hoặc giết người vô tội, hoặc gian dâm cướp bóc, hủy hoại thanh danh của bổn giáo…
Dương Tiêu đột nhiên lạnh lùng ngắt lời:
– Thuyết Bất Đắc, ngươi nói ta đấy hả?
Thuyết Bất Đắc đáp:
– Tên ta là Thuyết Bất Đắc, phàm chuyện gì không nói được, ta sẽ không nói. Ai làm việc gì, người đó tự biết. Có câu “Kẻ nào ăn vụng thì bụng nó to”.
Dương Tiêu “hừ” một tiếng, không nói thêm nữa.
Trương Vô Kỵ bỗng giật mình: “Ồ, sao ta không thấy lạnh nữa?” Lúc mới trúng “Ảo Âm Chỉ” của Viên Chân, chàng bị lạnh không chịu nổi, nhưng đến lúc này hàn khí đã tiêu tan. Nguyên hồi lên mười, chàng trúng phải âm độc của Huyền Minh thần chưởng, đến năm mười bảy tuổi mới khu trừ được hết. Trong bảy năm đó, cơ thể ngày đêm kháng cự hàn độc, vận khí chống lạnh với hít thở dường như là một, không cần suy nghĩ, cứ như phản ứng tự nhiên. Huống hồ chàng tu luyện Cửu dương thần công tuy chưa xong cửa ải cuối cùng, nhưng khí dương trong người rất vượng, chẳng mấy chốc đã loại trừ hết âm độc.
Lại nghe Thuyết Bất Đắc nói:
– Từ khi Đại Tống ta rơi vào tay bọn Thát tử Mông Cổ, Minh giáo càng trở thành kẻ tử thù của triều đình, vì Minh giáo vốn coi việc đánh đuổi ngoại xâm là trách nhiệm của mình. Tiếc rằng những năm qua Minh giáo như rắn mất đầu, các cao thủ vì tranh giành chức giáo chủ mà tàn sát lẫn nhau, để rồi người thì rửa tay quy ẩn, kẻ lập chi phái riêng, tự lên làm giáo chủ. Giáo quy đã suy sụp, oán thù với danh môn chính phái mỗi ngày thêm sâu, giờ đến nông nỗi này. Viên Chân hòa thượng, ta nói không sai đấy chứ?
Viên Chân hừ một tiếng, đáp:
– Không sai, không sai! Các ngươi chết đến nơi còn nói sai làm quái gì!
Hắn vừa nói vừa thong thả đứng dậy, tiến lên một bước.
Dương Tiêu và Ngũ tản nhân cùng kêu lên kinh hãi. Bọn họ ai cũng biết hắn sẽ đủ sức cử động trước mình, song không ngờ công lực của hắn lại thâm hậu đến thế, sau khi trúng phải “Hàn băng miên chưởng” của Vi Nhất Tiếu lại có thể đề khí vận công mau chóng như vậy. Chỉ thấy hắn thân hình vững chãi, chân trái lại tiến thêm một bước, người không nghiêng ngả chút nào.
Dương Tiêu cười khẩy, nói:
– Cao túc của Không Kiến thần tăng quả nhiên ghê gớm thật! Nhưng ngươi vẫn chưa trả lời câu hỏi ban đầu của ta; hay là bên trong có nhiều uẩn khúc, không tiện nói ra chăng?
Viên Chân cười ha hả, lại tiến thêm một bước, nói:
– Ngươi không biết rõ uẩn khúc bên trong, chắc là chết chẳng thể nhắm mắt thật đó. Ngươi hỏi ta làm sao biết được con đường bí mật lên đỉnh Quang Minh, làm sao vượt qua biết bao vách đá hiểm trở, lên tới đây mà quỷ thần cũng không hay biết. Được, để ta nói thực cho các vị hay, chính hai vợ chồng giáo chủ Dương Đính Thiên của quý giáo đã dẫn ta lên đó.
Dương Tiêu giật mình, nghĩ thầm: “Với thân phận của hắn, hắn chắc chắn không nói láo, nhưng chuyện đó sao lại như thế?”
Chu Điên cất tiếng chửi liền:
– Cả họ nhà ngươi nói thối hơn cứt chó! Con đường bí mật ấy là bí mật lớn của đỉnh Quang Minh, là thánh cảnh trang nghiêm của bổn giáo, Dương tả sứ làm Quang Minh sứ giả, Vi đại ca làm Hộ giáo pháp vương còn chưa được đi qua lần nào, xưa nay chỉ một mình giáo chủ biết lối đi ấy. Làm sao Dương giáo chủ lại dẫn ngươi là người ngoài đi lối đó?
Viên Chân thở dài, xuất thần hồi lâu, rồi rầu rầu kể:
– Ngươi đòi biết ngọn ngành cho bằng được, vậy ta sẽ nói cho ngươi biết một chuyện bí mật cách đây hai mươi lăm năm luôn. Dẫu sao các vị cũng chẳng còn sống để mà xuống núi tiết lộ chuyện này được nữa. Ôi Chu Điên, ngươi nói không sai, lối đi bí mật ấy đúng là thánh cảnh trang nghiêm của Minh giáo, xưa nay chỉ một mình giáo chủ mới được phép bước vào, nếu không tức là vi phạm nghiêm quy quyết không thể tha thứ. Nhưng phu nhân Dương Đính Thiên đã vào trong đó, Dương Đính Thiên đã vi phạm giáo quy, lén dẫn Dương phu nhân vào lối đi đó…
Chu Điên xen lời:
– Cứt chó! Nói thối bỏ mẹ!
Bành Oánh Ngọc quát:
– Chu Điên, đừng phá quấy nữa!
Viên Chân nói tiếp:
– Rồi sau đó Dương phu nhân lại lén dẫn ta vào lối đi bí mật…
Chu Điên lại chửi:
– Con mẹ nó, nói láo nói lếu!
Viên Chân nói tiếp:
– Ta không phải người trong Minh giáo, đi vào đó đâu có bị coi là vi phạm giáo quy. Ôi, dẫu ta có là giáo đồ Minh giáo, có phạm trọng tội chăng nữa, ta cũng đâu có ngán gì?
Hắn kể chuyện năm xưa mà giọng nói não nề.
Thiết Quan đạo nhân hỏi:
– Dương phu nhân đưa ngươi vào đó làm gì?
Viên Chân đáp:
– Chuyện đó lâu quá rồi! Lão nạp nay đã thành một ông già hơn bảy mươi tuổi… chuyện cũ thời trai trẻ… thôi được, để lão nạp kể hết cho các vị nghe. Các vị có biết lão nạp là ai không? Dương phu nhân là sư muội của ta, trước khi xuất gia, ta là Thành Côn, ngoại hiệu “Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ” đó!
Câu này vừa thốt ra, bọn Dương Tiêu đều vô cùng ngạc nhiên, Trương Vô Kỵ ở trong túi vải thì cả kinh, kêu lên thành tiếng.
Ngày nào trên Băng Hỏa đảo, câu chuyện nghĩa phụ kể tối hôm ấy bỗng hiện ra rõ ràng trong óc Trương Vô Kỵ: Sư phụ của nghĩa phụ là Thành Côn sát hại toàn gia, phụ mẫu thê nhi của Tạ Tốn, nên Tạ Tốn mới giết bừa các nhân sĩ võ lâm để buộc Thành Côn xuất đầu lộ diện, rồi Tạ Tốn đánh chết Không Kiến thần tăng nhưng Thành Côn không giữ lời… như thế nào. Trương Vô Kỵ chợt nghĩ thầm: “Thì ra bấy giờ ác tặc Thành Côn đã bái Không Kiến thần tăng làm sư phụ, Không Kiến thần tăng vì muốn hóa giải cái trường oan nghiệt ấy nên chịu cho Tạ Tốn đánh mười ba quyền Thất Thương quyền. Nào ngờ ngay cả sư phụ của mình mà Thành Côn cũng lừa dối, khiến cho Không Kiến thần tăng phải ôm hận xuống tuyền đài”.
Chàng lại nghĩ tiếp: “Nghĩa phụ sở dĩ phát điên, lạm sát người vô tội, các bang phái sở dĩ lên núi Võ Đang bức tử cha mẹ ta, suy cho cùng tất cả mọi sự đều là do tên thủ phạm Thành Côn này mà ra”. Trong giây lát lòng chàng phẫn nộ cùng cực, toàn thân bừng bừng như bị lửa thiêu đốt. Cái túi Càn Khôn Nhất Khí của Thuyết Bất Đắc kín mít, không thông hơi, chàng ở trong túi mấy canh giờ liền, đã ngộp thở vô cùng, may nhờ nội công thâm hậu, hít thở theo cách hô hấp của loài rùa, sử dụng rất ít khí trời mới chịu đựng tới bây giờ. Nay tâm thần đột nhiên xáo trộn, Cửu dương chân khí súc tích trong đan điền mất sự chế ngự, chạy loạn trong cơ thể, chàng như rơi vào một cái lò than đang cháy, nóng tới mức phải rên rỉ thành tiếng.
Chu Điên quát to:
– Tiểu huynh đệ, mọi người sắp chết đến nơi, ai cũng đau đớn khổ sở vô cùng, nhưng đã là hảo hán thì đừng có rên rỉ kêu than.
Trương Vô Kỵ đáp:
– Vâng!
Chàng dùng phép vận công nói trong Cửu dương chân kinh để trấn tĩnh tinh thần, điều hòa hơi thở. Bình thời chàng chỉ theo cách mà làm thì lập tức tâm như nước lặng, thần du vật ngoại; còn bây giờ chàng càng vận công, xương cốt, tứ chi càng bứt rứt khó chịu, tưởng chừng mỗi đại huyệt đều bị hàng trăm cây kim nóng đỏ đâm vào.
Thì ra chàng tu luyện Cửu dương chân kinh mấy năm qua, tuy học môn công phu huyền diệu thượng thừa trong võ học, nhưng chưa từng có minh sư chỉ điểm, chỉ tự mày mò theo kinh sách, Cửu dương chân khí súc tích trong cơ thể càng ngày càng nhiều, song chàng chưa biết cách vận dụng đạo dẫn để khai thông cửa ải cuối cùng. Kể ra chưa biết cách dẫn phát cũng không sao; nhưng Ảo Âm Chỉ của Viên Chân lại là công phu âm độc nhất trong võ lâm, một khi đi vào cơ thể chàng thì chẳng khác gì thùng thuốc súng nay có thêm dây dẫn lửa. Chàng lại đang bị nhốt trong cái túi “Càn Khôn Nhất Khí”, chân khí bị kích phát không có phát tiết, liền chạy ngược vào bên trong cơ thể. Trong thời khắc ngắn ngủi này, Trương Vô Kỵ đang ở vào cửa ải gian nan nhất, nguy hiểm nhất của một đời tu đạo luyện khí, thành bại sống chết chỉ trong đường tơ kẽ tóc, như chỉ mành treo chuông. Bọn Chu Điên đâu biết chàng đang lâm vào thời khắc trễ không được, sớm không được, đúng lúc thủy hỏa ký tế, long hổ giao hội cực kỳ hệ trọng, lại cứ ngỡ chàng rên rỉ đau đớn do trúng phải” Ảo Âm Chỉ”.
Trương Vô Kỵ cố chống chọi cái khí nóng chí dương đang thiêu đốt, song mỗi câu nói của Viên Chân vẫn lọt vào tai rõ rành rành:
– Ta và sư muội hai bên gia đình giao kết đã nhiều đời, hai ta từ bé vốn đã ước định hôn nhân. Ai ngờ Dương Đính Thiên cũng thầm yêu trộm nhớ sư muội của ta, đến khi y lên làm giáo chủ Minh giáo, uy chấn thiên hạ, phụ mẫu của sư muội ta là hạng người tham danh tham lợi, sư muội ta cũng tâm chí không vững vàng nên đã bằng lòng lấy Dương Đính Thiên. Nhưng sau khi kết hôn, nàng lại không thấy hạnh phúc nên vẫn gặp ta, cả hai cần có một chỗ thật kín đáo để hẹn hò tình tự. Dương Đính Thiên mọi việc đều chiều theo ý nàng, thế là nàng nói muốn đi xem con đường bí mật, Dương Đính Thiên tuy chẳng muốn chút nào, song không chịu nổi đòi hỏi nằn nì của thê tử, cuối cùng dẫn nàng vào đó. Từ đấy lối đi bí mật lên đỉnh Quang Minh này, thánh địa trang nghiêm nhất của Minh giáo mấy trăm năm đã trở thành nơi ta cùng giáo chủ phu nhân của các vị gặp gỡ riêng tư, ha ha… Ta đi đi về về lối đó mấy chục lần, hôm nay trở lại đỉnh Quang Minh đâu có tốn hơi sức gì?
Bọn Chu Điên, Dương Tiêu nghe câu chuyện đó thì ớ miệng ra, không thốt nổi một lời. Chu Điên chỉ chửi được chữ “thối”, không nói tiếp nổi hai chữ “như cứt”. Ai nấy tức giận sục sôi, ngực như muốn vỡ tung, bởi đối với Minh giáo, còn gì nhục nhã cho bằng chuyện này. Hôm nay Minh giáo có bị tận diệt cũng là do chuyện đó mà ra. Mọi người nghe xong, mắt như tóe lửa, đều biết lời Viên Chân nói không phải dối trá.
Viên Chân nói tiếp:
– Các vị tức giận gì kia chứ? Nhân duyên tốt lành của ta bị Dương Đính Thiên ngang nhiên phá vỡ, ái thê rõ ràng sắp là của ta, chỉ vì Dương Đính Thiên lên làm giáo chủ Ma giáo các vị mà ta bị chiếm mất, cho nên mối thù của ta với Ma giáo là bất cộng đới thiên. Ngày Dương Đính Thiên thành hôn với sư muội ta, ta cũng tới mừng, nhưng lúc uống rượu, ta đã thề rằng: “Thành Côn này dù chỉ còn một hơi thở, cũng nhất quyết giết bằng được Dương Đính Thiên, diệt bằng được Ma giáo”. Ta mang nặng lời thề đó đã hơn bốn mươi năm, hôm nay mới thấy đại công cáo thành. Ha ha, Thành Côn ta đã vẹn lời thề, chết mới nhắm mắt được.
Dương Tiêu lạnh lùng nói:
– Đa tạ ngươi đã giải cho ta mối hồ nghi lớn trong lòng. Dương giáo chủ đột ngột từ trần, không hiểu vì lẽ gì, thì ra chính bởi tay ngươi.
Viên Chân buồn rầu nói:
– Hồi xưa võ công Dương Đính Thiên cao hơn ta nhiều, chẳng nói gì năm xưa, ngay hiện tại chỉ e công lực của ta cũng chưa bằng y thời đó.
Chu Điên xen vào:
– Thành ra ngươi mới lén hại Dương giáo chủ, không phải bỏ thuốc độc, chắc là cũng đánh trộm như hôm nay chứ gì?
Viên Chân thở dài, lắc đầu nói:
– Không phải thế. Sư muội ta sợ ta lén hạ độc thủ, luôn nhắc nhở ta, rằng nếu ta giết hại Dương Đính Thiên, nàng sẽ không tha cho ta. Nàng bảo nàng và ta lén lút hò hẹn như thế là đã không phải với chồng lắm rồi, nếu ta có tâm địa độc ác, trời cũng chẳng dung. Dương Đính Thiên, ôi, Dương Đính Thiên, y… y tự chết đó thôi.
Cả bọn Dương Tiêu, Bành Oánh Ngọc cùng ồ cả lên.
Viên Chân nói tiếp:
– Giá như Dương Đính Thiên chết bởi chưởng hay chỉ của ta, thì ắt là ta đã tha cho Minh giáo các vị
Giọng nói của hắn nhỏ dần, khi hồi tưởng chuyện mấy chục năm trước, hắn chậm rãi kể tiếp:
– Đêm hôm đó, ta lại cùng sư muội gặp nhau trong đường hầm bí mật, đột nhiên nghe phía bên trái có tiếng thở hổn hển từng chặp vọng sang. Việc này chưa bao giờ xảy ra, đường hầm này cực kỳ kín đáo, người ngoài không thể có cách nào vào được, còn người trong Minh giáo thì ai dám bước vào đây? Hai ta nghe tiếng thở đó thì cả kinh, lần bước theo xem là ai, thấy Dương Đính Thiên đang ngồi trong một căn phòng nhỏ, tay cầm một miếng da dê, mặt đỏ bừng như máu. Y thấy hai đứa ta, bèn nói: “Hai đứa ngươi giỏi lắm, giỏi lắm, đối với ta thế đấy!” Nói xong, mặt y hóa thành xanh lè, rồi lại chuyển sang màu đỏ như máu; tiếp đó lại hóa thành xanh lè, rồi lại đỏ như máu; trong giây lát đổi màu ba lần. Dương tả sứ, ngươi có biết công phu đó là gì không?
Dương Tiêu nói:
– Đó là thần công Càn khôn đại na di của bổn giáo.
Chu Điên hỏi:
– Dương Tiêu, có phải ngươi cũng đã luyện thành rồi phải không?
Dương Tiêu đáp:
– Hai chữ “luyện thành” làm sao dám nói? Năm xưa giáo chủ mến ta, có truyền cho một chút công phu nhập môn thô thiển của thần công ấy. Ta luyện hơn mười năm cũng mới đến bậc thứ hai thôi. Luyện thêm nữa thì chân khí như muốn nổ tung óc mà ra, không cách gì chế ngự được. Mặt Dương giáo chủ trong chốc lát có thể biến màu ba lần, tức là đã luyện tới bậc thứ tư. Dương giáo chủ bảo rằng trong các giáo chủ bản giáo từ xưa tới nay, chỉ có Chung giáo chủ đời thứ tám võ công cao hơn cả, nghe đâu luyện tới bậc thứ năm môn thần công Càn khôn đại na di, song ngay hôm luyện thành đã bị tẩu hỏa nhập ma mà chết. Từ đó về sau, chưa có ai luyện đến bậc thứ tư cả.
Chu Điên hỏi:
– Khó đến thế sao?
Thiết Quan đạo nhân nói:
– Nếu không khó thế, sao có thể gọi là thần công hộ giáo của Minh giáo ư?
Các cao thủ võ học trong Minh giáo đều nghe danh “Càn khôn đại na di” từ lâu, lòng vốn ngưỡng mộ, cho nên vừa nhắc tới, tuy đang trong cảnh nguy cấp nhưng ai cũng muốn bàn góp vài câu.
Bành Oánh Ngọc nói:
– Dương tả sứ, Dương giáo chủ luyện thần công đó tới bậc thứ tư, sao lại làm đổi màu sắc mặt được?
Bành hòa thượng hỏi chuyện ngoài lề cũng là có thâm ý, biết Viên Chân chỉ cần đi vài bước nữa là từng người một sẽ bỏ mạng dưới tay hắn, nên dụ cho hắn bàn luận chuyện ngày xưa hòng kéo dài thời gian, chỉ cần trong bảy cao thủ của Minh giáo có một người phục hồi công lực, chống trả với hắn một phen thì dẫu không địch nổi nhưng cục diện có thể thay đổi, còn hơn bó tay chịu chết như bây giờ.
Dương Tiêu lẽ nào không hiểu thâm ý của Bành hòa thượng? Y bèn nói:
– Nguyên lý chính yếu của thần công “Càn khôn đại na di” là hai khí càn khôn, một cương một nhu, một âm một dương, đổi qua đổi lại. Trên mặt hiện sắc xanh hay sắc đỏ, là do huyết dịch trong cơ thể lên xuống, chân khí biến đổi mà ra. Nghe đâu khi luyện đến bậc thứ sáu, toàn thân có thể lúc xanh lúc đỏ, đến bậc thứ bảy thì hai khí âm dương thay đổi chỉ ở bên trong, không hề bộc lộ ra ngoài.
Bành Oánh Ngọc sợ Viên Chân sốt ruột, bèn hỏi hắn:
– Viên Chân đại sư, Dương giáo chủ của chúng tôi vì lẽ gì mà quy thiên?
Viên Chân cười khẩy, nói:
– Các vị sau khi trúng “Ảo Âm Chỉ” của ta, ta nghe các vị vận khí hô hấp thì biết trong vòng hai canh giờ chưa thể cử động nổi đâu. Các vị định kéo dài thời gian, tự vận khí giải cứu, ta nói thẳng cho các vị hay là chẳng kịp đâu. Các vị đều là cao thủ võ học, bị thương nặng thế, vận khí từ nãy đến giờ lẽ ra phải biến chuyển tốt, song chỉ thấy thân thể càng lúc càng cứng đờ phải không?
Bọn Dương Tiêu, Bành Oánh Ngọc vốn biết vậy, nhưng còn một hơi thở thì vẫn chưa chịu bó tay.
Chỉ nghe Viên Chân nói tiếp:
– Bấy giờ ta thấy mặt Dương Đính Thiên biến sắc lạ lùng, trong bụng thật sự kinh hoảng. Sư muội ta biết y võ công cao siêu, chỉ ra tay là giết được hai ta ngay, bèn nói: “Đính Thiên, mọi sự đều do thiếp tệ hại, chàng hãy tha cho Thành sư ca xuống núi, rồi trừng phạt thiếp thế nào thiếp cũng xin chịu hết”. Dương Đính Thiên nghe nàng nói thế, lắc đầu, chậm rãi nói: “Ta lấy nàng, nhưng không lấy được trái tim nàng”. Chỉ thấy hai mắt y mở trừng trừng, đột nhiên từ khóe mắt chảy xuống hai dòng máu tươi, thân hình ngay đơ, không động đậy gì nữa. Sư muội ta cả kinh, kêu lên: “Đính Thiên, Đính Thiên, chàng làm sao thế?”
Viên Chân kể tới đây, giọng nói tuy nhỏ, nhưng ai nấy nghe rõ trong đêm khuya vắng, nghĩ đến tình trạng hai mắt chảy máu của Dương Đính Thiên, đều bất giác rùng mình.
Viên Chân kể tiếp:
– Nàng gọi mấy lần, Dương Đính Thiên vẫn không cử động. Sư muội ta lấy hết can đảm, tới bên kéo tay y thì đã cứng ngắc; thử đằng mũi, thấy y tắt thở rồi. Ta biết nàng vô cùng đau khổ, bèn an ủi: “Chắc là y đang luyện môn võ công cực khó, đột nhiên bị tẩu hỏa, chân khí chạy ngược lên, nên hết cách cứu”. Sư muội ta nói: “Đúng thế, chàng đang luyện môn võ công thượng thừa của Minh giáo là “Càn khôn đại na di”, đúng vào thời khắc quyết định lại bất ngờ phát hiện hai ta hò hẹn tư tình nơi đây, tuy không phải muội chính tay giết chàng, song chàng đã vì muội mà phải chết”.
– Ta đang định khuyên giải vài lời, nàng đột nhiên chỉ về phía sau lưng ta, quát: “Ai đó?” Ta vội quay đầu lại, không thấy bóng ai cả, nhìn trở lại đã thấy một con dao găm cắm sâu ngực trái nàng, nàng đã tự sát rồi.
Ôi, Dương Đính Thiên bảo rằng “Ta lấy nàng, nhưng không lấy được trái tim nàng”. Còn ta chiếm được trái tim sư muội, nhưng vẫn không lấy được nàng. Nàng là người mà suốt đời ta yêu nhất, kính nhất; ví thử Dương Đính Thiên không nhảy vào phá đám, nhân duyên đẹp đẽ của ta đâu bị kết cục bi thảm như thế? Ví thử Dương Đính Thiên không làm giáo chủ Ma giáo, sư muội ta đời nào chịu lấy một kẻ lớn hơn nàng hai mươi mấy tuổi như y? Dương Đính Thiên chết rồi, ta đâu làm gì được y nữa, song Ma giáo vẫn còn hoành hành trong thiên hạ. Lúc đó ta mới chỉ vào thi thể Dương Đính Thiên và sư muội ta mà thề: “Thành Côn ta thề sẽ làm hết sức mình diệt trừ Ma giáo, ngày đại công cáo thành, ta sẽ đến trước hai người tự vẫn”. Ha ha, Dương Tiêu, Vi Nhất Tiếu, các vị chết tới nơi rồi, cái mạng của Thành Côn ta cũng chả còn bao lâu nữa, có điều tâm nguyện của ta đã hoàn thành, ta vui vẻ mà tự vẫn, sung sướng hơn các vị bội phần. Những năm qua, không giờ khắc nào ta không trù tính cách hủy diệt Ma giáo. Ôi, Thành Côn ta một đời bất hạnh, ái thê bị người ta cướp mất, có một đệ tử yêu độc nhất thì nó cũng căm hận ta tận xương tủy…
Trương Vô Kỵ thấy hắn nhắc đến Tạ Tốn thì vội chăm chú nghe. Thế nhưng lúc này Cửu dương chân khí trong cơ thể càng lúc càng tràn ngập, tưởng chừng tứ chi xương cốt chỗ nào cũng căng lên, phình ra, từng thớ thịt muốn vỡ tung, mỗi sợi tóc tựa hồ nở to ra vài lần.
Chỉ nghe Viên Chân kể tiếp:
– Sau đó ta rời đỉnh Quang Minh, trở về Trung nguyên, ghé thăm gã đệ tử yêu đã nhiều năm chưa gặp là Tạ Tốn. Ai ngờ vừa trò chuyện, thì ta mới biết y hiện là một trong Tứ đại hộ giáo pháp vương của Ma giáo. Ta tuy lui tới trên đỉnh Quang Minh một thời gian dài, song chỉ toàn tâm chú ý tới sư muội ta, mọi chuyện trong Ma giáo vốn chẳng để tâm, ngay sư muội ta cũng chẳng bao giờ nhắc đến chuyện của Ma giáo. Thành thử việc đệ tử của ta giữ địa vị cao trong Ma giáo, tự y nói ra thì ta mới biết. Y còn ra sức khuyên ta gia nhập Ma giáo, nào là cần đồng tâm hiệp lực đánh đuổi bọn Thát tử Hồ Lỗ. Ta giận quá, nhưng chợt nghĩ thầm: “Ma giáo người nhiều thế mạnh, bám rễ sâu xa, cao thủ đông đảo, ta đơn độc một mình, diệt sao nổi bọn chúng? Chẳng nói một mình ta, dẫu có liên thủ hào kiệt võ lâm thiên hạ, cũng chắc gì hủy diệt nổi. Chỉ có một cách duy nhất là từ bên trong xúi giục để bọn chúng tàn sát lẫn nhau, tự chúng diệt chúng”.
Bọn Dương Tiêu nghe thế liền kinh sợ, bao năm nay cả bọn như người bị bịt mắt, đâu ngờ đại địch ở ngay bên cạnh luôn chuyên tâm tìm cách hủy diệt Minh giáo. Thế mà mọi người lại đi tranh đoạt chức giáo chủ, đánh phá nhau rối loạn cả lên. Lời lẽ của Viên Chân vừa nói khác nào cây gậy giáng vào đầu khiến họ choàng tỉnh.
Lại nghe Viên Chân nói tiếp:
– Bấy giờ ta thản nhiên như không, chỉ nói đây là việc lớn cần phải suy nghĩ kỹ. Vài hôm sau, ta đột nhiên giả bộ say rượu, cố ý cưỡng bức thê tử của Tạ Tốn, rồi giết luôn phụ mẫu thê tử của y. Ta biết rằng làm như thế sẽ khiến Tạ Tốn hận ta thấu xương, nhất định sẽ tìm ta báo thù, tìm không được sẽ nhắm mắt làm bừa. Ha ha, biết trò không ai bằng thầy, gã Tạ Tốn chuyện gì cũng giỏi, văn tài võ công đều hơn người, có điều gã là kẻ dễ bị kích động, không chịu suy nghĩ sâu xa về tiền nhân hậu quả…
Trương Vô Kỵ nghe đến đây, trong lòng cả giận, nghĩ thầm: “Thì ra bao nhiêu bất hạnh mà nghĩa phụ gặp phải đều do lão tặc Thành Côn này ngấm ngầm sắp đặt cả. Tên giặc già không phải say rượu nổi thú tính, mà là âm mưu sắp đặt như thế”.
Lại nghe Viên Chân dương dương đắc ý nói:
– Tạ Tốn lạm sát giang hồ hảo hán, nơi nào cũng để lại tên ta, tưởng làm thế sẽ buộc ta xuất đầu lộ diện, ha ha, ta đời nào ló mặt ra kia chứ? Đã không muốn người khác biết, chỉ có cách đừng làm, Tạ Tốn gây bao nhiêu thù oán, tất cả rồi sẽ trút lên đầu Ma giáo. Gã giết người đôi khi cũng gặp nguy hiểm, ta liền kín đáo giải nguy cho gã, gã là con dao ta dùng để giết người, lẽ nào ta để cho gã bị người ta làm hại? Ngoại địch của Ma giáo các vị ngày càng nhiều, các vị cao thủ trong giáo lại ra sức tranh giành ngôi giáo chủ, không ngừng cắn xé nhau, tất cả đều rơi vào mưu kế của ta. Tạ Tốn không giết Tống Viễn Kiều tuy cũng đáng tiếc, nhưng gã đã đánh chết Không Kiến thần tăng, đả thương Không Động ngũ lão, lấy mạng không ít hảo thủ trên Vương Bàn sơn đảo, ngay cả đàn chủ của Thiên Ưng giáo là bằng hữu lâu năm của Ân Thiên Chính, gã cũng không tha… Đồ đệ thế mới là đồ đệ giỏi, không uổng công ta năm xưa tận tâm truyền dạy võ công cho gã!
Dương Tiêu lạnh lùng nói:
– Như vậy là ngay cả sư phụ Không Kiến thần tăng của ngươi cũng bị ngươi dùng độc kế hại chết?
Viên Chân cười đáp:
– Ta bái Không Kiến thần tăng làm sư phụ, đâu phải thật lòng! Lão ấy được ta rập đầu lạy vài cái, rồi chịu mất mạng vì ta, cũng không thiệt gì cho cam, ha ha, ha ha!
Trong lúc Viên Chân cười ha hả, Trương Vô Kỵ giận muốn phát điên, tai ù đi, đột nhiên ngất xỉu nhưng lại tỉnh ngay. Trong đời chàng từng bị khinh rẻ, làm nhục, chàng đều thản nhiên; song nghĩ đến nghĩa phụ là một hảo hán hiên ngang như thế, rốt cục lại bị Thành Côn dùng độc kế làm cho gia phá nhân vong, thân bại danh liệt, mù cả hai mắt, sống bơ vơ một mình nơi hoang đảo chờ chết, mối thâm cừu đại hận đó lẽ nào không báo?
Nộ khí trong ngực dâng lên, Cửu dương chân khí tràn ngập toàn thân càng bùng phát mãnh liệt, nhưng không có chỗ thoát ra ngoài, cái túi Càn khôn nhất khí cứ phồng to dần lên, nhưng cả bọn Dương Tiêu đang mải nghe Viên Chân kể chuyện, nên chẳng có ai để ý đến sự thay đổi hình dạng của cái túi. Mọi người lại nghe Viên Chân nói:
– Dương Tiêu, Chu Điên, Thiết Quan đạo nhân, Bành Oánh Ngọc, Vi Nhất Tiếu, các vị còn gì muốn hỏi ta nữa hay không?
Dương Tiêu thở dài, đáp:
– Sự đã như thế, còn gì để nói kia chứ? Viên Chân đại sư, đại sư có thể tha mạng cho con gái ta được chăng? Mẹ nó là Kỷ Hiểu Phù phái Nga Mi, xuất thân danh môn chính phái, chưa gia nhập Minh giáo.
Viên Chân nói:
– Nuôi hổ để họa, nhổ cỏ phải nhổ tận gốc!
Nói xong hắn bước tới một bước, giơ chưởng ra thong thả giáng xuống đầu Dương Tiêu.
Trương Vô Kỵ ở trong cái túi, biết sự thể đang cực kỳ khẩn cấp, liền bất chấp tình trạng toàn thân nóng như thiêu, nghe tiếng đoán vị trí, tung mình lao tới trước Viên Chân, giơ tay trái qua lớp vải mà gạt hữu chưởng của hắn đi.
Viên Chân lúc này mới gắng gượng hành động, nguyên khí chưa phục hồi, bị Trương Vô Kỵ gạt ra thì thân hình lảo đảo, lùi lại một bước, quát:
– Tiểu tử, mi… mi…
Hắn định thần, tiến lên, nhắm cái túi vải đánh một chưởng. Chưởng này không chạm vào người Trương Vô Kỵ, còn bị cái túi hất dội ra, khiến hắn phải lùi hai bước, cả kinh chưa hiểu tại sao.
Trương Vô Kỵ lúc này miệng khô lưỡi đắng, đầu váng mắt hoa, Cửu dương chân khí trong cơ thể đã căng phồng như sắp nổ tung, nếu cái túi Càn khôn nhất khí vỡ ra trước, chàng sẽ thoát hiểm, nếu không chế ngự nổi luồng chân khí mãnh liệt trong cơ thể, da thịt chàng sẽ vỡ ra, và cháy xém như bị quay trong lò.
Viên Chân thấy cái túi quái lạ, liền tiến lên hai bước, lại tung chưởng đánh tới, lần này hắn cũng bị dội ra, phải lùi một bước; song cái túi cũng bị chưởng của hắn đánh lăn đi mấy vòng như một trái cầu da thật lớn. Trương Vô Kỵ ở trong cái túi, lăn qua lăn lại, tức ngực khó thở, cố phình bụng để tống khí ra ngoài. Nhưng bản thân cái túi đang căng đầy khí, muốn thở một hơi khí ra cũng càng lúc càng khó. Viên Chân liên tiếp đấm ba quyền, đá hai cái tất thảy đều bị khí trong túi đẩy bật lại, Trương Vô Kỵ ở bên trong không hay biết. Cũng may cho Viên Chân là hắn chỉ đánh vào cái túi, chứ nếu trúng người Trương Vô Kỵ, lúc này chân khí trong cơ thể chàng đang ngập tràn, chắc chắn chân tay Viên Chân sẽ bị thương.
Bọn Dương Tiêu, Vi Nhất Tiếu bảy người thấy chuyện lạ kỳ, đều ngẩn cả ra. Cái túi là của Thuyết Bất Đắc, chính ông ta cũng không hiểu tại sao nó lại căng phồng lên như trái cầu, cũng chẳng biết Trương Vô Kỵ ở trong đó còn sống hay đã chết.
Chỉ thấy Viên Chân rút từ thắt lưng ra một con dao nhọn đâm thật mạnh vào cái túi, nhưng cái túi chỉ lõm vào chứ không thủng. Cái túi này chất liệu thật diệu kỳ, không phải tơ cũng chẳng phải bằng da, là một dị vật của trời đất; con dao của Viên Chân lại không phải là bảo đao, đâm liền mấy nhát vẫn không chọc thủng được. Viên Chân thấy đấm đá đâm chọc đều vô hiệu, thì nghĩ thầm: “Việc gì ta phải dây dưa với tên tiểu tử này?” bèn tung chân đá một cái thật mạnh cho cái túi lăn ra cửa sảnh.
Lúc này cái túi đã căng phồng thành một trái cầu lớn, đụng phải cửa sảnh, nó liền bật trở lại lao thẳng vào người Viên Chân. Viên Chân thấy nó lăn quá nhanh, vội dùng cả hai tay tống mạnh đi.
Chỉ nghe “đùng” một tiếng thật lớn như tiếng sấm giữa trời quang, các mảnh vải bay tứ tung như bươm bướm, cái túi Càn khôn nhất khí đã bị Cửu dương chân khí trong người Trương Vô Kỵ phá vỡ tan.
Viên Chân, Dương Tiêu, Thuyết Bất Đắc cả bọn đều cảm thấy một khí nóng rực phả vào người, một thanh niên áo quần rách bươm xuất hiện trước mặt, mặt mày ngơ ngác.
Nguyên lúc này Cửu dương thần công mà Trương Vô Kỵ tu luyện vừa đại công cáo thành, thủy hỏa ký tế, long hổ giao hội. Nên biết, chàng ở bên trong cái túi vải căng phồng kia chẳng khác nào có hàng chục cao thủ cùng ra sức xoa bóp mọi đại huyệt trên cơ thể chàng, chân khí bên trong thì cuồn cuộn, mấy chục huyền quan trên kinh mạch đều được khai thông, tưởng như có một dòng nước ấm chảy tới mọi ngõ ngách cơ thể, khoan khoái vô cùng. Cơ duyên này xưa nay chưa ai được gặp, mà cái túi kia vỡ tan rồi, sau này cũng chẳng ai có dịp may một cái tương tự nữa.
Viên Chân thấy chàng trai trong túi thần sắc bất định, ngơ ngác hoang mang; còn mình bị trọng thương chưa khỏi, nếu không chớp lấy cơ hội, để đối phương ra tay trước thì quá ư nguy hiểm; hắn bèn sấn tới, ngón trỏ tay phải chỉ ra, vận nội kình “Ảo Âm Chỉ” điểm thẳng vào huyệt Đản Trung trên ngực Trương Vô Kỵ.
Trương Vô Kỵ đưa tay gạt ra, lúc này thần công của chàng đã thành tựu, nhưng chiêu số võ thuật lại quá tầm thường, võ công do Tạ Tốn và phụ thân truyền dạy thì chưa dung hội quán thông, làm sao chọi nổi một cao thủ tuyệt đỉnh như Viên Chân? Chỉ một chiêu thôi đã khiến huyệt Dương Trì ở cổ tay chàng bị điểm trúng, cơ thể lập tức run lên bần bật, phải lùi một bước, song chân khí sung mãn trong cơ thể chàng cũng đã tràn sang ngón tay của Viên Chân. Hai luồng lực đạo một âm một dương đối chọi nhau, có điều nội lực của Trương Vô Kỵ do Cửu dương thần công sinh ra nên thâm hậu hơn nhiều. Ngón tay Viên Chân vừa thấy nóng rực, kình lực toàn thân như biến đâu mất cả, hắn lại vừa bị thương chưa kịp phục hồi, công lực kém hẳn lúc bình thời, biết tình thế trước mắt bất lợi, thoát thân giữ mạng là cần nhất nên lập tức quay mình bỏ chạy.
Trương Vô Kỵ giận dữ chửi:
– Tên đại ác tặc Thành Côn, mau nạp mạng!
Chàng đuổi theo ra cửa, chỉ thấy bóng Viên Chân thoáng một cái đã chạy vào một cửa hông. Chàng cả giận, nhanh chân rượt theo. Đang chạy, bỗng “bình” một tiếng, trán chàng đập mạnh vào khung cửa. Thì ra chàng chưa biết rằng mình đã luyện thành Cửu dương thần công, mỗi lần vung tay, co chân đều mạnh gấp mười lần bình thường, vừa rảo bước đã vọt đi ngoài tầm kiểm soát, nên mới va vào cửa.
Chàng đưa tay xoa trán, chỉ thấy hơi đau, chợt nghĩ thầm: “Sao mình lại có tà môn này, vừa nhấc chân đã lao nhanh đến thế?” Chàng vội tiến vào cửa hông, thấy có một tiểu sảnh. Chàng quyết ý báo thù cho nghĩa phụ, liền xuyên qua sảnh đường rượt theo.
*
* *
Phía sau sảnh là một tòa nhà lớn, ở đây trồng hoa, hương thơm thoang thoảng; thấy căn phòng phía tây có ánh đèn hắt ra, chàng bèn nhảy tới, đẩy cửa vào, thấy một cái bóng xám vụt một cái, Viên Chân đã vén rèm chạy vào phòng trong.
Trương Vô Kỵ cũng vén rèm chạy vào, nhưng không thấy Viên Chân đâu nữa. Chàng nhìn kỹ, bất giác thầm lạ lùng, thì ra đây là khuê phòng của một tiểu thư phú gia. Cạnh cửa sổ đặt bàn trang điểm, cây nến đỏ chiếu sáng các thứ gấm vóc lụa là trong phòng, trông sang trọng chả kém gì ở nhà Chu Cửu Chân. Góc phòng kê một chiếc giường trướng rủ màn che, bên chân giường có một đôi hài con gái thêu màu đỏ, hẳn có người nằm ngủ trên giường. Khuê phòng chỉ có một lối vào, các cửa sổ đều đóng chặt, rõ ràng thấy Viên Chân lẻn vào đây, nhưng chỉ chớp mắt hắn đã mất tăm, chẳng lẽ hắn có tài tàng hình hay sao? Hoặc giả hắn không nề hà là kẻ tu hành mà cứ ngang nhiên chui vào giường phụ nữ?
Trong lúc chàng đang phân vân chưa biết có nên vạch màn ra tìm kẻ địch hay không, bỗng có tiếng chân người đi tới. Trương Vô Kỵ vội nép mình vào sau chiếc áo lông treo trên tường phía tây, thì có hai người đi vào buồng. Chàng từ sau áo ngó ra, thấy cả hai đều là thiếu nữ, mặc áo dài thêu màu vàng nhạt, trang phục sang trọng; người thứ hai nhỏ tuổi hơn, mặc áo vải xanh là tiểu a hoàn, nói:
– Tiểu thư, khuya lắm rồi, mời tiểu thư nghỉ thôi ạ.
Tiểu thư kia xoay tay tát mạnh vào mặt a hoàn. Đứa tớ gái loạng choạng lùi lại một bước, tiểu thư cũng hơi loạng choạng, quay mặt lại, Trương Vô Kỵ nhìn rõ ràng dưới ánh nến, thấy nàng có cặp mắt to đen láy, khuôn mặt bầu bầu, chính là Dương Bất Hối, người mà chàng đã không quản vạn dặm đường xa, đưa cô bé từ Trung nguyên đến Tây Vực.
Sau bấy năm xa cách, thân hình Dương Bất Hối đã cao lớn hơn nhiều, nhưng thần thái vẫn y như trước, nhất là khóe miệng cong cong lên hồi nhỏ, nay càng lộ rõ hơn. Chỉ nghe Bất Hối mắng đầy tớ:
– Mi bảo ta đi ngủ, hừ, sáu phái lớn vây đánh đỉnh Quang Minh, phụ thân ta đang bàn kế sách với mọi người, cả đêm nay chưa chắc xong, lão nhân gia chưa nghỉ, làm sao ta ngủ được? Tốt hơn cả là phụ thân ta bị người ta giết hại, ta cũng bị mi giết chết luôn, cả thiên hạ này sẽ là của mi hết.
Tiểu a hoàn đâu dám biện bạch, đỡ tiểu thư ngồi xuống. Dương Bất Hối nói:
– Mau đem kiếm tới đây cho ta!
Tiểu a hoàn tới bên vách lấy thanh trường kiếm treo ở đó. Hai chân a hoàn bị nối với nhau bằng một sợi xích sắt; hai cổ tay cũng có một sợi xích khác thòng lại; chân trái khập khiễng, sống lưng gù, cong như cánh cung, đến lúc a hoàn lấy thanh kiếm và quay đầu lại, Trương Vô Kỵ còn kinh ngạc hơn, thấy nó mắt phải nhỏ, mắt trái to, mũi và khóe miệng méo xệch, hình dạng thật đáng sợ. Chàng nghĩ thầm: “Cô bé này còn xấu xí hơn cả Thù Nhi. Thù Nhi là do trúng độc nên mặt mày sưng u, còn có thể trị được, chứ cô bé này là tàn tật bẩm sinh”.
Dương Bất Hối cầm thanh kiếm, nói:
– Kẻ địch có thể tới bất cứ lúc nào, ta cần đi ra ngoài tuần tra.
Tiểu a hoàn nói:
– Để con đi theo tiểu thư, lỡ gặp địch, cũng có thêm một người trợ giúp.
Giọng cô ta ú ớ, khàn khàn, ồ ồ khó nghe, tưởng như giọng của một gã nam nhân trung niên thô lỗ. Dương Bất Hối nói:
– Ai cần mi giả vờ tử tế?
Tay trái nàng xoay một cái đã nắm chặt mạch môn tiểu a hoàn, nó không cử động gì được, run run kêu:
– Tiểu thư… tiểu… thư…
Dương Bất Hối cười khẩy, nói:
– Địch nhân lũ lượt kéo đến tấn công, cha con ta sống chết chỉ còn sớm tối, mi chắc là do bọn địch phái đến phục sẵn trên đỉnh Quang Minh chứ gì? Cha con ta không đời nào để cho mi hành hạ đâu! Hôm nay ta giết mi trước.
Nói xong Dương Bất Hối xoay thanh kiếm đâm luôn vào cổ tiểu a hoàn.
Trương Vô Kỵ từ lúc biết tiểu a hoàn này thân thể tàn tật, thì thầm thương hại nó, đột nhiên thấy Dương Bất Hối giơ kiếm đâm nó, trong lúc nguy cấp chẳng kịp suy nghĩ, chàng lập tức phi thân ra, búng vào lưỡi kiếm một cái. Dương Bất Hối cầm kiếm không vững, nghe “keng” một tiếng, thanh kiếm đã rơi xuống đất. Tay nàng vừa tuột kiếm, hai ngón trỏ và giữa chọc luôn vào mắt Trương Vô Kỵ. Chiêu này vốn chỉ là chiêu “Song long sang châu” tầm thường, không có gì kỳ lạ, nhưng nàng được cha chỉ dạy mấy năm nay nên sử dụng cũng rất có uy lực. Trương Vô Kỵ nhảy lùi về phía sau, buột miệng kêu lên:
– Bất Hối muội muội, là ta đây!
Dương Bất Hối nghe chàng gọi bốn tiếng “Bất Hối muội muội” thì sững người, hỏi:
– Có phải là Vô Kỵ ca ca đấy không?
Nàng chỉ nhận ra thanh âm ngữ điệu của bốn tiếng “Bất Hối muội muội” chứ chưa nhận ra diện mạo của Trương Vô Kỵ.
Trương Vô Kỵ hơi ân hận, nhưng không thể chối được nữa, đành nói:
– Ta đây, Bất Hối muội muội, mấy năm qua muội có khỏe không?
Dương Bất Hối định thần nhìn kỹ, thấy chàng áo quần rách rưới, mặt mày bẩn thỉu, trong bụng nghi ngại, nói:
– Có… có đúng là Vô Kỵ ca ca không? Sao mà… sao lại tới được chốn này?
Trương Vô Kỵ nói:
– Đó là Thuyết Bất Đắc mang ta lên đỉnh Quang Minh, Viên Chân lão hòa thượng chạy vào buồng này, rồi đột nhiên không thấy đâu nữa, buồng này còn lối ra nào khác không?
Dương Bất Hối ngạc nhiên hỏi:
– Viên Chân hòa thượng nào chứ? Ai vào căn buồng này vậy?
Trương Vô Kỵ đang nóng lòng đuổi theo Viên Chân, nếu kể đầu đuôi câu chuyện thì quá dài, chỉ nói:
– Cha muội bị thương ở đại sảnh, muội hãy mau ra đó xem sao.
Dương Bất Hối cả kinh, vội nói:
– Muội phải ra xem gia gia mới được.
Nói rồi tiện tay nhắm ngay đỉnh đầu tiểu a hoàn đánh một chưởng, ra tay cực nặng. Trương Vô Kỵ kêu lên:
– Đừng làm thế!
Chàng giơ tay đẩy vai Dương Bất Hối một cái, chưởng của nàng ta rơi vào khoảng không.
Dương Bất Hối hai lần toan giết tiểu a hoàn, đều bị Vô Kỵ ngăn cản, bèn xẵng giọng quát:
– Vô Kỵ ca ca, ca ca cùng phe với con a hoàn này hả?
Trương Vô Kỵ ngơ ngác nói:
– Nó là đầy tớ của muội, ta mới gặp nó lần đầu, cái gì mà cùng phe?
Dương Bất Hối nói:
– Ca ca đã không biết nội tình thì đừng lo chuyện bao đồng! Con a hoàn này đối đầu với gia đình muội, phụ thân muội xích chân tay nó lại là đề phòng nó hại muội đó. Hiện giờ địch nhân ùa tới tập kích, con a hoàn này sẽ thừa cơ báo thù.
Trương Vô Kỵ thấy cô bé kia đáng thương, tuy hình dáng xấu xí, nhưng không có vẻ gì hung ác, bèn nói:
– Này cô nương, cô nương có ý định thừa cơ báo thù không đấy?
Tiểu a hoàn lắc đầu:
– Không đời nào dám thế.
Trương Vô Kỵ nói:
– Bất Hối muội muội, muội nghe đó, nó không làm thế đâu, muội hãy tha cho nó đi.
Dương Bất Hối nói:
– Được, ca ca đã nói vậy, úi chà…
Thân hình nàng nghiêng qua, lảo đảo đứng không vững. Trương Vô Kỵ vội giơ tay đỡ, đột nhiên hai huyệt Huyền Khu, Trung Khu ở sau lưng đau nhói lên, người ngã chúi xuống đất. Thì ra Dương Bất Hối sợ chàng ngăn cản, bèn dụ chàng lại gần, dùng cái nhẫn điểm huyệt ở ngón tay giữa điểm liền hai đại huyệt. Sau khi đánh ngã Trương Vô Kỵ, nàng xoay tay phải lại, nhắm ngay huyệt Thái Dương bên phải của tiểu a hoàn mà đánh tới.
Nhưng tay chưa đụng tới đích, thì Dương Bất Hối bỗng thấy đan điền nóng bỏng, toàn thân tê dại, đành tự buông cổ tay tiểu a hoàn ra, hai đầu gối mềm đi, ngồi phịch xuống ghế. Thì ra nàng dùng sức đánh mạnh vào huyệt đạo của Trương Vô Kỵ, thần công của chàng mới thành tựu, Cửu dương chân khí tuy chưa có tác dụng hộ thể, nhưng đã tự dội lại, xung ngược khắp các kinh lạc trong cơ thể Dương Bất Hối.
Tiểu a hoàn nhặt thanh kiếm dưới đất lên, nói:
– Tiểu thư, tiểu thư cứ nghi con muốn hại tiểu thư. Bây giờ nếu con muốn giết tiểu thư, thật quá dễ dàng; nhưng con không có ý đó đâu.
Nói xong tra kiếm vào bao, treo lại chỗ cũ.
Trương Vô Kỵ đứng dậy, nói:
– Muội xem, ta nói có sai đâu.
Sau khi bị đánh vào huyệt, trong giây lát chân khí liền xung giải, chàng có thể lập tức hành động.
Dương Bất Hối trân trân nhìn chàng, vô cùng kinh hãi. Lúc này chân tay đã hết tê dại, nhớ đến sự an nguy của phụ thân, bèn đứng dậy nói:
– Cha muội bị thương thế nào? Vô Kỵ ca ca, ca ca ở đây chờ muội, gặp lại sau vậy. Mấy năm nay ca ca thế nào? Muội luôn nhớ ca ca…
Vừa nói nàng vừa chạy ra ngoài.
Trương Vô Kỵ hỏi tiểu a hoàn:
– Cô nương, gã hòa thượng ấy chạy vào buồng này rồi đột nhiên biến mất, cô nương có biết, liệu căn buồng này có đường hầm nào chăng?
Tiểu a hoàn hỏi lại:
– Công tử nhất thiết phải đuổi lão ta bằng được ư? Trương Vô Kỵ nói:
– Lão hòa thượng ấy thương thiên hại lý, gây ra vô vàn tội nghiệt, ta… ta… dù phải đến tận chân trời góc biển, cũng quyết đuổi theo hắn tới cùng.
Tiểu a hoàn ngẩng lên nhìn vào mặt chàng. Trương Vô Kỵ nói:
– Cô nương, nếu cô nương biết, xin hãy chỉ đường cho!
Tiểu a hoàn cắn môi, nghĩ giây lát, thấp giọng nói:
– Tính mệnh con do công tử cứu, được rồi, để con đưa công tử đi.
Cô bé thổi tắt nến, nắm tay Trương Vô Kỵ kéo đi.
Trương Vô Kỵ đi theo cô bé vài bước đã tới bên giường. Tiểu a hoàn vén trướng lên, chui vào trong, tay vẫn nắm tay Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ giật mình, nghĩ thầm, con a hoàn này tuy còn nhỏ, lại xấu xí, nhưng dẫu gì cũng là nữ giới, làm sao có thể ngủ chung một giường với cô ta? Huống hồ lúc này đuổi theo kẻ địch là việc gấp, bèn rụt tay về. Tiểu a hoàn nói nhỏ:
– Cửa đường hầm ở trong giường!
Chàng nghe mấy chữ đó, tinh thần phấn chấn hẳn lên, chẳng còn hiềm nam nữ gì nữa, chỉ thấy tiểu a hoàn lật tấm chăn lên, nằm ngang trên giường, kéo chàng nằm xuống bên cạnh. Không biết cô bé động tới cái then chốt nào, ván giường bỗng lật nghiêng, cả hai người rơi xuống bên dưới.
Họ rơi đến vài trượng, nhưng may là bên dưới trải cỏ mềm rất dày, nên không bị đau chút nào, chỉ nghe phía trên một tiếng “cạch” nhỏ, chiếc giường đã trở lại như cũ. Trương Vô Kỵ thầm khen: “Cơ quan này bố trí khéo thật! Ai ngờ cửa đường hầm bí mật lại ở ngay trên giường của một tiểu thư khuê các”.
Chàng nắm tay tiểu a hoàn, chạy vội về phía trước.
Chạy vài trượng, nghe tiếng xích sắt của tiểu a hoàn kéo lê dưới đất, Trương Vô Kỵ chợt nghĩ thầm: “Cô bé này chân tập tễnh, lại vướng dây xích, mà sao chạy nhanh thế nhỉ?” bèn dừng bước. Tiểu a hoàn đoán được ý chàng, cười nói:
– Con giả vờ què để đánh lừa lão gia và tiểu thư đấy thôi.
Trương Vô Kỵ nghĩ bụng: “Thảo nào mẹ ta dặn rằng nữ nhi trong thiên hạ đều thích lừa người; hôm nay ngay cả Dương Bất Hối cũng đã ám toán ta”. Lúc này chàng đang mải đuổi theo kẻ địch, thành thử ý nghĩ đó chỉ thoáng qua, chàng chạy quanh co trong đường hầm chừng vài chục trượng, thì hết lối, không thấy Viên Chân đâu cả.
Tiểu a hoàn nói:
– Đường hầm này con cũng chỉ biết tới chỗ đây, chắc là còn có lối thông đi nơi khác, nhưng con không tìm ra cơ quan mở cửa.
Trương Vô Kỵ đưa tay sờ tứ phía, thấy vách đá lồi lõm, không hề có kẽ nứt, đưa tay đẩy thử những chỗ lồi lõm, chẳng thấy xê dịch chút nào. Tiểu a hoàn than:
– Con đã thử hàng mấy chục lần nhưng không tìm ra máy móc ở chỗ nào, thật kỳ lạ. Con cũng đã mang đuốc vào soi rất kỹ, mà không phát hiện chỗ nào có dấu vết khả nghi. Vậy lão hòa thượng ấy trốn đi đâu?
Trương Vô Kỵ hít một hơi, vận lực ra hai cánh tay, đẩy thử vào vách đá bên trái, không thấy nhúc nhích gì; lại qua bên phải đẩy thử. Lần này vách đá hơi lung lay. Chàng cả mừng, hít một hơi thật dài, lấy sức đẩy mạnh, vách đá từ từ lùi dần, thì ra đó là một cái cửa đá rất dày, cực lớn, cực nặng. Đường hầm bí mật trên đỉnh Quang Minh cấu trúc tinh xảo, chỗ thì dùng cơ quan bí ẩn, còn cái cửa đá này không có máy móc gì, song phải là người có sức khỏe trời phú hoặc võ công thượng thừa mới xê dịch nổi. Chẳng hạn tiểu a hoàn này tuy vào được tới đây, nhưng võ công không đủ, cũng đành bỏ cuộc nửa chừng.
Trương Vô Kỵ luyện Cửu dương thần công đã thành, có sức đẩy rất mạnh, nên đẩy cửa đá mở ra. Khi cánh cửa đá mở ra ba thước, chàng còn đánh một chưởng, đề phòng Viên Chân nấp ở phía sau cánh cửa đánh lén chăng, sau đó mới luồn vào.
Qua cửa đá rồi, trước mặt lại là một đường hầm dài, hai người theo đó mà đi, chỉ cảm thấy đường đi hơi xiên xiên xuống, càng đi càng xuống thấp, sau khoảng dăm chục trượng bỗng chia thành hai ngả. Trương Vô Kỵ đi thử vào một ngả, thì nó lại tỏa ra bảy nhánh, chưa biết rẽ theo nhánh nào, bỗng nghe bên trái, đằng trước có tiếng ho khẽ, tuy người ho cố nén lại nhưng giữa đêm khuya nghe vẫn rõ mồn một.
Trương Vô Kỵ nói nhỏ:
– Đi lối này!
Chàng tiến theo nhánh cuối cùng bên trái. Nhánh này chỗ cao chỗ thấp, dưới chân gập ghềnh khó đi; chàng cứ xông thẳng tới, nghe tiếng xích sắt loảng xoảng sau lưng không dứt, bèn quay đầu nói:
– Kẻ địch ở phía trước, tình thế nguy hiểm, cô nương cứ đi chầm chậm cũng được.
Tiểu a hoàn nói:
– Có nạn cùng chịu, chả sợ!
Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: “Ngươi cũng định lừa ta chăng?” Con đường theo hình xoáy trôn ốc đi dần xuống phía dưới, càng lúc càng hẹp dần, về sau chỉ đủ chỗ cho một người, tưởng như xuống một cái giếng sâu.
Đột nhiên chàng cảm thấy có một luồng gió ép xuống đầu, bèn nắm lấy thắt lưng tiểu a hoàn mà nhảy đại xuống bên dưới, chân trái vừa chạm đất liền nhào người về phía trước, chẳng cần biết trước mặt là hang sâu hay vách đá, vì đâu còn thời gian suy nghĩ. Rất may phía trước là một chỗ trống đủ cho hai người dung thân. Chỉ nghe “Sầm!” một tiếng cực mạnh, đất cát đá vụn rơi đầy mặt mũi.
Trương Vô Kỵ định thần, nghe tiểu a hoàn nói:
– Nguy hiểm quá, lão giặc trọc nấp bên cạnh, đẩy tảng đá lớn đè xuống chúng ta.
Trương Vô Kỵ đi ngược trở lại, tay phải giơ cao trên đầu, đi mấy bước thì bàn tay chạm phải mặt đá xù xì. Có tiếng Viên Chân truyền từ phía bên kia tảng đá vẳng sang:
– Tặc tiểu tử, hôm nay ta chôn mi ở đây, mi có một đứa con gái làm bạn là may cho mi lắm rồi. Mi khỏe lắm, để xem mi có đẩy nổi tảng đá này chăng? Một tảng đá còn ít, vậy ta cho thêm tảng nữa.
Chỉ nghe có tiếng sắt bẩy vào đá, rồi một tiếng “Sầm!” lớn, tảng đá thứ hai rơi xuống đè lên tảng thứ nhất.
Đường hầm này đủ rộng cho một người quay mình, Trương Vô Kỵ đưa tay sờ, tảng đá lớn tuy không bịt kín đường hầm, nhưng cùng lắm chỉ có thể đút lọt một cánh tay, chứ cả người không thể chui qua. Chàng hít một hơi, dùng hai tay lay thử, chỉ có đất cát rơi lả tả chứ tảng đá lớn chẳng hề nhúc nhích. Xem chừng hai tảng đá nặng đến mấy ngàn cân chồng lên nhau, dù có khỏe hơn vâm cũng không đẩy ra được. Tuy chàng đã luyện Cửu dương thần công, nhưng sức người có hạn, hai tảng đá to như hai cái gò thế kia làm sao xê dịch nổi?
Lại nghe Viên Chân ở phía bên kia tảng đá thở hổn hển, chắc là sau khi bị thương nặng, hắn còn gắng bẩy hai tảng đá nên đã kiệt sức, vừa thở vừa hỏi:
– Tiểu tử, tên mi… mi… là…
Sau chữ “là”, hắn hụt hơi, không nói nổi nữa.
Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: “Lúc này dẫu hắn có đổi ý, đột nhiên mở lòng từ bi, cứu hai người mình ra thì cũng không còn hơi sức nữa. Mình chẳng cần phí lời với hắn, phải tìm xem có lối thoát nào khác hay không”. Thế là chàng quay mình, theo đường hầm đi tiếp về phía trước.
Tiểu a hoàn nói:
– Con có mang theo đồ đánh lửa, chỉ tiếc không có đèn nến gì thôi.
Trương Vô Kỵ nói:
– Đừng đánh lửa vội.
Chàng đi tiếp, được mấy chục bước sau thì đến cuối đường hầm.
Hai người lần mò tứ phía, Trương Vô Kỵ sờ thấy một cái thùng gỗ, mừng rỡ nói:
– Có rồi!
Chàng giơ tay đập vỡ cái thùng gỗ, thấy bay ra nhiều bột, không hiểu là vôi bột hay bột mì. Chàng nhặt một mảnh gỗ, nói:
– Đánh lửa đi!
Tiểu a hoàn lấy hỏa đao, đá lửa, bùi nhùi, đánh lửa châm vào thanh gỗ, đột nhiên lửa cháy bùng lên chói mắt, thanh gỗ bén lửa cháy rất mạnh, hai người giật mình, ngửi thấy mùi diêm sinh khét lẹt, tiểu a hoàn nói:
– Thuốc súng đó!
Nàng giơ thanh gỗ lên coi kỹ thứ bột trong thùng, quả nhiên là thuốc súng đen sì. Nàng cười khúc khích, nói:
– Nếu vừa rồi tia lửa bắn ra bén vào thuốc súng, chỉ e cả lão hòa thượng tàn ác ở bên kia cũng tan xác rồi.
Nàng thấy Trương Vô Kỵ ngây người nhìn mình, mặt đầy vẻ kinh ngạc, bèn mỉm cười, hỏi:
– Công tử sao thế?
Trương Vô Kỵ thở dài, nói:
– Thì ra cô nương… cô nương xinh đẹp thế này… Tiểu a hoàn che miệng cười, nói:
– Con sợ quá, quên cả giả trang khuôn mặt.
Nói rồi nàng đứng thẳng người lên. Thì ra cô nàng không gù lưng, cũng chẳng khập khiễng, đôi mắt sâu thẳm có thần, mày dài mũi thẳng, má có lúm đồng tiền, trông xinh xắn lạ thường, có điều nàng tuổi còn nhỏ, thân thể chưa trưởng thành, dung nhan xinh xắn nhưng còn mang nét trẻ con. Trương Vô Kỵ hỏi:
– Vì sao cô nương phải giả trang quái đản như thế?
Tiểu a hoàn cười đáp:
– Tiểu thư ghét con lắm, thấy con xấu xí như thế thì trong lòng mới vui. Nếu con không giả trang quái đản xấu xí, tiểu thư đã giết con lâu rồi.
Trương Vô Kỵ hỏi:
– Vì sao tiểu thư muốn giết cô nương?
Tiểu a hoàn đáp:
– Tiểu thư cứ nghi con định ám hại tiểu thư và lão gia.
Trương Vô Kỵ lắc đầu:
– Thật đa nghi! Vừa rồi cô nương cầm trường kiếm trong tay, tiểu thư thì không động đậy gì được, song cô nương có hại tiểu thư đâu. Từ nay trở đi, chắc tiểu thư không còn nghi ngờ cô nương nữa.
Tiểu a hoàn nói:
– Con đưa công tử xuống dưới này, tiểu thư sẽ càng nghi ngờ con hơn. Nhưng không biết chúng ta có ra khỏi nơi đây hay không, tiểu thư nghi hay không nghi, con cũng chả cần.
Tiểu a hoàn vừa nói vừa giơ cao thanh gỗ cháy, xem xét chung quanh. Chỗ hai người đang đứng hình như là một thạch thất, chất đầy binh khí cung tên, phần lớn đã gỉ sét, chắc là kho binh khí khi xưa Minh giáo bố trí dưới địa đạo để chống ngoại địch. Xem kỹ bốn bức tường không thấy kẽ nứt nào cả, có lẽ đây là cuối đường hầm. Viên Chân cố ý ho là cốt dụ hai người đi vào tử lộ.
Tiểu a hoàn nói:
– Công tử gia, tên con là Tiểu Chiêu. Con nghe tiểu thư gọi công tử là Vô Kỵ ca ca, vậy đại danh của công tử là Vô Kỵ phải không?
Trương Vô Kỵ đáp:
– Phải, ta họ Trương.
Đột nhiên chàng nghĩ ra, cúi xuống nhặt một cây mâu dài, nhấc nhấc thử, thấy rất nặng, phải tới bốn chục cân, nói:
– Số thuốc nổ kia xem ra có thể phá vỡ tảng đá, cứu chúng ta thoát hiểm.
Tiểu Chiêu vỗ tay reo lên:
– Ý hay quá, hay quá!
Lúc nàng vỗ tay, sợi dây xích ở cổ tay chạm nhau leng keng. Trương Vô Kỵ nói:
Sợi xích ấy vướng vít chân tay, giật đứt nó đi cho rồi!
Tiểu Chiêu sợ hãi nói:
– Không, không được đâu! Lão gia nổi giận thì nguy.
Trương Vô Kỵ nói:
– Cô nương cứ bảo là do ta bẻ gãy, ta không sợ ông ấy nổi giận đâu.
Nói xong chàng cầm hai đầu dây xích giựt mạnh ra. Sợi dây chỉ nhỏ bằng cây đũa, sức giựt của chàng tối thiểu cũng phải ba, bốn trăm cân, nhưng nghe “coong” một tiếng, dây xích chấn động, chỉ căng ra chứ không đứt.
Trương Vô Kỵ hừ một tiếng, hít một hơi dài, vận lực giựt mạnh hơn, song sợi dây chẳng hề hấn gì.
Tiểu Chiêu bèn nói:
– Dây xích này lạ lắm, bảo đao lợi kiếm cũng chưa chắc chặt đứt được nó. Chìa khóa do tiểu thư giữ.
Trương Vô Kỵ gật đầu:
– Khi nào ra khỏi đây, ta sẽ bảo tiểu thư mở khóa cho cô nương.
Tiểu Chiêu nói:
– Chỉ sợ tiểu thư không chịu.
Trương Vô Kỵ nói:
– Ta với tiểu thư rất thân tình, tiểu thư sẽ bằng lòng thôi.
Nói rồi chàng cầm cây mâu, đến bên tảng đá, đứng im nghe ngóng một lát, không còn nghe tiếng thở của Viên Chân, chắc là hắn đã đi xa rồi.
Tiểu Chiêu giơ cao cây đuốc, đứng bên cạnh soi cho Vô Kỵ. Chàng nói:
– Nổ một lần chắc chưa vỡ, có lẽ phải làm vài lần.
Chàng vận sức vào hai cánh tay, đục một cái lỗ giữa mép tảng đá và vách đường hầm, Tiểu Chiêu đem thuốc súng tới, chàng nhồi thuốc vào trong cái lỗ đó, dùng cán mâu lèn cho chặt, lại làm một sợi dây dẫn kéo vào bên dưới thạch thất.
Trương Vô Kỵ cầm lấy cây đuốc từ tay Tiểu Chiêu, Tiểu Chiêu đưa hai tay bịt tai lại, Trương Vô Kỵ đứng ra phía trước che cho nàng, cúi người châm vào sợi dây dẫn, lửa liền theo sợi dây chạy đi.
Chỉ nghe một tiếng nổ lớn, một luồng khí nóng rát phả vào người, đẩy chàng lùi hai bước, Tiểu Chiêu cũng ngã chúi xuống. Vô Kỵ đã phòng bị trước, giơ tay đỡ ngang eo lưng Tiểu Chiêu. Trong thạch thất khói bụi mù mịt, cây đuốc bị thổi tắt ngóm. Trương Vô Kỵ hỏi:
– Tiểu Chiêu, cô nương không sao chứ?
Tiểu Chiêu húng hắng ho vài tiếng, đáp:
– Con… không sao.
Trương Vô Kỵ nghe giọng nàng có vẻ nghẹn ngào, hơi lấy làm lạ, đến khi đốt đuốc lại, thấy nàng rưng rưng nước mắt, liền hỏi:
– Sao vậy? Cô nương mệt lắm à?
Tiểu Chiêu nói:
– Trương công tử, công tử… không biết con là ai, sao lại đối xử tốt với con đến thế?
Trương Vô Kỵ lấy làm lạ:
– Thế là sao?
Tiểu Chiêu nói:
– Tại sao công tử phải che cho con? Con chỉ là một đứa nô tì hèn hạ, còn công tử… tấm thân ngàn vàng, sao lại đứng chắn cho con?
Trương Vô Kỵ mỉm cười, nói:
– Ta chả có gì là quý giá đâu, cô nương bé nhỏ, ta tự nhiên phải che chở cho cô nương.
Lúc khói bụi lắng xuống, chàng tới bên tảng đá, thấy nó vẫn sừng sững chỗ cũ, chỉ vạt mất một góc nhỏ, liền thất vọng nói:
– Chỉ sợ phải cho nổ bảy tám lần, chúng ta mới chui qua được, mà thuốc súng cùng lắm chỉ đủ dùng cho hai lần nữa thôi.
Chàng lại cầm cây mâu lên, đục lỗ trên tảng đá, đục mạnh mấy cái, một lần tình cờ chệch vào vách đá, bỗng một cục đá to như cái đấu rơi ra, lộ rõ một lỗ hổng. Chàng nửa ngạc nhiên nửa vui mừng, thò tay vào, lay chung quanh lỗ mấy cái, thấy nhúc nhích, liền giật mạnh, thêm một cục đá nữa long ra. Chàng moi liên tiếp bốn cục đá vuông chừng một thước, thì lỗ hổng đã lớn, đủ chui qua. Thì ra đường hầm còn lối đi khác, vừa rồi chàng nổ phá tảng đá lớn đã làm vách tường chấn động, khiến mấy cục đá rời ra. Lối đi này được xây bít bằng các cục đá to bằng cái đấu.
Trương Vô Kỵ cầm đuốc chui qua trước, rồi gọi Tiểu Chiêu sang theo. Đường hầm này cũng theo hình trôn ốc đi xuống, lần này chàng khôn ngoan hơn, tay trái cầm cây mâu chĩa ra đằng trước, đề phòng Viên Chân ám toán. Đi chừng bốn, năm chục trượng, đến một cái cửa đá. Chàng đưa mâu và đuốc cho Tiểu Chiêu, vận sức đẩy cánh cửa, mở sang một thạch thất nữa.
Gian thạch thất này rất rộng, phía trên có thạch nhũ rủ xuống, rõ ràng là một thạch động tự nhiên. Chàng giơ cây đuốc soi vài vòng, thấy dưới đất có hai bộ xương khô; y phục trên xác chết chưa nát vụn, còn nhận biết đó là một nam một nữ.
Tiểu Chiêu sợ hãi nép bên người Trương Vô Kỵ. Chàng giơ cao đuốc xem xét thạch thất một lần nữa, nói:
– Chỗ này xem chừng là tận cùng rồi, không biết có tìm được lối ra hay không?
Chàng giơ cây mâu gõ vào các bức vách, chỗ nào cũng nghe bình bịch nặng nề, không chỗ nào có vẻ là rỗng cả.
Chàng lại gần hai bộ xương, thấy tay phải người đàn bà cầm một con dao găm sáng loáng, cắm bên ngực trái. Chàng sững ra, nhớ ngay câu chuyện Thành Côn kể. Thành Côn và Dương phu nhân tư tình với nhau trong lối đi bí mật, bị Dương Đính Thiên phát hiện, Dương Đính Thiên phẫn uất nên bị tẩu hỏa mà chết, Dương phu nhân bèn dùng dao nhọn tự vẫn chết theo chồng. “Không lẽ hai bộ xương này là phu phụ giáo chủ Dương Đính Thiên?” Chàng tới bên bộ xương người đàn ông, thấy cạnh xương bàn tay có một miếng da dê.
Trương Vô Kỵ nhặt miếng da lên xem, thấy một mặt có lông, một mặt nhẵn nhụi, không có gì lạ.
Tiểu Chiêu cầm lấy miếng da, vui mừng reo lên:
– Chúc mừng công tử, đây là tâm pháp thượng thừa của võ công Minh giáo.
Nói đoạn nàng đưa ngón trỏ bàn tay trái khía vào lưỡi dao trên ngực Dương phu nhân một cái, lấy máu bôi lên mặt nhẵn của tấm da, thế là lần lượt hiện lên các chữ, dòng đầu tiên viết mười một chữ: “Thánh hỏa tâm pháp Minh giáo: Càn khôn đại na di”.
Trương Vô Kỵ tình cờ tìm được tâm pháp võ công của Minh giáo, song chẳng lấy làm vui, nghĩ thầm: “Trong đường hầm này không thức ăn, không nước uống, nếu không ra khỏi nơi đây, cùng lắm bảy tám ngày thì cả ta lẫn Tiểu Chiêu cũng chết đói chết khát mà thôi; dẫu có học được võ công thượng thừa đến mấy, cũng là vô dụng”. Nhìn hai bộ xương, chàng lại nghĩ: “Viên Chân tại sao không lấy luôn bộ tâm pháp Càn khôn đại na di này đi? Chắc là sau khi làm chuyện nhơ nhuốc kia rồi, hắn không còn dám quay lại nhìn thi thể hai vợ chồng Dương Đính Thiên nữa. Dĩ nhiên, hắn không thể biết mảnh da dê này có chép tâm pháp võ công, chứ không cho dù phu phụ giáo chủ Dương Đính Thiên còn sống thì hắn cũng quyết đánh cắp cho bằng được”. Chàng hỏi Tiểu Chiêu:
– Tại sao cô nương biết được bí mật của miếng da này?
Tiểu Chiêu cúi đầu, nói:
– Khi lão gia nói chuyện với tiểu thư, con có nghe trộm được. Hai người là giáo đồ Minh giáo, không dám vi phạm giáo quy, xuống đường hầm bí mật này tìm kiếm.
Trương Vô Kỵ nhìn hai bộ xương, cảm khái nói:
– Mình chôn họ đi vậy.
Hai người xếp hai bộ xương phu phụ Dương Đính Thiên vào cạnh nhau, vun đất đá xung quanh để đắp lên trên.
Tiểu Chiêu chợt nhặt một vật cạnh hài cốt Dương Đính Thiên lên, nói:
– Trương công tử, có một phong thư này.
Trương Vô Kỵ cầm lấy, thấy trên bao thư viết bốn chữ “Phu nhân thân khải”. Vì đã lâu năm, phong thư mục nát, bốn chữ kia cũng không còn đủ nét, song vẫn có thể nhận ra nét chữ rắn rỏi, mạnh mẽ. Bức thư được dán kỹ, dấu xi còn nguyên. Trương Vô Kỵ nói:
– Dương phu nhân chưa bóc thư xem đã tự sát luôn.
Chàng cung kính đặt bức thư vào chỗ hài cốt kia, đang định lấy đất đá vùi đi thì Tiểu Chiêu nói:
– Công tử hãy mở ra xem thử, không chừng Dương giáo chủ có dặn lại chuyện gì chăng?
Trương Vô Kỵ nói:
– Làm thế e bất kính.
Tiểu Chiêu nói:
– Nếu Dương giáo chủ có tâm nguyện gì chưa thành, công tử nói lại cho lão gia và tiểu thư để họ thực hiện theo lời Dương giáo chủ, như thế cũng tốt chứ sao.
Trương Vô Kỵ nghĩ cũng phải, bèn nhẹ nhàng bóc phong bì, rút ra một tờ lụa trắng cực mỏng, trong đó viết:
Phu nhân yêu dấu, từ ngày phu nhân về nhà họ Dương, ngày đêm u uất. Ta thô lỗ bạc đức, không đủ làm cho phu nhân vui lòng, thật có lỗi lắm vậy. Nay phải vĩnh biệt, mong phu nhân lượng thứ cho.
Y giáo chủ đời thứ ba mươi hai có di mệnh, khi nào ta luyện thành thần công Càn khôn đại na di, thì dẫn huynh đệ sang Tổng giáo bên Ba Tư bố trí nghênh đón Thánh hỏa lệnh về. Bổn giáo tuy phát nguyên từ Ba Tư, nhưng đã bắt rễ sâu ở Trung Hoa, thêm cành tỏa lá đã mấy trăm năm rồi. Nay Thát tử chiếm Trung thổ chúng ta, bổn giáo thề chống lại đến cùng, quyết không tuân lệnh vô lý của Tổng giáo Ba Tư mà cúi đầu nhận bọn Mông Nguyên làm chủ. Thánh hỏa lệnh nếu về lại tay chúng ta, Minh giáo Trung Hoa lập tức có thể đứng ngang hàng với Tổng giáo Ba Tư
Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: “Thì ra Tổng giáo của Minh giáo ở bên nước Ba Tư, Y giáo chủ và Dương giáo chủ không chịu tuân lệnh Tổng giáo đầu hàng triều đình nhà Nguyên, thực là các bậc hảo hán có chí khí”. Chàng thầm thán phục Minh giáo thêm vài phần, lại đọc tiếp bức thư:
Hôm nay ta vừa luyện thành thần công bậc thứ tư, thì biết được chuyện Thành Côn, huyết khí trào lên không ngăn được, chân lực tiêu tán, biết đã tới lúc trở về, biết làm gì hơn?
Trương Vô Kỵ đọc tới đây, thở dài khe khẽ, nói:
– Thì ra khi viết lá thư này, Dương giáo chủ đã biết việc Dương phu nhân hẹn hò tình tự với Thành Côn trong đường hầm bí mật.
Chàng thấy Tiểu Chiêu ngập ngừng như muốn hỏi điều gì, song không dám mở miệng, bèn đem chuyện phu phụ giáo chủ Dương Đính Thiên và Thành Côn thuật sơ qua. Tiểu Chiêu nói:
– Con thấy việc đó toàn do Dương phu nhân sai trái mà ra. Nếu bà ta trong lòng cứ tơ tưởng Thành Côn, lẽ ra không nên lấy Dương giáo chủ; khi đã kết hôn với Dương giáo chủ thì không được lén gặp gỡ Thành Côn.
Trương Vô Kỵ gật đầu, nghĩ thầm: “Tiểu cô nương này còn bé nhưng đã hiểu biết”, chàng đọc tiếp bên dưới:
Nay mệnh ta chỉ còn sớm tối, phụ lòng ủy thác của Y giáo chủ, thực là có tội với bổn giáo. Vậy phu nhân hãy cầm lá thư chính tay ta viết này, chiêu tụ Tả, Hữu Quang Minh sứ giả, Tứ đại hộ giáo pháp vương, Ngũ Hành kỳ sứ, Ngũ tản nhân, truyền di lệnh của ta như sau: “Bất kể ai thu hồi được Thánh hỏa lệnh về, thì được làm giáo chủ đời thứ ba mươi tư của bổn giáo. Kẻ nào không phục, giết đi không tha. Lệnh cho Tạ Tốn tạm giữ chức Phó giáo chủ, xử lý các việc trọng đại của bổn giáo”.
Trương Vô Kỵ xúc động, nghĩ thầm: “Thì ra Dương giáo chủ đã chỉ định nghĩa phụ ta tạm làm Phó giáo chủ, nghĩa phụ ta võ công toàn tài, Dương giáo chủ qua đời rồi, nghĩa phụ ta là nhân vật số một trong Minh giáo. Tiếc rằng Dương phu nhân không đọc lá thư này, nếu không thì Minh giáo đã chẳng đến nỗi tàn sát lẫn nhau, giáo chúng trở nên tán loạn như thế”. Chàng thấy Dương Đính Thiên quý trọng Tạ Tốn như thế thì rất mừng, không khỏi thương cảm; chàng xuất thần hồi lâu, rồi đọc tiếp:
Tâm pháp “Càn khôn đại na di” tạm thời do Tạ Tốn tiếp chưởng, sau sẽ chuyển giao cho tân giáo chủ. Làm rạng rỡ Minh giáo ta, đánh đuổi Hồ Lỗ, hành thiện trừ ác, phù chính trừ gian, mang thánh hỏa Minh tôn phổ huệ mọi người trong thiên hạ, là việc mà tân giáo chủ phải gắng làm.
Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: “Cứ theo di mệnh của Dương giáo chủ thì tôn chỉ của Minh giáo rất quang minh chính đại. Các môn phái lớn cứ một mực giữ thiên kiến của môn hộ, không ngừng gây khó dễ cho Minh giáo, thực chẳng nên chút nào”. Chàng lại đọc tiếp di thư:
Ta dồn chút sức tàn đóng chặt cánh cửa đá, ở lại cùng Thành Côn trong đường hầm này, còn phu nhân hãy cứ theo bản đồ đường hầm bí mật mà thoát ra. Thời nay không có người thứ hai nào có thần công “Càn khôn đại na di”, tức là không ai có thể đẩy nổi cánh cửa đá ở vị trí Vô Vọng. Chờ khi nào hào kiệt hậu thế luyện được thì xương cốt của ta và Thành Côn cũng mục nát rồi. Đính Thiên cẩn bạch.
Dưới cùng là một hàng chữ nhỏ: “Ta mang cái tên Đính Thiên là đội trời đạp đất, thế nhưng lại không làm nên sự nghiệp gì với đời, không có công lao gì với bổn giáo, làm cho phu nhân đau lòng, ôm hận mà chết đi, thật đáng chê cười”.
Mặt sau bức thư là một bản đồ đường hầm bí mật, ghi rõ các lối đi ngõ ngách.
Trương Vô Kỵ cả mừng, nói:
– Dương giáo chủ vốn muốn tự giam mình cùng Thành Côn trong đường hầm bí mật để hai người cùng chết, ai ngờ ông ta không trụ được, chết sớm quá, để cho tên Thành Côn sống ung dung đến tận hôm nay. Rất may có tấm bản đồ này, chúng ta có thể tìm đường lối thoát ra.
*****
Nguồn: truyenkimdung


