Thời cổ, Hàng Châu gọi là phủ Lâm An, thời Nam Tống dựng thành kinh đô, xưa nay là nơi rất nổi tiếng. Vào trong thành, trên đường người đi đông nghẹt, ca nhạc xập xình khắp nơi. Lệnh Hồ Xung đi theo Hướng Vấn Thiên đến bờ Tây Hồ, thấy mặt hồ xanh biếc như gương, liễu rủ phất phơ, cảnh vật thơ mộng như cảnh thần tiên. Lệnh Hồ Xung nói:
– Người ta thường nói: thượng giới có thiên đàng, hạ giới có Tô Hàng. Tô Châu chưa đi qua không biết ra sao chứ hôm nay tận mắt thấy Hàng Châu, gọi đây là thiên đàng quả thực không sai.
Hướng Vấn Thiên cười. Cả hai cưỡi ngựa đi đến một ngọn núi nhỏ bên bờ hồ, cách bờ một con đê dài, phong cảnh rất yên tĩnh. Hai người xuống ngựa, cột ngựa vào gốc cây liễu bên bờ hồ rồi đi theo bậc tam cấp lên núi. Hướng Vấn Thiên dường như đã từng du ngoạn nơi đây, lão rất thông thuộc đường lối. Quẹo qua mấy khúc quanh, khắp nơi đều trồng mai. Những cây mai già vươn dài cành lá rậm rạp, giống như ngày đầu xuân hoa mai nở rộ, hương thơm ngào ngạt, sắc hoa trắng trông như một biển tuyết. Phong cảnh đẹp khiến người ta ngây ngất biết chừng nào.
Hai người đi xuyên qua rừng mai lên một con đường lát đá xanh rộng lớn, đi đến ngoài một đại trang viện có tường trắng, cổng sơn đỏ. Gần đến nơi, thấy ngoài cổng lớn đề hai chữ to “Mai trang”, bên cạnh đề bốn chữ “Ngu Doãn Văn đề”. Lệnh Hồ Xung ít đọc sách nên không biết Ngu Doãn Văn là đại công thần đã đánh tan giặc Kim đời Nam Tống, nhưng cũng cảm thấy trong mấy chữ nho nhã này tràn đầy anh khí.
Hướng Vấn Thiên đi đến trước cổng, nắm chiếc vòng bằng đồng lớn ở trên cửa, quay đầu lại nói khẽ:
– Nhất thiết phải nghe lời ta sắp đặt.
Lệnh Hồ Xung gật đầu thầm nghĩ: Cái tòa Mai trang này hiển nhiên là chỗ ở của nhà đại phú thành Hàng Châu. Chẳng lẽ đây là chỗ ở của một vị danh y đương thời sao?
Hướng Vấn Thiên gõ bốn tiếng vào cái vòng đồng; ngừng một lúc lại gõ hai cái nữa, ngừng một lúc lại gõ thêm năm cái. Rồi lão lại ngừng một lúc, gõ thêm ba cái nữa. Sau đó, lão buông vòng đồng ra, đứng lùi về một bên.
Một lúc sau, cánh cổng lớn từ từ mở ra, có hai lão gia nhân ăn mặc chỉnh tề sánh vai đi ra. Lệnh Hồ Xung hơi giật mình. Ánh mắt hai lão này sáng quắc, bước đi nghiêm trang, hiển nhiên là người có võ công cao cường, sao lại chịu ở đây làm phận nô bộc? Người bên trái cúi người nói:
– Hai vị giá lâm tệ trang có điều chi dạy bảo?
Hướng Vấn Thiên nói:
– Môn hạ phái Tung Sơn và đệ tử môn hạ phái Hoa Sơn có chuyện muốn cầu kiến Giang Nam tứ hữu bốn vị tiền bối.
Người đó nói:
– Gia chủ tại hạ xưa nay không tiếp khách.
Lão nói xong liền muốn đóng cửa.
Hướng Vấn Thiên thò tay vào bọc, lấy ra một vật. Lệnh Hồ Xung kinh hãi vì trong tay lão là một cây cờ ngũ sắc, có đính nhiều hạt minh châu. Hắn biết đây là Ngũ Nhạc minh kỳ của Tả minh chủ phái Tung Sơn. Minh kỳ đi đến đâu cũng như Tả minh chủ thân hành đến đó. Người trong Ngũ Nhạc kiếm phái từ bậc tôn sư đến bọn đệ tử, không ai không tuân lệnh của người cầm cờ.
Lệnh Hồ Xung thầm nghĩ: Chắc Hướng đại ca đã dùng thủ đoạn bất chính cướp được lá cờ nầy, không chừng đại ca đã giết người phái Tung Sơn. Đại ca còn xưng là đệ tử Tung Sơn, không hiểu mưu đồ chuyện chi đây.
Chàng đã hứa mọi chuyện nghe theo cách bố trí của lão nên lẳng lặng không nói gì.
Hai lão gia nhân nhìn thấy Ngũ Nhạc minh kỳ, sắc mặt thay đổi, hỏi:
– Phải chăng đây là minh kỳ của Tả minh chủ phái Tung Sơn?
Hướng Vấn Thiên đáp:
– Đúng vậy!
Gã gia nhân đứng bên phải nói:
– Giang Nam tứ hữu và Ngũ Nhạc kiếm phái trước nay không hề qua lại. Dù có Tả minh chủ đến đây thì… thì… chưa chắc…
Rồi lão không nói tiếp nữa nhưng ý nghĩa câu nói đã rất rõ ràng: “Dù Tả minh chủ có thân hành đến thì chủ nhân của tại hạ cũng chưa chắc chịu tiếp kiến”.
Tả minh chủ phái Tung Sơn là một nhân vật đức cao vọng trọng, người này không muốn mở miệng nói lời coi thường nhưng rõ ràng lão cho rằng địa vị của Giang Nam tứ hữu còn cao hơn Tả minh chủ nhiều.
Lệnh Hồ Xung thầm nghĩ: Giang Nam tứ hữu này là những nhân vật nào? Nếu bọn họ thực là những nhân vật sừng sỏ trong võ lâm thì sao ta chưa từng nghe sư phụ và sư nương đề cập đến bọn họ? Ta hành tẩu trên giang hồ từng nghe nhiều người nói đến những bậc tiền bối cao nhân trong võ lâm đương thời, nhưng chưa từng nghe ai đề cập đến bốn chữ “Giang Nam tứ hữu”.
Hướng Vấn Thiên mỉm cười, xếp cờ lệnh bỏ vào túi nói:
– Tả sư điệt của ta không phải đem cờ lệnh này đến để dọa người. Bốn vị tiền bối ở Giang Nam là những nhân vật thế nào, tất không coi lá cờ lệnh này vào đâu.
Lệnh Hồ Xung thầm nghĩ: Lão nói “Tả sư điệt” ư? Lão lại mạo xưng là sư thúc của Tả minh chủ, càng lúc lão càng chẳng ra làm sao cả.
Lại nghe Hướng Vấn Thiên nói tiếp:
– Có điều tại hạ không có danh phận gì e khó được bái kiến bốn vị tiền bối Giang Nam nên đưa cờ lệnh này ra, chẳng qua chỉ để làm tín vật mà thôi.
Hai gia nhân ồ một tiếng, nghe trong lời nói của lão có vẻ đề cao thân phận Giang Nam tứ hữu thì nét mặt họ hòa dịu lại một chút.
Một người nói:
– Các hạ là sư thúc của Tả minh chủ ư?
Hướng Vấn Thiên cười nói:
– Đúng vậy. Tại hạ là hạng vô danh tiểu tốt trong võ lâm nên hai vị dĩ nhiên không quen. Nghĩ lại năm xưa, Đinh huynh ở dưới núi Tà Liên đơn chưởng đánh tứ bá, một kiếm phục song hùng; Thi huynh ở Hồ Bắc tung hoành giang hồ cứu kẻ cô thế, một thanh tử kim bát quái đao giết được mười ba tên đầu sỏ của Thanh Long bang, máu nhuộm một vùng Hán Thủy. Hình ảnh oai hùng như vậy khiến tại hạ vẫn ghi nhớ trong lòng.
Hai người ăn mặc như gia nhân, một người tên là Đinh Kiên, người kia là Thi Lệnh Oai. Trước khi quy ẩn ở Mai trang, họ là những nhân vật nửa chính nửa tà, trên giang hồ hành sự rất độc ác. Tính khí của hai người rất giống nhau, sau khi làm chuyện gì tuyệt không lưu danh cho nên tuy võ công họ cao cường nhưng tên tuổi thì ít ai biết đến. Hướng Vấn Thiên nói đến hai chuyện này chính là những kiệt tác đắc ý trong cuộc đời hai lão. Một là đối thủ rất cao cường mà hai lão lại lấy ít địch nhiều nhưng thủ thắng một cách oanh liệt; hai là hai chuyện này đối phương đều sai quấy còn hai lão đã hành hiệp trượng nghĩa, những hành động bình sinh hai lão rất ít khi làm.
Phàm làm việc gì tốt, tuy không cố ý tuyên dương để ai cũng biết, nhưng nếu có người vô tình biết đến thì hai lão rất khoái chí. Đinh Kiên và Thi Lệnh Oai nghe Hướng Vấn Thiên nói một lèo như vậy, bất giác mặt hai lão lộ vẻ hớn hở. Đinh Kiên mỉm cười nói:
– Chuyện nhỏ nhặt này đâu có chi đáng kể. Kiến văn của các hạ rất rộng.
Hướng Vấn Thiên nói:
– Trong võ lâm, kẻ tranh danh đoạt lợi rất nhiều còn kẻ sĩ thanh cao có chân tài thực học, làm nên đại sự mà không muốn tuyên dương thật khó có được. Nhất tự điện kiếm Đinh đại ca và Ngũ lộ thần Thi cửu ca là những tên tuổi mà tại hạ ngưỡng mộ đã lâu. Tả sư điệt từng nói, có chuyện gì nên đến thỉnh giáo Giang Nam tứ hữu ở Hàng Châu. Tại hạ quy ẩn đã lâu, lòng nghĩ chưa chắc được gặp Giang Nam tứ hữu nhưng nếu có thể gặp được hai vị Nhất tự điện kiếm và Ngũ lộ thần thì coi như không uổng chuyến đi cho nên mới đồng ý đến Hàng Châu một chuyến. Tả sư điệt nói: nếu Tả sư điệt đích thân đến chỉ sợ bốn vị tiền bối không chịu tiếp kiến vì mấy năm gần đây trên giang hồ hắn làm nhiều chuyện thái quá, e rằng các tiền bối coi thường hắn. Còn tại hạ lâu nay ít đi ra ngoài, nói không chừng được các vị chiếu cố. Ha ha, ha ha!
Hai lão Đinh, Thi nghe Hướng Vấn Thiên đã tâng bốc Giang Nam tứ hữu lại còn đề cao hai người mình nên rất cao hứng, cùng cười bồi theo mấy tiếng. Họ thấy cái tướng mập, cái đầu láng bóng của Hướng Vấn Thiên tuy khó ưa nhưng lời nói cử chỉ tỏ ra rất có phong độ , xác thực lão không phải là nhân vật tầm thường. Lão đã là sư thúc của Tả Lãnh Thiền võ công tất nhiên rất cao, trong lòng hai lão cũng đã có mấy phần kính nể.
Thi Lệnh Oai đã quyết định đi vào bẩm báo, lão quay sang Lệnh Hồ Xung hỏi:
– Vị này là môn hạ của phái Hoa Sơn ư?
Hướng Vấn Thiên cướp lời nói:
– Vị này là Phong huynh đệ, sư thúc của Nhạc Bất Quần, đương kim chưởng môn phái Hoa Sơn.
Lệnh Hồ Xung nghe lão nói liều như vậy, hắn đã sớm đoán được lão muốn đặt cho mình một cái tên và một thân phận nhưng hắn không ngờ rằng lão lại nói mình là sư thúc của sư phụ. Tuy Lệnh Hồ Xung không màng đến mọi chuyện nữa nhưng nếu hắn mạo nhận là trưởng bối của ân sư thì trong lòng rất áy náy. Hắn không khỏi giật mình, may mà trên mặt hắn đã trét một lớp phấn dày nên vẻ khích động không bị lộ ra ngoài chút nào.
Đinh Kiên và Thi Lệnh Oai liếc nhìn nhau, lòng đều có chút hoài nghi:
– Vị này tuy không biết bao nhiêu tuổi nhưng có lẽ không quá bốn mươi, sao có thể là sư thúc của Nhạc Bất Quần được?
Hướng Vấn Thiên tuy đã trang điểm diện mạo cho Lệnh Hồ Xung già đi rất nhiều nhưng lại khó hóa trang cho hắn thành một lão già, nếu hóa trang thêm nữa thì không khỏi bị lộ tẩy. Lão liền tiếp lời nói:
– Vị Phong huynh đệ này so với Nhạc Bất Quần thì vẫn còn ít tuổi, nhưng là truyền nhân duy nhất về Độc Cô kiếm pháp của Phong sư huynh Phong Thanh Dương, kiếm thuật tinh thâm, trong phái Hoa Sơn ít ai bì kịp.
Lệnh Hồ Xung giật mình kinh hãi: Tại sao Hướng đại ca biết mình là truyền nhân của Phong thái sư thúc tổ?
Nhưng chàng liền hiểu ra: Kiếm pháp của Phong thái sư thúc tổ tuyệt diệu như vậy, năm xưa nhất định uy chấn giang hồ. Hướng đại ca kiến thức bất phàm, sau khi thấy kiếm pháp của mình thì tự suy luận ra được. Phương Sinh đại sư đã nhìn ra được thì tất nhiên Hướng đại ca cũng nhìn ra được.
Đinh Kiên ồ lên một tiếng. Lão là danh gia sử kiếm, nghe nói kiếm pháp của Lệnh Hồ Xung tinh thông, lão cảm thấy ngứa nghề, nhưng thấy người này da mặt vàng vọt, sưng húp, tướng mạo bần tiện, thật chẳng giống là một người tinh thông kiếm pháp chút nào. Lão bèn hỏi:
– Không biết phải xưng hô đại danh hai vị thế nào?
Hướng Vấn Thiên nói:
– Tại hạ họ Đồng tên gọi là Đồng Hóa Kim, vị Phong huynh đệ này có đại danh là Phong Nhị Trung.
Hai lão Đinh, Thi đều cung tay nói:
– Ngưỡng mộ, ngưỡng mộ!
Hướng Vấn Thiên cười thầm. Lão tự xưng là Đồng Hóa Kim có ý nói đồng mà hóa thành vàng tức là đồ giả. Còn hai chữ “Nhị Trung” tức là chữ Xung tách rời ra. Trong võ lâm làm gì có hai người này, vậy mà hai lão này lại nói “ngưỡng mộ, ngưỡng mộ”, không biết ngưỡng mộ cái gì?
Đinh Kiên nói:
– Mời hai vị vào sảnh dùng trà, đợi tại hạ đi bẩm báo với tệ chủ nhân. Còn các vị lão gia có chịu tiếp kiến hay không cũng khó mà nói được.
Hướng Vấn Thiên cười nói:
– Hai vị và Giang Nam tứ hữu tuy là chủ tớ mà tình chẳng khác gì huynh đệ, nên chắc bốn vị tiền bối sẽ nể mặt hai vị.
Đinh Kiên mỉm cười nép qua một bên. Hướng Vấn Thiên liền bước vào trong, Lệnh Hồ Xung đi theo sau.
Đi qua một cái sân lớn, hai bên tả hữu có trồng hai cây mai già, cành cứng như sắt, đúng là lão mai. Đến đại sảnh, Thi Lệnh Oai mời hai người ngồi còn lão đứng một bên bồi tiếp, Đinh Kiên vào trong bẩm báo.
Hướng Vấn Thiên thấy Thi Lệnh Oai đứng mà mình lại ngồi thì không khỏi bất bình cho lão, nhưng ở trong Mai trang thân phận lão là nô bộc nên không thể mời lão cùng ngồi, bèn nói:
– Phong huynh đệ, Phong huynh đệ xem bức họa này tuy chỉ có vài nét sơ sài mà khí thế thể hiện thật bất phàm.
Hướng Vấn Thiên vừa nói vừa đứng dậy đi đến trước bức họa treo ở đại trung đường trong sảnh.
Lệnh Hồ Xung và lão đồng hành nhiều ngày rồi nên biết lão tuy thông minh cơ trí vô cùng nhưng đối với văn mặc thư họa lão chẳng biết gì cả. Lúc này bỗng nghe lão tấm tắc khen bức họa, biết ngay lão đang có thâm ý khác. Chàng liền dạ một tiếng rồi đi đến trước bức họa. Bức họa vẽ một tiên nhân quay lưng ra, nét mực tràn trề, bút lực hùng tráng, tuy Lệnh Hồ Xung không hiểu về thư họa nhưng cũng biết xác thực đây là bức họa dùng lực tác thành. Lại thấy phía trên bức họa có đề tám chữ “Đan Thanh sinh đại túy hậu pháp mặc”, bút pháp nghiêm mật, từng nét cứng cỏi như nét khắc họa của trường kiếm. Lệnh Hồ Xung xem một lúc nói:
– Đồng huynh, tiểu đệ thấy chữ “Túy” trên bức họa này thì vô cùng thích thú. Trong mấy chữ đề trên bức họa dường như ẩn chứa một bộ kiếm thuật cực kỳ cao minh.
Lệnh Hồ Xung thấy bút pháp của tám chữ này và thủ thế y chiết của tiên nhân trong bức họa, bỗng nghĩ đến kiếm pháp khắc trên vách đá trong hậu động trên ngọn núi sám hối.
Hướng Vấn Thiên chưa trả lời thì Thi Lệnh Oai đứng sau hai người nói:
– Phong gia quả nhiên là một kiếm thuật danh gia. Tứ trang chủ tệ gia là Đan Thanh lão gia nói: ngày hôm đó, sau khi lão gia say túy lúy đã vẽ bức họa này. Trong lúc vô tình tiên sinh đem kiếm pháp đưa vào thư pháp, đây là kiệt tác đắc ý nhất trong đời lão gia. Sau khi tỉnh rượu, lão gia có muốn vẽ thêm một bức nữa cũng không được. Phong gia lại có thể coi bức họa mà nhìn ra kiếm ý, tứ trang chủ nhất định sẽ coi Phong gia là tri kỷ. Tại hạ đi báo cho lão gia biết.
Lão nói xong liền hớn hở chạy đi.
Hướng Vấn Thiên đằng hắng một tiếng rồi nói:
– Phong huynh đệ, thì ra huynh đệ hiểu được cả thư họa.
Lệnh Hồ Xung đáp:
– Tiểu đệ có hiểu gì đâu, chỉ nói bừa vài câu không ngờ lại trúng. Nếu vị Đan Thanh tiên sinh này đàm luận thư họa với tiểu đệ thì tiểu đệ chắc bị lộ tẩy.
Bỗng nghe ngoài cửa có người lớn tiếng nói:
– Hắn xem bức họa của ta mà nhìn ra kiếm pháp ư? Nhãn quan của người này thật hiếm có.
Người này vừa lớn tiếng nói vừa đi vào, râu lão dài đến bụng, tay trái cầm một bát rượu, vẻ mặt say sưa ngây ngất.
Thi Lệnh Oai đi theo sau lão nói:
– Hai vị này là Đồng gia phái Tung Sơn và Phong gia phái Hoa Sơn. Vị này là tứ trang chủ Đan Thanh tiên sinh của Mai trang. Tứ trang chủ, vị Phong gia này vừa thấy nét mực, bút pháp của trang chủ thì nói trong bức họa có ẩn chứa một bộ kiếm thuật cao minh.
Tứ trang chủ Đan Thanh tiên sinh nghiêng mắt say khướt nhìn Lệnh Hồ Xung một lúc rồi hỏi:
– Các hạ hiểu được thư họa ư? Biết sử kiếm ư?
Hai câu này lão hỏi rất vô lễ.
Lệnh Hồ Xung thấy trong tay lão cầm một cái chén màu xanh biếc, đúng là chén Phỉ thúy, lại ngửi được mùi rượu Lê hoa ở trong chén. Chàng bỗng nhớ tới lời nói của Tổ Thiên Thu trên sông Hoàng Hà, bèn nói:
– Bạch Lạc Thiên ở Hàng Châu lúc cao hứng có thơ rằng: “Hồng tụ chức lăng khoa thị diệp. Thanh kỳ khiết tửu sấn lê hoa”. Uống rượu Lê hoa nên dùng chén Phỉ thúy. Tứ trang chủ quả đúng là một tay uống rượu sành sỏi.
Lệnh Hồ Xung ít đọc sách, cái gì thi từ ca phú hắn chẳng hiểu, nhưng tính vốn thông minh, chỉ cần người khác nói qua thì hắn nhớ nằm lòng ngay. Lúc này hắn nhớ lời Tổ Thiên Thu nên nói ra thôi.
Đan Thanh tiên sinh vừa nghe, lão trố hai mắt lên, bỗng ôm lấy Lệnh Hồ Xung rồi lớn tiếng reo:
– A ha, hảo bằng hữu đến rồi! Nào nào, chúng ta cùng uống ba trăm chén đi. Phong huynh đệ, lão phu hảo tửu, hảo thư, hảo kiếm, nên người ta gọi là tam tuyệt. Trong tam tuyệt, lấy tửu làm đầu, thứ hai là họa, còn kiếm thì sau cùng.
Lệnh Hồ Xung vui mừng thầm nghĩ: Thư họa mình chẳng biết gì hết, mình đến để cầu danh y trị thương, cũng không nên tỉ kiếm động thủ với người ta. Còn việc uống rượu lại là việc chẳng mong.
Lệnh Hồ Xung liền đi theo Đan Thanh tiên sinh vào trong, Hướng Vấn Thiên và Thi Lệnh Oai đi theo sau. Đi qua một dãy hành lang, đến một gian phòng ở đầu mé Tây, vén rèm cửa ra, mùi rượu thơm xông lên nức mũi.
Lệnh Hồ Xung từ nhỏ đã thích rượu, nhưng vì sư phụ sư nương không cho hắn nhiều tiền tiêu xài nên rượu đến thì uống ngay, cũng không cần phân biệt người mời rượu là hạng tốt hay xấu. Từ hôm hắn nghe Lục Trúc Ông ở Lạc Dương tỉ mỉ luận về tửu đạo, lại được lão mời uống nhiều thứ rượu ngon, một là tính khí hợp nhau, hai là được danh sư chỉ điểm. Từ đó về sau, hắn thưởng thức giám định rất tinh, vừa ngửi được hương rượu thì reo lên:
– Hay quá, ở đây có cả rượu Phần lâu năm. Ồ, Bách thảo tửu chỉ e cất được bảy mươi lăm năm, Hầu nhi tửu lại càng hiếm có.
Lệnh Hồ Xung ngửi đến hương Hầu nhi tửu thì chợt nhớ đến Lục sư đệ Lục Đại Hữu, không kìm được lòng chua xót.
Đan Thanh tiên sinh vỗ tay cười, lớn tiếng reo lên:
– Tuyệt diệu, tuyệt diệu! Phong huynh đệ vừa vào tửu thất của ta thì đã nói đúng tên ba loại rượu quý mà ta cất giấu, thật là một đại danh gia. Tài thật, tài thật!
Lệnh Hồ Xung thấy trong phòng đầy ắp những thứ quý giá, khắp nơi đều là vò rượu, bình rượu, bầu rượu, chén uống rượu, bèn nói:
– Rượu mà tiền bối tàng trữ há đâu chỉ có ba loại mà thôi. Đây là Thiệu Hưng nữ nhi hồng, thứ thượng hạng. Đây là Bồ đào tửu ở Thổ Lỗ Phồn bên Tây Vực, phải bốn lần chưng cất mới được, trên đời này tìm đâu cho thấy.
Đan Thanh vừa kinh ngạc vừa vui mừng, bèn hỏi:
– Rượu Bồ đào bốn lần chưng, bốn lần cất của Thổ Lỗ Phồn được ta niêm kỹ trong thùng gỗ, sao lão đệ cũng đánh hơi ra được vậy?
Lệnh Hồ Xung mỉm cười, nói:
– Thứ hảo tửu này dù chôn sâu dưới đất mấy trượng cũng không khỏa lấp được mùi hương của nó.
Đan Thanh tiên sinh reo lên:
– Nào nào, chúng ta lại uống thứ rượu Bồ đào bốn lần chưng, bốn lần cất này đi!
Lão bê cái thùng gỗ ở trong góc phòng ra. Thùng gỗ cũ đến nỗi màu gỗ đen sì, trên nắp viết nhiều chữ Tây Vực ngoằn ngoèo, nắp gỗ niêm bằng keo sơn, đóng ấn đỏ rất trịnh trọng. Đan Thanh tiên sinh đưa tay vào nắp gỗ khẽ nạy lên, lập tức hương rượu ngào ngạt tỏa ra khắp nhà.
Thi Lệnh Oai xưa nay không hề uống một giọt rượu nào, khi ngửi mùi rượu sực nức, bất giác lão như ngà ngà say. Đan Thanh tiên sinh vẫy tay cười nói:
– Ngươi đi đi, ngươi đi đi, đừng để say lăn ra ở đây.
Lão bày ba cái chén lên bàn rồi ôm thùng rượu rót vào chén. Thứ rượu này đỏ như máu, lão rót cao hơn miệng chén mà không bị tràn ra giọt nào. Lệnh Hồ Xung khen thầm: Võ công của người này thật tuyệt. Lão bê cái thùng gỗ nặng khoảng một trăm cân, rót rượu vào trong cái chén nhỏ xíu đầy tới hơn miệng mà rượu không bị tràn ra giọt nào. Thật là tuyệt!
Đan Thanh tiên sinh ôm cái thùng bên hông, tay trái cầm chén rượu lên, nói:
– Mời, mời!
Hai mắt lão chăm chú nhìn Lệnh Hồ Xung, để coi vẻ mặt chàng ra sao khi uống rượu. Lệnh Hồ Xung bưng chén rượu uống một nửa, thưởng thức mùi vị, có điều do trét một lớp phấn dày nên sắc mặt vẫn bình thường như không có vẻ gì thích thú lắm. Vẻ mặt Đan Thanh tiên sinh lo âu, dường như lão sợ “tửu trung hành gia” này cảm thấy thùng rượu của lão bình thường, chẳng có gì lạ.
Lệnh Hồ Xung nhắm mắt một lúc mới mở ra nói:
– Kỳ lạ, kỳ lạ!
Đan Thanh tiên sinh hỏi:
– Kỳ lạ cái gì?
Lệnh Hồ Xung nói:
– Chuyện này thật khó giải thích, vãn bối thật không hiểu.
Cặp mắt Đan Thanh tiên sinh lộ ra vẻ vui mừng, nói:
– Các hạ nói là…
Lệnh Hồ Xung nói:
– Rượu này ở thành Lạc Dương vãn bối chỉ mới được uống qua một lần, tuy rượu cực kỳ ngon nhưng trong rượu lại có vị chua chua. Theo lời một vị tửu quốc tiền bối nói đó là do lúc vận chuyển làm rượu dao động. Rượu Bồ đào của Thổ Lỗ Phồn bốn lần chưng bốn lần cất này dịch chuyển một lần thì làm vị rượu giảm đi. Từ Thổ Lỗ Phồn về đến Hàng Châu không biết có mấy vạn dặm đường nhưng rượu này của tiền bối lại tuyệt không có vị chua. Chuyện này…
Đan Thanh tiên sinh cười ha hả, vô cùng đắc ý nói:
– Đây là bí quyết bất truyền của ta. Ta dùng ba chiêu kiếm pháp để đánh đổi lấy bí quyết của kiếm khách Mạc Hoa Nhĩ ở Tây Vực. Các hạ có muốn biết không?
Lệnh Hồ Xung lắc đầu nói:
– Vãn bối được thưởng thức thứ rượu này đã là mãn nguyện lắm rồi, còn bí quyết của tiền bối thì vãn bối không dám hỏi.
Đan Thanh tiên sinh nói:
– Uống rượu, uống rượu đi!
Lão lại rót ba chén rượu nữa. Lão thấy Lệnh Hồ Xung không hỏi bí quyết này thì trong lòng ngứa ngáy khó chịu, bèn nói:
– Kỳ thực bí quyết này nói ra thì không hay ho gì, có thể nói không có gì kỳ lạ.
Lệnh Hồ Xung biết mình càng không muốn nghe thì lão lại càng muốn nói, vội cung tay nói:
– Tiền bối dù thế nào cũng đừng nói ra. Ba chiêu kiếm của tiền bối đương nhiên không phải tầm thường. Tiền bối đã trả nó bằng một cái giá đắt mà vãn bối học được một cách dễ dàng thì lòng vô cùng áy náy. Người ta thường nói: Vô công bất thụ lộc…
Đan Thanh tiên sinh ngắt lời:
– Các hạ uống rượu với ta, lại nói được lai lịch của những loại rượu này thì là có công lao lớn lắm. Bí quyết này các hạ phải nghe mới được.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Vãn bối được tiền bối tiếp kiến, lại được ban cho rượu ngon thượng hạng. Vãn bối cảm kích vô cùng, sao có thể…
Đan Thanh tiên sinh ngắt lời:
– Ta muốn nói, các hạ phải nghe mới được.
Hướng Vấn Thiên khuyên:
– Tứ trang chủ có hảo ý, Phong huynh đệ không nên từ chối.
Đan Thanh tiên sinh nói:
– Đúng vậy, đúng vậy!
Lão cười híp mắt nói:
– Ta muốn khảo nghiệm các hạ, các hạ có biết rượu này cất được bao nhiêu năm rồi?
Lệnh Hồ Xung bưng chén rượu uống cạn, phân biệt vị rượu, hồi lâu mới nói:
– Rượu này còn có điểm kỳ lạ, dường như cất khoảng một trăm hai mươi năm, nhưng giống như mới cất có mười hai, mười ba năm. Trong cái mới có cái cũ, trong cái cũ có cái mới; nếu đem nó so sánh với loại rượu ngon bình thường cất hơn một trăm năm thì còn một phong vị khác.
Hướng Vấn Thiên chau mày, thầm nghĩ: Chuyện này có thể bị lộ tẩy. Một trăm hai mươi năm và mười hai, mười ba năm cách nhau hơn một trăm năm, sao có thể đem ra luận chung với nhau được.
Lão sợ Đan Thanh tiên sinh nghe xong sẽ không vui, nhưng thấy Đan Thanh tiên sinh lại cười ha hả, bộ râu dài bị thổi tung lên. Lão cười nói:
– Hảo huynh đệ quả nhiên rất lợi hại. Bí quyết của ta là ở chỗ đó. Ta nói cho huynh đệ biết: kiếm khách Mạc Hoa Nhĩ ở Tây Vực đã tặng cho ta mười thùng rượu ngon ba lần chưng, ba lần cất của vùng Thổ Lỗ Phồn đã để lâu một trăm hai mươi năm, dùng năm con ngựa Đại Uyển chở đến Hàng Châu. Sau đó ta dựa theo phương pháp cũ mà chưng một lần, cất một lần nữa. Mười thùng rượu ngon này cất lại còn một thùng. Ta bấm ngón tay tính lại đúng là chuyện mười hai năm rưỡi về trước. Thứ rượu ngon này vận chuyển đến quan san vạn lý mà không bị chua, vị rượu trong cũ có mới, trong mới có cũ là vì chỗ đó.
Hướng Vấn Thiên và Lệnh Hồ Xung cùng vỗ tay nói:
– Thì ra là vậy.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Có thể cất thành loại rượu ngon như vậy thì đem mười chiêu kiếm pháp đánh đổi cũng xứng đáng. Tiền bối chỉ lấy ba chiêu kiếm pháp đi đổi là đã chiếm được tiện nghi của thiên hạ rồi.
Đan Thanh tiên sinh càng khoái chí, nói:
– Lão đệ đúng là tri kỷ của ta. Ngày trước, đại ca và tam ca đều oán giận việc ta lấy ba chiêu kiếm đổi lấy rượu, làm cho tuyệt chiêu của Trung Nguyên truyền vào Tây Vực. Tuy nhị ca cười không nói nhưng trong lòng e cũng không vừa ý. Chỉ có lão đệ mới hiểu ta đã chiếm được tiện nghi lớn, chúng ta cùng uống một chén nữa.
Lão thấy Hướng Vấn Thiên rõ ràng không hiểu về tửu đạo, nên chẳng coi lão ra gì.
Lệnh Hồ Xung lại uống một chén nữa rồi nói:
– Tứ trang chủ, rượu này còn có một cách uống khác, đáng tiếc bây giờ không thể làm được.
Đan Thanh tiên sinh vội hỏi:
– Còn cách uống nào nữa? Tại sao làm không được?
Lệnh Hồ Xung đáp:
– Thổ Lỗ Phồn là nơi nóng nhất trong thiên hạ, nghe nói năm xưa Huyền Trang đại sư đến Thiên Trúc thỉnh kinh phải đi qua Hỏa Diệm sơn, là vùng Thổ Lỗ Phồn.
Đan Thanh tiên sinh nói:
– Đúng vậy, nơi đó rất nóng. Vừa đến mùa hạ thì suốt ngày người ta phải ngâm mình trong thùng nước lạnh mà vẫn còn thấy nóng; đến mùa đông, vùng này lại lạnh thấu xương. Vì thời tiết như vậy nên trái bồ đào mới khác hẳn những nơi khác.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Lúc vãn bối ở trong thành Lạc Dương uống loại rượu này, trời đang mùa đông, vị tửu quốc tiền bối đó lấy một tảng băng lớn đặt bát uống rượu lên. Rượu ngon có hơi lạnh thấm vào, nên có một mùi vị khác. Bây giờ đang đầu hạ, vị lạ của rượu ngon lành lạnh không thể thưởng thức được.
Đan Thanh tiên sinh nói:
– Lúc ta ở Tây Vực không may cũng đúng vào mùa hạ, Mạc Hoa Nhĩ cũng nói qua chuyện lấy băng ướp rượu tạo ra một phong vị tuyệt diệu. Lão đệ, vậy thì dễ quá, lão đệ ở đây với ta hơn nửa năm, đến mùa đông, chúng ta cùng thưởng thức rượu ướp lạnh.
Lão ngừng một lúc rồi chau mày nói:
– Có điều phải chờ lâu như vậy thì thật nóng lòng.
Hướng Vấn Thiên nói:
– Đáng tiếc một dải Giang Nam không có nhân vật nào luyện Hàn băng chưởng hay Âm phong trảo, thứ công phu thuần âm, nếu không thì…
Lão nói chưa hết lời thì Đan Thanh tiên sinh vui mừng nói:
– Có rồi, có rồi!
Lão nói vậy liền đặt thùng rượu xuống, hối hả chạy đi.
Lệnh Hồ Xung đưa mắt nhìn Hướng Vấn Thiên, lòng đầy nghi ngờ. Hướng Vấn Thiên nín cười không nói. Không bao lâu, Đan Thanh tiên sinh dắt một lão già mặc áo đen, ốm nhom, cao nghệu đi vào, nói:
– Nhị ca, lần này bất luận thế nào cũng phải giúp tiểu đệ.
Lệnh Hồ Xung thấy người này mày thanh mắt sáng, có điều sắc mặt trắng bệch như một cương thi khiến cho ai vừa trông qua cũng cảm thấy ớn lạnh. Đan Thanh tiên sinh dẫn nhị ca vào, thì ra lão là nhị trang chủ Hắc Bạch Tử ở Mai trang. Tóc của lão rất đen mà da thì trắng bạch, quả nhiên là hắc bạch phân minh. Hắc Bạch Tử lạnh lùng nói:
– Giúp cái gì?
Đan Thanh tiên sinh nói:
– Xin nhị ca biểu diễn công phu hóa nước thành băng cho hai vị hảo bằng hữu của tiểu đệ xem một chút.
Hắc Bạch Tử đảo cặp quái nhãn hắc bạch phân minh, lạnh lùng nói:
– Cái tài vặt đó có gì đáng nói đâu, không khéo khiến người ta cười cho.
Đan Thanh tiên sinh nói:
– Nhị ca, không giấu gì nhị ca, Phong huynh đệ này nói rượu Bồ đào ở Thổ Lỗ Phồn dùng băng để ướp lạnh, khi uống vào có vị rất kỳ thú. Trời nóng như vậy thì đi tìm đâu ra băng bây giờ?
Hắc Bạch Tử nói:
– Hương rượu này rất thuần túy, hà tất phải ướp lạnh.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Thổ Lỗ Phồn là nơi cực nóng…
Đan Thanh tiên sinh nói:
– Đúng vậy, rất nóng!
Lệnh Hồ Xung nói tiếp:
– Bồ đào mọc ở vùng này tuy ngon nhưng không khỏi có khí nóng thấm vào.
Đan Thanh tiên sinh nói:
– Đúng vậy, đó là chuyện đương nhiên.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Khí nóng đó truyền vào trong rượu, để qua một trăm năm tuy đã giảm đi nhiều nhưng vị rượu vẫn còn cay nồng là điều khó tránh khỏi.
Đan Thanh tiên sinh nói:
– Đúng vậy, đúng lắm! Lão đệ không nói thì ta cứ tưởng là lúc ta chưng rượu để lửa hơi mạnh nên đã trách oan tên nhà bếp rồi.
Lệnh Hồ Xung hỏi:
– Cái gì nhà bếp?
Đan Thanh tiên sinh cười nói:
– Ta chỉ sợ lúc chưng rượu để lửa không đủ làm hỏng hết mười thùng rượu ngon nên lẻn vào hoàng cung ở Bắc Kinh bắt một lão nhà bếp của hoàng đế về cho lão chưng rượu.
Hắc Bạch Tử lắc đầu nói:
– Thực là chuyện bé mà xé ra to.
Hướng Vấn Thiên nói:
– Thì ra là vậy. Nếu là anh hùng hiệp sĩ bình thường lúc uống thứ rượu này thấy hơi cay một chút chẳng đáng gì. Nhưng nhị trang chủ, tứ trang chủ ẩn cư nơi phong cảnh tuyệt mỹ bên cạnh Tây Hồ, là những bậc thanh cao không giống những người thô kệch trong võ lâm. Rượu này ướp băng cho lạnh một chút để khử đi khí nóng thì mới xứng với thân phận thanh cao của hai vị cao nhân. Ví như đánh cờ, cứ lo những chuyện nhỏ nhặt tìm thế bắt quân mà không nghĩ đến đại cục là hạng bỏ đi.
Hắc Bạch Tử đảo cặp quái nhãn, chụp vai Hướng Vấn Thiên vội hỏi:
– Ngươi cũng biết đánh cờ sao?
Hướng Vấn Thiên nói:
– Bình sinh tại hạ thích nhất là đánh cờ nhưng đáng tiếc tay cờ không cao, nên đã đi khắp Giang Nam, Giang Bắc, Hoàng Hà để sưu tầm kỳ phổ. Ba mươi năm qua, tại hạ nhớ không ít các danh cục từ xưa tới nay.
Hắc Bạch Tử vội hỏi:
– Ngươi nhớ được những danh cục nào?
Hướng Vấn Thiên nói:
– Tỉ như cuộc đấu cờ của Vương Chất gặp tiên trên núi Lạn Kha. Cuộc cờ của Lưu Trọng Phủ đánh với tiên bà trên núi Ly Sơn, cuộc cờ của Vương Tích Tân đấu với Cô Tiên…
Lão nói chưa hết câu thì Hắc Bạch Tử đã lắc đầu lia lịa nói:
– Những thần thoại này làm sao có thể tin được? Làm gì có kỳ phổ thật?
Hắc Bạch Tử nói rồi buông tay ra. Hướng Vấn Thiên nói:
– Lúc đầu tại hạ cũng cho rằng những cố sự này do kẻ hiếu kỳ bịa đặt ra. Nhưng hai mươi lăm năm về trước, tại hạ đã thấy được phổ đồ của cuộc đấu giữa Lưu Trọng Phủ và tiên bà ở núi Ly Sơn. Nước cờ tuyệt diệu, người thường không thể bì được nên tại hạ mới tin những chuyện đó có thực chứ không phải là bịa đặt. Tiền bối cũng thích chơi cờ lắm phải không?
Đan Thanh tiên sinh cười ha hả, bộ râu dài của lão bay phấp phới.
Hướng Vấn Thiên hỏi:
– Sao tiền bối lại cười?
Đan Thanh tiên sinh nói:
– Các hạ hỏi nhị ca của ta có thích đánh cờ không? Ha ha, nhị ca ta có đạo hiệu là Hắc Bạch Tử, các hạ nói xem nhị ca thích hay không thích đánh cờ? Nhị ca mê cờ cũng như ta mê rượu vậy.
Hướng Vấn Thiên nói:
– Tại hạ nói bậy, thật là múa rìu qua mắt thợ, xin nhị trang chủ đừng trách.
Hắc Bạch Tử nói:
– Có thật ngươi đã thấy qua đồ phổ cuộc đấu cờ giữa Lưu Trọng Phủ và tiên bà trên núi Ly Sơn không? Ta xem trong bút ký của tiền nhân có ghi lại rằng Lưu Trọng Phủ là quốc thủ đương thời bị đại bại dưới tay của một bà già thôn quê ở chân núi Ly Sơn nên thổ huyết mấy tháng trời. Do vậy, cuộc cờ đó được gọi là “Ẩu huyết phổ”. Chẳng lẽ trên đời này thật có cuộc Ẩu huyết phổ này ư?
Lúc lão vào phòng, vẻ mặt rất lạnh lùng, bây giờ lại rất thân mật.
Hướng Vấn Thiên nói:
– Hai mươi lăm năm về trước, tại hạ đã từng thấy qua kỳ phổ trong một nhà thế gia ở Thành Đô, Tứ Xuyên. Chỉ vì cuộc cờ này có những nước đi kinh tâm động phách, nên tuy chuyện đã qua hai mươi lăm năm, toàn bộ có một trăm mười hai nước cờ đến hôm nay tại hạ vẫn còn nhớ rõ.
Hắc Bạch Tử nói:
– Tất cả có một trăm mười hai nước ư? Lão huynh thử bày ra cho ta coi. Nào nào, đến kỳ thất của ta để bày cờ đi.
Đan Thanh tiên sinh dang tay cản lại nói:
– Khoan đã. Nhị ca, nhị ca không làm cho tiểu đệ một tảng băng thì tiểu đệ không cho nhị ca đi đâu.
Lão vừa nói vừa bưng một chậu bằng sứ trắng đựng đầy nước đến.
Hắc Bạch Tử thở dài nói:
– Tứ đệ cũng có cái say mê, thôi ta đành chịu vậy.
Lão đưa ngón trỏ của tay phải ra nhúng vào chậu nước. Trong khoảnh khắc, mặt nước nổi lên những bọt khí trắng li ti, không bao lâu quanh miệng chậu đã có một lớp sương trắng. Tiếp theo trên mặt nước kết thành một lớp băng mỏng. Lớp băng kết càng lúc càng dày, trong khoảng thời gian uống cạn một tuần trà, nước trong chậu đều biến thành băng.
Hướng Vấn Thiên và Lệnh Hồ Xung lớn tiếng khen ngợi. Hướng Vấn Thiên nói:
– Công phu Hắc phong chỉ nghe nói thất truyền trong võ lâm đã lâu, thì ra nhị trang chủ…
Đan Thanh tiên sinh ngắt lời:
– Đây không phải là Hắc phong chỉ mà là Huyền thiên chỉ, nó cùng với công phu bá đạo Hắc phong chỉ có chỗ sai biệt rất lớn.
Lão vừa nói vừa đem bốn cái chén để lên chậu băng, rót đầy rượu Bồ đào vào chén. Không bao lâu, trên mặt rượu nổi lên những hạt khí trắng li ti. Lệnh Hồ Xung nói:
– Được rồi.
Đan Thanh tiên sinh cầm chén rượu uống một hơi, quả nhiên lão cảm thấy vị rượu vừa đậm vừa ngon, một luồng thanh lương thấm nhập vào tâm phế. Lão lớn tiếng khen:
– Tuyệt diệu! Rượu này ta cất đã ngon, cách bình phẩm rượu của Phong huynh đệ thật cao, băng của nhị ca làm cũng tuyệt. Còn lão huynh?
Lão quay sang Hướng Vấn Thiên nói:
– Lão huynh ngồi bên cạnh lúc tung lúc hứng lại càng tuyệt.
Hắc Bạch Tử cũng cầm bát rượu đưa lên miệng uống nhưng không nói vị rượu ngon hay dở mà kéo tay Hướng Vấn Thiên nói:
– Đi đi! Đi bày cuộc cờ Ẩu huyết phổ của Lưu Trọng Phủ cho ta xem.
Hướng Vấn Thiên kéo tay áo Lệnh Hồ Xung, Lệnh Hồ Xung hiểu ý nói:
– Tại hạ cũng đi xem.
Đan Thanh tiên sinh nói:
– Có gì hay đâu mà xem, chi bằng ta với lão đệ ở đây uống rượu.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Chúng ta vừa uống rượu vừa xem cờ.
Lệnh Hồ Xung nói xong liền đi theo Hắc Bạch Tử và Hướng Vấn Thiên. Đan Thanh tiên sinh không còn cách nào khác, đành ôm thùng rượu lớn đi vào kỳ thất.
Đó là một gian phòng rất lớn, ngoài cái bàn đá với hai cái ghế mềm ra, không có cái gì khác. Trên cái bàn đá khắc ngang dọc mười chín đường[5], bên cạnh đặt hộp cờ đen và một hộp cờ trắng. Trong kỳ thất ngoài bàn ghế ra, không bày một vật gì khác để người đấu cờ khỏi bị phân tâm.
Hướng Vấn Thiên đi đến trước bàn đá, bày ra bốn thế bình, thượng, khứ, nhập ở bốn góc bàn cờ.
Tiếp theo lão đặt vào vị bình ở điểm lục tam một con cờ trắng, sau đó đặt ở điểm cửu tam một con cờ đen, ở điểm lục ngũ đặt một con cờ trắng, ở điểm cửu ngũ đặt một con cờ trắng. Cứ như vậy lão đặt không nghỉ, dần dần lão đặt càng lúc càng chậm lại.
Lão bày xong, song phương cờ đen, cờ trắng thành thế tỉ đấu kịch liệt, ở giữa không còn một chỗ trống. Hắc Bạch Tử xem đến toát mồ hôi trán.
Lệnh Hồ Xung ngấm ngầm sửng sốt. Chàng thấy vừa rồi lão dùng Huyền thiên chỉ để hóa nước thành băng, thì biết nội lực tu luyện của lão cao cường đến thế nào. Lúc đó lão rất bình thường. Còn đánh cờ chỉ là chuyện nhỏ mà lão nhìn đến toát mồ hôi; có thể thấy lão chẳng quan tâm chuyện gì khác để khỏi loạn thần trí. Lão này say mê cờ đến nỗi trở thành điên khùng, chắc Hướng Vấn Thiên đã tìm được nhược điểm của lão mà tấn công.
Hắc Bạch Tử thấy Hướng Vấn Thiên đi xong nước cờ thứ sáu mươi sáu thì một lúc sau không đi thêm nước cờ nào nữa. Không nhịn được, lão hỏi:
– Nước kế tiếp đi thế nào?
Hướng Vấn Thiên mỉm cười nói:
– Đây là nước cờ then chốt, theo cao kiến của nhị trang chủ thì nên đi thế nào?
Hắc Bạch Tử suy nghĩ hồi lâu, trầm ngâm nói:
– Nước cờ này ư? Bỏ thì không ổn, liên cũng không phải, xông ra thì không được, làm cho sống cũng không xong. Cái này… cái này… cái này…
Lão cầm một con cờ trắng gõ lách cách lên bàn đá, qua khoảng thời gian một bữa ăn, không biết đi nước nào. Lúc này Đan Thanh tiên sinh và Lệnh Hồ Xung đã uống mười bảy, mười tám chén rượu Bồ đào.
Đan Thanh tiên sinh thấy sắc mặt của Hắc Bạch Tử càng lúc càng xanh mét, lão nói:
– Đồng lão huynh, Ẩu huyết phổ này chẳng lẽ Đồng huynh muốn nhị ca của ta phải thổ huyết mới được ư? Nước cờ kế tiếp ra sao, lão huynh thẳng thắn nói ra thôi.
Hướng Vấn Thiên nói:
– Được! Nước cờ thứ sáu mươi bảy đặt ở chỗ này.
Nói rồi lão đặt con cờ xuống điểm thất tứ ở thượng bộ. Hắc Bạch Tử vỗ bốp một cái vào đùi, reo lên:
– Hay quá, con cờ này đặt ở đây thật là tuyệt diệu!
Hướng Vấn Thiên nói:
– Nhị trang chủ thử nghĩ xem.
Hắc Bạch Tử suy nghĩ rất lâu, cảm thấy ván cờ sắp bại, khó lòng cứu vãn, bèn lắc đầu nói:
– Đã là tiên thì hàng phàm phu tục tử như ta sao nghĩ ra được? Đồng huynh đừng thử thách nữa.
Hướng Vấn Thiên mỉm cười nói:
– Nước cờ này thần cơ diệu toán, thật chỉ có thần tiên mới nghĩ ra được.
Hắc Bạch Tử là người giỏi đánh cờ cũng là người biết dò xét tâm ý của đối phương một cách rất tinh vi. Lão thấy Hướng Vấn Thiên không chịu nói huỵch toẹt ra nước cờ này khiến cho lão cảm thấy ngứa ngáy khó chịu, nghĩ rằng Hướng Vấn Thiên chắc là có đòi hỏi gì đó, bèn nói:
– Đồng huynh, Đồng huynh cứ đem thế cờ này nói ta cho ta nghe, ta cũng không nghe chùa của Đồng huynh đâu.
Lệnh Hồ Xung thầm nghĩ: Chẳng lẽ Hướng đại ca biết thần công Huyền thiên chỉ của nhị trang chủ có thể trị được bệnh cho ta nên mới bày chuyện để cầu xin lão?
Hướng Vấn Thiên ngẩng đầu lên cười ha hả, nói:
– Tại hạ và Phong huynh đệ tuyệt không có yêu cầu gì đối với bốn vị trang chủ. Nhị trang chủ nói như vậy là coi thường bọn tại hạ rồi.
Hắc Bạch Tử xá dài nói:
– Tại hạ lỡ lời, xin miễn thứ.
Hướng Vấn Thiên và Lệnh Hồ Xung trả lễ. Hướng Vấn Thiên nói:
– Bọn tại hạ đến Mai trang là muốn đánh cuộc với bốn vị trang chủ.
Hắc Bạch Tử và Đan Thanh tiên sinh cùng hỏi:
– Đánh cuộc ư? Đánh cuộc cái gì?
Hướng Vấn Thiên nói:
– Tại hạ đánh cuộc trong Mai trang không ai có thể thắng được kiếm pháp của Phong huynh đệ đây.
Hắc Bạch Tử và Đan Thanh tiên sinh quay qua nhìn Lệnh Hồ Xung, vẻ mặt của Hắc Bạch Tử thản nhiên, không nói gì. Đan Thanh tiên sinh thì cười ha hả nói:
– Đặt cược thế nào?
Hướng Vấn Thiên nói:
– Nếu bọn tại hạ thua thì bức họa này xin tặng cho tứ trang chủ.
Lão nói rồi cởi cái bao cột trên lưng xuống, mở ra. Bên trong có hai cuộn tròn. Lão mở một cuộn ra thì là một bức họa rất cũ, trên góc trái bức họa đề mười chữ “Bắc Tống Phạm Trung Lập khê sơn hành lữ đồ”. Bức họa vẽ một ngọn núi cao ngất trời, nét mực đen thẫm, khí thế rất hùng vĩ. Tuy Lệnh Hồ Xung không hiểu về thư họa song cũng biết bức họa sơn thủy này thật là một tuyệt tác; ngọn núi cao chót vót rậm rạp tuy chỉ được vẽ trên giấy cũng khiến cho người xem cảm thấy ngưỡng mộ, bất giác không tự chủ được.
Đan Thanh tiên sinh reo lên:
– Úi chà!
Hai mắt lão nhìn vào bức họa không chớp. Một lúc sau, lão mới nói:
– Đây là chân tích của Phạm Khoan đời Bắc Tống. Lão… lão… có được từ đâu vậy?
Hướng Vấn Thiên mỉm cười không đáp, từ từ cuộn bức họa lại. Đan Thanh tiên sinh nói:
– Khoan đã!
Lão đưa tay kéo tay Hướng Vấn Thiên muốn cản không cho Hướng Vấn Thiên cuốn lại. Nào ngờ bàn tay lão vừa đụng vào tay Hướng Vấn Thiên thì một luồng nội lực ôn hòa nhưng hùng hậu phát sinh làm cánh tay của lão bị đẩy nhẹ ra.
Hướng Vấn Thiên vờ như không biết gì, tiếp tục cuộn bức họa lại. Đan Thanh tiên sinh cảm thấy sửng sốt. Vừa rồi, lão đụng đến tay của Hướng Vấn Thiên, sợ làm rách bức họa nên chưa dùng nội lực nhưng Hướng Vấn Thiên vận nội kình hất tay lão ra như vậy, rõ ràng nội lực của Hướng Vấn Thiên vào hàng thượng thừa. Lão ngấm ngầm khâm phục, nói:
– Lão Đồng, thì ra võ công của lão Đồng tuyệt diệu như vậy, chỉ e không thua gì tứ trang chủ ta.
Hướng Vấn Thiên nói:
– Tứ trang chủ nói đùa. Ngoài kiếm pháp ra, môn công phu nào của bốn vị trang chủ Mai trang đều là vô địch đương thời. Đồng Hóa Kim vô danh tiểu tốt này làm sao dám so với tứ trang chủ.
Đan Thanh tiên sinh sa sầm nét mặt nói:
– Tại sao lão nói “Ngoài kiếm pháp ra”? Chẳng lẽ kiếm pháp của ta không bằng kiếm pháp của Phong huynh đệ?
Hướng Vấn Thiên mỉm cười nói:
– Nhị vị trang chủ, xin xem bức thư pháp này thế nào?
Lão đem một cuộn khác mở ra. Đây là một bức thảo thư, nét bút tinh xảo như rồng bay phượng múa.
Đan Thanh tiên sinh lấy làm lạ thốt lên:
– Úi chà, úi chà, úi chà!
Lão thốt lên ba tiếng úi chà rồi đột nhiên lớn tiếng gọi:
– Tam ca, tam ca! Cái bảo bối mà tam ca quý như tính mệnh đang ở đây này.
Tiếng lão gọi rất vang dội, làm chấn động cả tường vách cửa sổ, bụi cát ở trên tường rớt xuống. Lão la lên một cách đột ngột khiến Lệnh Hồ Xung không khỏi giật mình.
Từ xa có người hỏi:
– Chuyện gì mà la hoảng vậy?
Đan Thanh tiên sinh lại la lên:
– Tam ca mà không đến xem, người ta cuốn lại thì tam ca hối hận cả đời.
Bên ngoài có người nói:
– Ngươi lại tìm được bức thư pháp giả mạo nào nữa phải không?
Rèm cửa vén ra, một người đi vào. Người này mập lùn, cái đầu hói bóng lưỡng không có một cọng tóc nào, tay phải cầm một cây bút lớn, quần áo dính đầy vết mực. Lão đi đến gần vừa nhìn qua, bỗng hai mắt trợn ngược lên, hơi thở dồn dập, run run nói:
– Đây… đây là chân tích! Đúng là… đúng là Suất ý thiếp của Trương Húc đời Đường… Không… không giả được.
Thảo thư trên tấm thiếp múa lượn giống như một tay cao thủ võ lâm triển khai khinh công, lên cao rồi xuống thấp, tuy hành động thần tốc nhưng không làm mất đi sự phong lưu tao nhã. Trong mười chữ này, Lệnh Hồ Xung không đọc được chữ nào, nhưng thấy phía dưới thiếp viết đầy tên người đề tặng, không ít người có quan hàm rất cao, hắn đoán chừng tấm thiếp này không phải tầm thường.
Đan Thanh tiên sinh nói:
– Vị này là tam ca Ngốc Bút Ông của ta. Tam ca lấy ngoại hiệu này vì tính tam ca rất mê thư pháp, tam ca viết cùn hết hàng trăm ngàn cây bút chứ không phải vì đầu tam ca nhẵn bóng. Điểm này các vị chớ nhầm lẫn.
Lệnh Hồ Xung mỉm cười đáp dạ.
Ngốc Bút Ông đưa ngón trỏ tay phải vẽ trong không khí nét móc lên thuận theo đường bút họa trên thiếp, vẻ mặt say sưa ngây ngất không để ý gì đến Hướng Vấn Thiên và Lệnh Hồ Xung. Ngay cả Đan Thanh tiên sinh nói gì lão cũng bỏ ngoài tai.
Trong lúc đó Lệnh Hồ Xung đột nhiên chấn động đầu óc. Chàng nghĩ: Hướng đại ca bày chuyện này chỉ e đã có âm mưu từ trước. Nhớ lần đầu mình gặp đại ca ở trong lương đình thì trên lưng đại ca đã có bao này rồi.
Nhưng Lệnh Hồ Xung chuyển đổi ý nghĩ: Trong cái bao lúc đó chưa chắc có đựng hai cuộn tròn này. Nói không chừng vì Hướng đại ca đến cầu bốn vị trang chủ của Mai trang trị bệnh cho ta, lúc ta nghỉ ngơi trong khách điếm, đại ca đã đi ra ngoài mua hoặc là ăn trộm về. Hừ, chắc là ăn trộm thì đúng hơn, báu vật vô giá như vậy dễ gì mua được?
Tai chàng nghe Ngốc Bút Ông vẽ chữ trong không khí, chỉ phong phát ra tiếng veo véo nho nhỏ, nội lực của lão thật mạnh, chẳng thua kém gì Hắc Bạch Tử . Lệnh Hồ Xung lại nghĩ: Nội thương của ta là vì Đào Cốc lục tiên và Bất Giới hòa thượng mà ra, mà nội công của ba vị trang chủ Mai trang dường như mạnh hơn cả Đào Cốc lục tiên và Bất Giới đại sư. Còn vị đại trang chủ không chừng càng lợi hại hơn nữa. Thêm vào nội lực của Hướng đại ca, năm người hợp lại thì có thể trị thương cho ta. Nhưng chỉ mong bọn họ đừng phí công nhiều mới được.
Hướng Vấn Thiên không đợi Ngốc Bút Ông viết xong, đã cuộn bức thiếp thư lại, cho vào bao.
Ngốc Bút Ông sửng sốt nhìn Hướng Vấn Thiên, một lúc sau mới nói:
– Lão huynh đổi cái gì?
Hướng Vấn Thiên lắc lắc đầu nói:
– Cái gì cũng không thể đổi được.
Ngốc Bút Ông nói:
– Hai mươi tám chiêu Thạch cổ đả huyệt bút pháp được không?
Hắc Bạch Tử và Đan Thanh tiên sinh cùng la lên:
– Không được!
Ngốc Bút Ông nói:
– Được chứ, tại sao không được? Có thể đổi lấy được chân tích bức thảo thư của Trương Húc thì Thạch cổ đả huyệt bút pháp của ta đâu có gì phải tiếc?
Hướng Vấn Thiên lắc đầu nói:
– Không được!
Ngốc Bút Ông sốt ruột hỏi:
– Vậy tại sao huynh lại đem đến cho ta xem?
Hướng Vấn Thiên nói:
– Dù tại hạ không phải nhưng tam trang chủ cứ coi như chưa từng xem qua là được.
Ngốc Bút Ông nói:
– Đã xem qua rồi, làm sao có thể cho rằng chưa từng xem qua?
Hướng Vấn Thiên nói:
– Tam trang chủ muốn có được bức chân tích của Trương Húc này cũng đâu có khó, chỉ cần đánh cược với bọn tại hạ.
Ngốc Bút Ông vội hỏi:
– Đánh cược thế nào?
Đan Thanh tiên sinh nói:
– Tam ca, người này hơi khùng khùng điên điên. Lão đánh cược trong Mai trang chúng ta không ai có thể thắng được kiếm pháp của vị Phong bằng hữu phái Hoa Sơn này.
Ngốc Bút Ông hỏi:
– Nếu có người thắng được vị bằng hữu này thì sao?
Hướng Vấn Thiên đáp:
– Nếu trong Mai trang bất luận vị nào thắng được trường kiếm trong tay Phong huynh đệ của tại hạ thì tại hạ sẽ đem bức Suất ý thiếp chân tích của Trương Húc phụng tặng tam trang chủ, đem bức Khê sơn hành lữ đồ chân tích của Phạm Khoan phụng tặng tứ trang chủ, đem hai mươi danh cục cờ vây của thần tiên quỷ quái mà tại hạ thuộc nằm lòng nhất nhất viết ra để tặng cho nhị trang chủ.
Ngốc Bút Ông nói:
– Còn đại ca của bọn ta thì sao? Lão huynh sẽ tặng đại ca ta cái gì?
Hướng Vấn Thiên nói:
– Tại hạ có một bộ cầm phổ “Quảng Lăng tán”, không chừng đại trang chủ…
Hướng Vấn Thiên chưa nói hết lời thì bọn Hắc Bạch Tử ba người cùng thốt lên:
– “Quảng Lăng tán” ư?
Lệnh Hồ Xung cũng giật mình: Cầm phổ “Quảng Lăng tán” này là do Khúc trưởng lão quật mộ cổ mà có được. Lão đem khúc cầm phổ này đưa vào khúc “Tiếu ngạo giang hồ”, sao Hướng đại ca lại có nó?
Lệnh Hồ Xung liền hiểu ra: Hướng đại ca là tả sứ của Ma giáo mà Khúc trưởng lão là trưởng lão trong Ma giáo, chắc hai người có mối giao hảo. Sau khi Khúc trưởng lão được bộ cầm phổ này thì vui mừng khôn xiết nên nói với Hướng đại ca. Hướng đại ca muốn mượn để sao chép, tất nhiên Khúc trưởng lão đồng ý.
Lệnh Hồ Xung nghĩ đến khúc phổ của người đã mất, bất giác thở dài. Ngốc Bút Ông lắc đầu nói:
– Từ sau khi Kê Khang chết, “Quảng Lăng tán” bị thất truyền. Đồng huynh nói vậy chắc để lừa dối người.
Hướng Vấn Thiên mỉm cười nói:
– Tại hạ có một vị bằng hữu thâm giao mê đàn đến hóa điên. Lão nói sau khi Kê Khang chết thì từ đó thiên hạ không còn nghe khúc “Quảng Lăng tán”. Bộ cầm phổ này sau đời Tây Tấn thì không còn nữa, nhưng trước đời Tây Tấn thì sao?
Bọn Ngốc Bút Ông ba người sửng sốt nhìn nhau, nhất thời không hiểu ý Hướng Vấn Thiên muốn nói gì. Hướng Vấn Thiên nói tiếp:
– Vị bằng hữu này của tại hạ thông minh hơn người, dám to gan làm càn. Lão đi quật mộ của các danh nhân gảy đàn trước đời Tấn. Quả nhiên người có chí thì việc hoàn thành, sau khi lão quật mấy chục ngôi mộ cổ, cuối cùng tìm được trong ngôi mộ cổ của Thái Ung đời Đông Hán khúc phổ này.
Ngốc Bút Ông và Đan Thanh tiên sinh đều giật mình ồ lên một tiếng. Hắc Bạch Tử gật đầu nói:
– Trí dũng song toàn, thật tuyệt!
Hướng Vấn Thiên mở bao lấy một cuốn sách, trên bìa sách viết năm chữ “Quảng Lăng tán cầm khúc”. Lão giở sách ra, quả là cầm phổ. Lão đưa cuốn sách cho Lệnh Hồ Xung rồi nói:
– Phong huynh đệ, trong Mai trang nếu có vị cao nhân nào thắng được kiếm pháp của huynh đệ thì huynh đệ đem cầm phổ này tặng cho đại trang chủ.
Lệnh Hồ Xung nhận sách, bỏ vào trong túi, thầm nghĩ: Nói không chừng đây là di vật của Khúc trưởng lão. Khúc trưởng lão đã chết, Hướng đại ca muốn lấy quyển cầm phổ này thì đâu có khó gì?
Đan Thanh tiên sinh cười nói:
– Vị Phong huynh đệ này tinh thông tửu lý, kiếm pháp chắc cũng cao minh nhưng tuổi của Phong huynh đệ còn trẻ, chẳng lẽ trong Mai trang ta, hì hì… hì hì, thật là nực cười.
Hắc Bạch Tử nói:
– Nếu trong Mai trang ta quả nhiên không ai có thể thắng được Phong thiếu hiệp thì bọn ta phải thua cuộc cái gì?
Lệnh Hồ Xung và Hướng Vấn Thiên đều có giao ước trước mọi chuyện phải theo sự sắp đặt của lão. Nhưng sự việc diễn biến đến thế này, chàng cảm thấy Hướng Vấn Thiên làm hơi thái quá, đã đến cầu danh y sao lại cuồng vọng coi nhẹ đối phương? Huống hồ nội lực của mình đã mất hết, làm sao có thể là đối thủ của những cao nhân trong Mai trang được? Lệnh Hồ Xung nói:
– Đồng đại ca thích nói đùa. Kẻ hèn này thuộc hàng hậu bối, học chưa đến nơi, sao dám giảng võ luận kiếm với các vị trang chủ ở Mai trang?
Hướng Vấn Thiên nói:
– Mấy câu khách khí này Phong huynh đệ đương nhiên phải nói, nếu không người ta sẽ cho rằng Phong huynh đệ là kẻ cuồng vọng tự đại.
Dường như Ngốc Bút Ông chẳng để tai nghe hai người nói, lão lẩm bẩm ngâm: “Trương Húc tam bôi thảo thánh truyền. Thoát mạo lộ đỉnh vương công tiền. Huy hào lạc chỉ như vân yến”. Nhị ca, Trương Húc hiệu xưng là Thảo thánh, là thánh của môn chữ thảo, nhưng ba câu thơ này là của Đỗ Phủ trong bài “Ẩm trung bát tiên ca” viết về Trương Húc. Người này cũng là một trong Ẩm trung bát tiên. Nhị ca xem Suất ý thiếp này có tưởng tượng ra tình cảnh năm xưa lúc lão say rượu hạ bút. Ôi, thật là thiên mã hành không, không có dây cương để dừng lại. Chữ đẹp, chữ đẹp quá!
Đan Thanh tiên sinh nói:
– Đúng vậy, người này mê uống rượu thì dĩ nhiên là một đại hảo nhân, nên chữ viết đương nhiên không chê vào đâu được.
Ngốc Bút Ông nói:
– Hàn Dũ bình phẩm về Trương Húc rằng: “Hỷ nộ bần cùng, ưu bị sảng khoái, oán hận nhớ thương, say sưa túy lúy. Lòng động nỗi bất bình, đem phác cả thành chữ thảo”. Vị công chính này là người cùng làng với ta, hễ lòng có chuyện bất bình thì phác cả vào chữ thảo, giống như vung kiếm múa trượng há chẳng khoái ư?
Lão đưa ngón tay lên, lại viết trong không khí, lão viết được mấy nét thì nói với Hướng Vấn Thiên:
– Này, lão huynh mở ra cho ta xem chút nữa đi.
Hướng Vấn Thiên lắc đầu cười nói:
– Sau khi tam trang chủ thủ thắng thì tấm thiếp này là của tam trang chủ. Bây giờ hà tất phải sốt ruột?
Hắc Bạch Tử giỏi về đánh cờ, trầm ngâm suy nghĩ đắn đo mãi, không nghĩ thắng mà lo bại trước, lại hỏi:
– Nếu trong Mai trang không ai thắng được kiếm pháp của Phong thiếu hiệp thì bọn ta phải thua cái gì?
Hướng Vấn Thiên nói:
– Bọn tại hạ không cầu chuyện gì, cũng không cầu vật gì. Phong huynh đệ bất quá là tìm đến chỗ võ học tuyệt đỉnh thiên hạ này để chứng thực kiếm pháp với các tay cao thủ đương thời. Nếu may mắn thắng được các vị, thì bọn tại hạ quay người đi, cái gì đặt cược ta cũng không cầu.
Hắc Bạch Tử nói:
– Ồ, vị Phong thiếu hiệp này chỉ muốn cầu danh tiếng. Một kiếm liên tục đả bại Giang Nam tứ hữu dĩ nhiên oai danh sẽ chấn động giang hồ.
Hướng Vấn Thiên lắc đầu nói:
– Nhị trang chủ đoán sai rồi. Hôm nay Mai trang chứng thực kiếm pháp bất luận ai thắng ai bại, nếu có một lời tiết lộ ra ngoài thì tại hạ và Phong huynh đệ sẽ bị trời tru đất diệt, là hạng người không bằng cứt chó.
Đan Thanh tiên sinh nói:
– Được, được! Nói thật là hay! Căn phòng này rất rộng, ta và Phong huynh đệ thử tỉ hoạch mấy chiêu. Phong huynh đệ, kiếm của Phong huynh đệ đâu?
Hướng Vấn Thiên cười nói:
– Đến Mai trang, sao dám mang binh khí?
Đan Thanh tiên sinh lớn tiếng gọi:
– Đem hai thanh kiếm ra đây!
Bên ngoài có người đáp dạ. Đinh Kiên và Thi Lệnh Oai mỗi lão cầm một thanh kiếm đi đến trước mặt Đan Thanh tiên sinh cúi người dâng lên. Đan Thanh tiên sinh nhận kiếm từ tay Đinh Kiên, nói:
– Đưa thanh kiếm này cho Phong huynh đệ.
Thi Lệnh Oai đáp dạ, rồi hai tay cầm kiếm đi đến trước mặt Lệnh Hồ Xung.
Lệnh Hồ Xung cảm thấy lúng túng trước chuyện này, chàng quay đầu nhìn Hướng Vấn Thiên.
Hướng Vấn Thiên nói:
– Kiếm pháp thần thông của tứ trang chủ Mai trang, Phong huynh đệ chỉ cần học được một chiêu nửa thức thì có thể thụ dụng bất tận cả đời.
Lệnh Hồ Xung đứng trước tình thế này, biết không thể từ chối trận tỉ kiếm, đành phải cúi người, hai tay nhận lấy trường kiếm.
Hắc Bạch Tử bỗng nói:
– Tứ đệ khoan đã. Vị Đồng huynh này đánh cược là bất kỳ ai trong Mai trang chúng ta thắng được Phong huynh, Đinh Kiên cũng biết sử kiếm mà lão cũng là người trong Mai trang, nên đâu cần nhất định tứ đệ phải đích thân ra tay.
Lão càng nghe Hướng Vấn Thiên nói có vẻ chắc chắn thắng thì lão càng cảm thấy chuyện này không ổn, liền quyết định để Đinh Kiên ra tay thử chiêu trước. Lão nghĩ kiếm pháp của Đinh Kiên cũng tuyệt diệu mà thân phận chỉ là gia nhân của Mai trang, dù thua cũng không làm tổn thương oai danh của Mai trang. Chỉ cần lão ra một chiêu thì có thể biết được thực hư trong kiếm pháp của gã Phong Nhị Trung này.
Hướng Vấn Thiên nói:
– Phải, phải. Chỉ cần có người trong Mai trang thắng được kiếm pháp của Phong huynh đệ tại hạ thì coi như bọn tại hạ đã thua, không nhất định là đích thân tứ trang chủ ra tay. Vị Đinh huynh này được người trên giang hồ gọi là Nhất tự điện kiếm, kiếm chiêu rất nhanh, thế gian hiếm thấy. Phong huynh đệ, trước tiên huynh đệ hãy lĩnh giáo chữ “Điện” trong kiếm pháp của Đinh huynh này là được rồi.
Đan Thanh tiên sinh ném trường kiếm qua Đinh Kiên rồi cười nói:
– Nếu ngươi thua, ta phạt ngươi đi Thổ Lỗ Phồn vận chuyển rượu về đấy.
Đinh Kiên khom người nhận kiếm bay đến. Lão quay sang nói với Lệnh Hồ Xung:
– Đinh mỗ xin lĩnh giáo kiếm pháp của Phong gia.
Soạt một tiếng, Đinh Kiên rút trường kiếm ra. Lệnh Hồ Xung cũng rút trường kiếm ra khỏi vỏ, đặt vỏ kiếm lên trên bàn đá. Hướng Vấn Thiên nói:
– Ba vị trang chủ và Đinh huynh, chúng ta chỉ chứng thực kiếm pháp chứ không tỷ đấu nội lực.
Hắc Bạch Tử nói:
– Vậy ai điểm trúng thì dừng lại.
Hướng Vấn Thiên nói:
– Phong huynh đệ, Phong huynh đệ không được sử ra một chút nội lực nào hết. Chúng ta tỉ đấu kiếm pháp, người nào có chiêu số tinh thục thì thắng, người ra chiêu số sơ hở thì thua. Khí công của phái Hoa Sơn huynh đệ nổi danh trong võ lâm, nếu huynh đệ dùng nội lực thủ thắng thì coi như chúng ta thua rồi.
Lệnh Hồ Xung cười thầm trong bụng, nghĩ: Hướng đại ca thừa biết ta chẳng có chút nội lực nào. Đây là nói để lừa người ta.
Lệnh Hồ Xung liền nói:
– Nội lực của tiểu đệ mà sử ra thì khiến cho ba vị tiền bối và hai vị huynh đệ Đinh, Thi đây phải cười đến rớt cả răng, đương nhiên tiểu đệ không dám sử ra chút nào đâu.
Hướng Vấn Thiên nói:
– Chúng ta đến Mai trang với tất cả thành ý, nếu Phong huynh đệ quá khiêm tốn thì đối với bốn vị tiền bối sẽ trở thành bất kính. Tử hà thần công của phái Hoa Sơn huynh đệ còn hơn cả nội công của phái Tung Sơn ta, trong võ lâm ai cũng biết điều đó. Phong huynh đệ, huynh đệ hãy đứng vào trong hai vết chân của ta, hai chân không được di động, để cùng Đinh huynh tỷ thí kiếm chiêu xem sao.
Hướng Vấn Thiên nói xong liền đứng sang một bên. Trên hai miếng gạch xanh hiện ra dấu ấn hai bàn chân, sâu đến hai tấc. Thì ra lúc đang nói, lão đã ngấm ngầm vận nội lực ấn mạnh hai bàn chân xuống nền gạch xanh.
Hắc Bạch Tử, Ngốc Bút Ông, Đan Thanh tiên sinh cả ba người cùng reo lên:
– Hảo công phu!
Họ thấy Hướng Vấn Thiên nói năng hoạt bát, vẻ mặt bình thản, lão chỉ vận nội lực xuống bàn chân và ấn bàn chân xuống mà không bị sứt mẻ miếng gạch nào, hai vết chân sâu cạn như nhau giống như điêu khắc tỉ mỉ vậy. Nội công kinh người ấy thực là khó ai bì kịp. Bọn Đan Thanh tiên sinh chỉ biết là Hướng Vấn Thiên phô diễn nội công, cách phô trương như vậy tuy không khỏi có chút nông cạn, không phải là hành vi của bậc cao nhân, nhưng thần công kinh người khiến cho người ta khâm phục. Bọn họ không biết Hướng Vấn Thiên còn có một thâm ý khác. Còn Lệnh Hồ Xung đương nhiên là hiểu. Hướng Vấn Thiên tuyên dương nội công của chàng cao hơn so với lão, nội công của lão đã cao thâm như vậy thì dĩ nhiên chàng càng lợi hại hơn, lúc đối phương quá chiêu quyết không dám sử dụng nội lực để khỏi rước nhục vào thân. Vả lại ngoài kiếm pháp ra, những võ công khác của chàng không có gì đáng nói, còn khinh công quyết không phải là sở trường. Hai chân đứng vào vết chân của lão, chỉ triển khai kiếm pháp, cũng là cách che giấu cái sở đoản của mình.
Đinh Kiên nghe Hướng Vấn Thiên bảo Lệnh Hồ Xung đứng hai chân vào vết chân của lão để tỷ kiếm với mình, rõ ràng là có ý coi thường lão, nên lòng lão không khỏi tức giận. Nhưng lão thấy công lực của lão họ Đồng thâm hậu như vậy cũng không khỏi kinh hãi, thầm nghĩ: Bọn này cả gan dám đến khiêu chiến với bốn vị trang chủ, thì dĩ nhiên không phải là hạng tầm thường. Ta chỉ mong đấu với người này giữ được thế quân bình coi như đã lập được công cho Cô Sơn Mai trang rồi vậy.
Năm xưa, lão rất ngông cuồng kiêu ngạo, về sau gặp phải cường địch bức bách lão lâm vào thế sống dở chết dở. May mà được Giang Nam tứ hữu ra tay giải cứu khỏi nơi khốn cùng, lão mới đầu thân vào Mai trang, cam tâm làm đầy tớ, bao nhiêu kiêu ngạo hống hách đều bỏ hết.
Lệnh Hồ Xung bước vào vết chân của Hướng Vấn Thiên, mỉm cười nói:
– Mời Đinh huynh!
Đinh Kiên nói:
– Tại hạ xin thất lễ.
Đinh Kiên vung ngang trường kiếm, véo một tiếng, trước mắt mọi người một đường chớp sáng lướt qua. Tuy lão đã quy ẩn ở Mai trang hơn mười năm nhưng công phu vẫn không thua kém gì năm xưa. Mỗi chiêu Nhất tự điện kiếm xuất ra đều như chớp xẹt ngang trời, khiến cho người nhìn thấy phải kinh tâm động phách. Năm xưa Đinh Kiên bị bại dưới tay Độc hành đại đạo mù lòa chỉ vì đối thủ mù mắt chỉ nghe tiếng động mà nhắm phương hướng, nên chiêu Nhất tự điện kiếm khiến người ta phải khiếp mà lão không thể thi triển ra được. Bây giờ lão đem kiếm pháp này thi triển ra, trong chớp mắt cả gian phòng đều đầy những tia điện quang làm lóa mắt mọi người.
Nhưng Đinh Kiên vừa xuất ra một chiêu Nhất tự điện kiếm thì Lệnh Hồ Xung đã thấy được ba chỗ sơ hở lớn của lão. Đinh Kiên không vội tấn công, lão chỉ vung ngang trường kiếm liên tục giống như là ra vẻ kính lễ với khách nhưng thực ra lão có dụng ý muốn Lệnh Hồ Xung bị lóa mắt, thần trí đờ ra, khó chống đỡ những chiêu sau của lão. Lúc lão sử chiêu thứ năm, Lệnh Hồ Xung đã thấy được mười tám chỗ sơ hở trong kiếm pháp của lão liền nói:
– Tại hạ thật là đắc tội.
Lệnh Hồ Xung phóng trường kiếm chênh chếch ra.
Lúc này Đinh Kiên đang vung kiếm lướt nhanh từ trái qua phải thì mũi kiếm của Lệnh Hồ Xung chỉ cách cổ tay lão khoảng hai thước sáu, bảy tấc. Thế lướt kiếm này của Đinh Kiên là tự đưa cổ tay của mình đến mũi kiếm của Lệnh Hồ Xung. Thế kiếm của Đinh Kiên đi quá mạnh nên không cách nào đổi được. Năm người đứng xem không hẹn mà cùng la lên:
– Cẩn thận!
Hắc Bạch Tử đang cầm hai con cờ trong tay, toan ném qua đánh trường kiếm của Lệnh Hồ Xung, để cổ tay của Đinh Kiên không bị chặt đứt, nhưng lão lại nghĩ: Nếu mình ra tay hỗ trợ thì thành thế hai chọi một, Mai trang bị thua trắng rồi, không thể đấu tiếp nữa.
Lúc lão đang chần chừ thì cổ tay của Đinh Kiên đã hướng thẳng vào mũi kiếm của Lệnh Hồ Xung, Thi Lệnh Oai lớn tiếng la lên:
– Chao ôi!
Trong khoảng thời gian chớp nhoáng này, Lệnh Hồ Xung nhẹ xoay chuyển cổ tay nên mũi kiếm nghiêng lệch qua. Bốp một tiếng, cổ tay của Đinh Kiên đã đánh lên sống kiếm của hắn nên lão không bị tổn thương gì hết. Đinh Kiên ngẩn người ra, biết Lệnh Hồ Xung đã hạ thủ lưu tình. Trong khoảnh khắc này lão nhìn lại bàn tay của mình, nghĩ nếu nó bị chặt đứt thì tàn phế võ công suốt đời, khắp người lão toát mồ hôi lạnh. Lão cúi người nói:
– Đa tạ Phong lão hiệp đã nương tay.
Lệnh Hồ Xung cũng khom người hoàn lễ, nói:
– Không dám! Đa tạ Đinh huynh đã nhường nhịn.
Hắc Bạch Tử, Ngốc Bút Ông và Đan Thanh tiên sinh thấy Lệnh Hồ Xung nghiêng mũi kiếm để Đinh Kiên không bị đả thương thì lòng họ đều nẩy ra mối thiện cảm. Đan Thanh tiên sinh rót đầy một chén rượu nói:
– Phong huynh đệ, kiếm pháp của Phong huynh đệ thật tinh kỳ, ta kính huynh đệ một chén.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Tại hạ không dám.
Lệnh Hồ Xung liền đón chén rượu uống cạn. Đan Thanh tiên sinh bồi tiếp một chén nữa rồi lại rót đầy rượu vào chén của Lệnh Hồ Xung, nói:
– Phong huynh đệ, tấm lòng nhân hậu của Phong huynh đệ đã bảo toàn được bàn tay của Đinh Kiên. Ta kính huynh đệ một chén nữa.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Đó chẳng qua là may mắn, đâu có gì đáng kể?
Lệnh Hồ Xung đưa hai tay bưng chén rượu uống. Đan Thanh tiên sinh lại rót thêm một chén nữa, nói:
– Đây là chén thứ ba, hai chúng ta không ai được uống trước. Ta và huynh đệ cùng đấu chơi, nếu ai thua thì phải uống chén rượu này.
Lệnh Hồ Xung cười nói:
– Nếu vậy thì dĩ nhiên tại hạ thua, chi bằng để tại hạ uống trước.
Đan Thanh tiên sinh xua tay nói:
– Đừng vội, đừng vội!
Lão đặt chén rượu lên bàn đá, nhận trường kiếm từ tay của Đinh Kiên nói:
– Phong huynh đệ, huynh đệ xuất chiêu trước đi.
Lúc Lệnh Hồ Xung uống mấy chén rượu, lòng đã tính toán: Lão tự xưng là đệ nhất hảo tửu, đệ nhị hảo họa, đệ tam hảo kiếm, tất nhiên kiếm pháp của lão rất tinh thâm. Ta xem bức tranh tiên nhân mà lão họa treo ở trong đại sảnh, bút pháp rất mạnh mẽ mà dường như có một chút gì đó mình chưa nắm được. Nếu kiếm pháp của lão cũng như vậy thì ta đối phó cũng không khó gì lắm. Lệnh Hồ Xung cúi người nói:
– Tứ trang chủ, xin trang chủ nhẹ tay cho.
Đan Thanh tiên sinh nói:
– Phong huynh đệ không cần phải khách khí, xuất chiêu đi.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Xin tuân mệnh!
Lệnh Hồ Xung đưa trường kiếm lên, vung kiếm nhắm đâm vào đầu vai của Đan Thanh tiên sinh.
Chiêu kiếm này phóng ra thế đi xiêu vẹo rõ ràng không có chút khí lực nào, càng không ra chiêu pháp gì. Kiếm pháp trong thiên hạ quyết không có chiêu nào như vậy. Đan Thanh tiên sinh ngạc nhiên nói:
– Sao kỳ vậy?
Lão đã biết Lệnh Hồ Xung là người phái Hoa Sơn nên trong đầu lão đã hiện lên các đường kiếm pháp của phái Hoa Sơn, nào ngờ Lệnh Hồ Xung xuất ra chiêu này ngoài sự tưởng tượng của lão.
Nó không những không phải là kiếm pháp của phái Hoa Sơn, thậm chí cũng không phải là kiếm pháp nữa.
Lệnh Hồ Xung học kiếm pháp của Phong Thanh Dương, ngoài Độc Cô cửu kiếm độc đáo xưa nay còn lĩnh ngộ được tinh nghĩa trong việc học kiếm là “Lấy vô chiêu thắng hữu chiêu”. Yếu chỉ này và Độc Cô cửu kiếm luôn bổ sung cho nhau. Độc Cô cửu kiếm tinh vi ảo diệu đạt đến cực điểm. Trong từng chiêu từng thức, có thể tìm ra chỗ sơ hở của đối phương, rồi đem kiếm lý “Lấy vô chiêu thắng hữu chiêu” mà vận dụng thêm vào thì chiêu kiếm càng linh hoạt phiêu bồng khiến cho người không biết đường đối phó. Lệnh Hồ Xung chỉ mới xuất một chiêu thì Đan Thanh tiên sinh đã ngẩn người, liền cảm thấy nếu chống đỡ thì thực lão không biết nên chống đỡ ra sao. Lão đành phải lùi ra hai bước né tránh.
Một chiêu của Lệnh Hồ Xung đã bức được Đinh Kiên phải buông kiếm chịu thua, tuy Hắc Bạch Tử và Ngốc Bút Ông đã ngấm ngầm khen kiếm pháp của Lệnh Hồ Xung nhưng hai lão cũng hơi kiêu ngạo, nghĩ rằng Lệnh Hồ Xung đã dám đến Mai trang khiêu chiến, nếu ngay cả một tên đầy tớ của Mai trang mà đấu cũng không lại tất khiến người ta quá nực cười. Nhưng khi thấy Đan Thanh tiên sinh bị một kiếm của Lệnh Hồ Xung bức bách phải thối lui hai bước thì hai lão không khỏi ngạc nhiên.
Sau khi Đan Thanh tiên sinh lùi lại hai bước liền tiến lên hai bước. Trường kiếm của Lệnh Hồ Xung liền phóng ra, lần này nhắm kiếm đâm vào sườn trái của lão, vẫn thuận tay đâm kiếm ra hoàn toàn không theo chiêu thức nào hết. Đan Thanh tiên sinh quét ngang kiếm toan đỡ nhưng song kiếm chưa giao nhau thì lão liền cảm thấy mũi kiếm của Lệnh Hồ Xung đã chỉ chênh chếch vào dưới sườn phải của mình. Môn hộ dưới sườn phải của lão là chỗ sơ hở lớn, đối phương mà thừa thế tấn công thì không sao cứu vãn được. Lão không dám gạt, trong lúc nguy cấp liền biến chiêu, đẩy mạnh hai chân nhảy lùi về phía sau hơn một trượng. Lão lớn tiếng khen:
– Hảo kiếm pháp!
Lão không ngừng nghỉ chút nào, vội xông đến, cả người lẫn kiếm nhắm đâm nhanh về hướng Lệnh Hồ Xung, thế rất uy mãnh.
Lệnh Hồ Xung thấy khuỷu tay phải của lão có một chỗ sơ hở rất lớn, liền vung trường kiếm nhắm hớt vào khuỷu tay phải của lão. Nếu Đan Thanh tiên sinh không biến chiêu thì khuỷu tay phải của lão sẽ bị Lệnh Hồ Xung chém trúng. Võ công của lão cũng thật cao cường, trong lúc nguy cấp lão vội trầm cổ tay xuống. Lão đâm trường kiếm xuống đất, mượn thế phóng lộn người ra sau hai trượng. Lúc này, lưng lão cách vách tường không quá mấy tấc, nếu lúc lộn người lão dùng lực quá mạnh thì lưng đã đập vào vách tường, làm mất đi oai phong của một cao nhân. Trong phút chốc, lão đã tránh được nguy hiểm, mặt lão nổi lên sắc đỏ tía.
Lão là người phóng khoáng đầy khí phách, không thẹn hay tức giận mà trái lại còn bật cười ha hả, đưa ngón tay cái lên khen:
– Hảo kiếm pháp!
Lão múa tít trường kiếm xuất ra chiêu Bạch hồng quán nhật, kế tiếp lão biến chiêu Xuân phong dương liễu rồi lại biến chiêu Đằng giao khởi phụng. Ba chiêu kiếm này xuất ra liên tục, dường như không thấy chân lão xê dịch nhưng lúc lão sử ba chiêu kiếm ra, mũi kiếm đã nhắm đến trước mặt Lệnh Hồ Xung.
Lệnh Hồ Xung liền nhẹ nghiêng kiếm, đánh lên lưng kiếm của lão, phương vị rất chuẩn xác. Trường kiếm của Đan Thanh tiên sinh phóng tới thì bao nhiêu tinh thần khí lực đều tập trung vào mũi kiếm còn trên sống kiếm lại không có chút lực đạo nào. Chỉ nghe keng một tiếng nhẹ, trường kiếm của lão bị đè xuống. Trường kiếm của Lệnh Hồ Xung hất ra rồi chỉ vào ngực lão. Đan Thanh tiên sinh a lên một tiếng, nhảy người né sang bên trái.
Tay trái của lão nắm chặt kiếm quyết, trường kiếm trong tay phải tấn công qua, lần này thế chém của lão rất mạnh. Đang lúc vung kiếm lên cao chém xuống, lão la to:
– Cẩn thận!
Lão cũng không muốn làm tổn thương Lệnh Hồ Xung nhưng thế kiếm Ngọc long đảo huyền rất lợi hại, nếu Lệnh Hồ Xung không tránh kịp thì lão không thu kiếm về kịp, chỉ e lão sẽ chém Lệnh Hồ Xung bị thương thật.
Lệnh Hồ Xung hất trường kiếm lên, choang một tiếng, lưỡi kiếm của chàng đã chênh chếch dính vào lưỡi kiếm của lão. Nếu chiêu kiếm này của Đan Thanh tiên sinh thừa thế chém xuống thì lúc lưỡi kiếm chưa đến đỉnh đầu Lệnh Hồ Xung, năm ngón tay cầm kiếm của lão đã bị Lệnh Hồ Xung chém rớt. Thấy trường kiếm của Lệnh Hồ Xung trượt lên trên lưỡi kiếm của mình, chiêu này lão không thể phá được. Lão đành phải đánh mạnh chưởng trái xuống. Ầm một tiếng, lão vọt người nhảy về phía sau hơn một trượng.
Lão chưa đứng vững đã liên tục vạch trường kiếm ba vòng trước mặt tựa hồ như ba vòng hào quang trắng xóa. Ba vòng ánh quang này giống như vật hữu hình ngừng lại trên không gian một lúc rồi từ từ dịch chuyển đến trước người Lệnh Hồ Xung. Mấy luồng kiếm khí xoay thành vòng tròn, ánh bạch quang dường như không lợi hại bằng Nhất tự điện kiếm nhưng kiếm khí tỏa ra đầy nhà, khí lạnh ào ạt. Lệnh Hồ Xung phóng trường kiếm ra, đâm tạt ngang vào vòng ánh quang từ mé trái. Luồng lực đạo chiêu thứ nhất của Đan Thanh tiên sinh vừa đi qua mà kình lực của chiêu thứ hai chưa phát sinh nên Lệnh Hồ Xung mới tận dụng được chỗ sơ hở này. Đan Thanh tiên sinh la úi chà một tiếng, liền nhảy lùi ra, vòng kiếm quang cũng lùi ra theo lão. Vòng kiếm quang bỗng nhiên co lại rồi trương rộng ra, lại xông về hướng Lệnh Hồ Xung. Cổ tay Lệnh Hồ Xung rung một cái, phóng trường kiếm đâm ra, Đan Thanh tiên sinh lại la úi chà một tiếng rồi vội nhảy lùi ra.
Đan Thanh tiên sinh cứ chợt tiến chợt thoái, lão tấn công càng nhanh thì thoái cũng càng nhanh. Trong khoảnh khắc lão đã tấn công mười một chiêu và lùi mười một lần. Bỗng thấy râu tóc lão dựng đứng, luồng kiếm quang cực mạnh chiếu vào mặt lão khiến mặt lão bao phủ một làn thanh khí. Mấy chục luồng bạch quang lớn nhỏ cùng xông vào Lệnh Hồ Xung. Đây là tuyệt tác về kiếm pháp của lão, lão đem mấy chục chiêu kiếm pháp hợp lại làm một. Mỗi chiêu trong mấy chục chiêu kiếm pháp đều có chỗ tuyệt diệu, mỗi chiêu đều có biến hóa, nên khi mấy chục chiêu hợp lại làm một thì phức tạp vô cùng.
Lệnh Hồ Xung lấy cách đánh đơn giản để chống lại chiêu số phức tạp. Người chùn xuống, chàng hất ngược mũi kiếm từ phía dưới mấy chục vòng bạch quang lên rồi chỉ thẳng vào bụng dưới của Đan Thanh tiên sinh.
Đan Thanh tiên sinh lại la to, lão cố hết sức nhảy lùi ra. Bịch một tiếng, lão ngồi phịch lên bàn đá, tiếp theo nghe mấy tiếng loảng xoảng, mấy cái chén rượu trên bàn bị chấn động rớt hết xuống đất, bể nát vụn ra. Lão cười ha hả nói:
– Tuyệt quá, tuyệt quá! Phong huynh đệ, kiếm pháp của Phong huynh đệ cao hơn ta rất nhiều. Nào, nào! Ta kính huynh đệ ba chén rượu.
*****
Nguồn: truyenkimdung


