Chẳng mấy chốc, Đinh Xuân Thu không chi trì được nữa, giơ tay lên bứt những sợi râu bạc dài đến rốn, thả tung bay theo gió. Rồi lão lại xé rách từng mảnh áo, để lộ làn da trắng như tuyết chẳng khác thiếu niên cường tráng, tay lão gãi vào đâu thì rách da chảy máu đến đó. Lão vừa cào cấu vừa kêu lên: “Ngứa chết ta rồi! Ngứa chết ta rồi!”, rồi lão khuỵu chân xuống kêu gào cực kỳ thảm thiết.
Hư Trúc hối hận nghĩ thầm: “Lão này tội ác đã nhiều, song mình bắt lão khổ sở thế này cũng hơi quá! Biết thế thì mình chỉ gieo một hai miếng Sinh Tử Phù cũng đủ rồi.”
Phần lớn quần hùng là người biết nhiều hiểu rộng, nhưng thấy một võ lâm cao thủ đồng nhan bạch phát chẳng khác thần tiên chỉ trong khoảnh khắc đả biến thành ma quỷ, tru lên như dã thú, ai nấy đều kinh hãi thất sắc. Cả đến gã Lý Quỷ Lỗi hay cười đùa giễu cợt cũng sợ hãi rụng rời không dám mở miệng. Chỉ có hai vị lão tăng ngồi nhắm mắt nhập định dưới gốc cây là bình thản như không có gì xảy ra.
Đến lúc này Huyền Từ phương trượng mới lên tiếng: “Thiện tai, thiện tai! Hư Trúc, ngươi giải trừ khổ não cho Đinh cư sĩ đi!” Hư Trúc đáp: “Vâng! Xin kính tuân pháp dụ của phương trượng.” Huyền Tịch vội nói: “Khoan đã! Phương trượng sư huynh! Đinh Xuân Thu tội ác đã nhiều, Huyền Nạn, Huyền Thống hai vị sư huynh đều mất mạng về tay hắn, sao lại buông tha hắn một cách dễ dàng được?” Khang Quảng Lăng cũng lên tiếng: “Chưởng môn sư thúc! Sư thúc là chưởng môn bản phái, sao lại phải nghe lời kẻ khác? Chẳng lẽ không báo đại thù của sư tổ và sư phụ hay sao?”
Đang lúc Hư Trúc không biết làm sao cho phải, Tiết Mộ Hoa nói: “Sư thúc! Trước tiên hãy giúp hắn đỡ đau khổ.” Hư Trúc gật đầu nói: “Phải rồi! Mai Kiếm cô nương! Lấy thuốc trị ngứa cho hắn nửa viên.” Mai Kiếm “Vâng!” một tiếng rồi lấy trong bọc ra chiếc bình nhỏ sắc xanh, móc lấy một viên thuốc to bằng hạt đậu. Nhưng nàng thấy Đinh Xuân Thu tựa như người điên khùng, không dám đến gần.
Hư Trúc cầm lấy viên thuốc, bẻ làm đôi rồi kêu lớn:”Đinh tiên sinh! Há miệng ra, tại hạ cho uống thuốc trị ngứa!” Đinh Xuân Thu vừa thở hồng hộc vừa cố há miệng cho to, Hư Trúc dùng ngón tay búng nửa viên thuốc vào miệng hắn. Thuốc chưa kịp ngấm, Đinh Xuân Thu lại nhào ra đất mà lăn lộn, sau thời gian chừng ăn xong bữa cơm, mới thấy đỡ ngứa, liền trở mình đứng dậy.
Thần trí Đinh Xuân Thu đã tỉnh táo, hiểu rằng không thể phản kháng được nữa. Lão không đợi Hư Trúc mở miệng, đã lấy thuốc giải ra đưa cho Tiết Mộ Hoa rồi nói: “Thoa thuốc đỏ, uống thuốc trắng.” Lão đã tru rống đến nửa ngày, khàn cả tiếng nên thanh âm không rõ lắm. Tiết Mộ Hoa biết lão không dám man trá, liền đưa thuốc cho Cúc Kiếm trong uống ngoài thoa.
Mai Kiếm lớn tiếng nói: “Tinh Tú Lão Quái! Nửa viên thuốc đó có thể giữ được ba ngày khỏi ngứa. Ba ngày sau thì cơn ngứa lại phát tác, khi đó chủ nhân ta có cho linh dược nữa hay không là tùy ở ngươi.” Đinh Xuân Thu toàn thân run lẩy bẩy, nói không ra tiếng.
Trong đám đệ tử phái Tinh Tú có mấy trăm tên tranh nhau chạy đến trước mặt Hư Trúc, khẩn cầu y thu dụng. Có tên nói: “Chủ nhân cung Linh Thứu anh hùng vô địch, tiểu nhân thành tâm quy phục, nhất quyết vì chủ nhân mà ra sức khuyển mã”. Có tên nói: “Ngôi Minh chủ võ lâm trong thiên hạ, ngoài chủ nhân thì không còn ai nữa. Chủ nhân vẫy tay ra lệnh thì tiểu nhân dù phải nhảy vào lửa cũng không nhăn mặt.” Lại có mấy tên muốn bày tỏ tấc dạ trung trinh, chỉ thẳng mặt Đinh Xuân Thu mà chửi mắng, nào là: “Đom đóm mà dám tranh sáng với nhật nguyệt.” “Đồ tiểu nhân gian tà độc ác, phản trắc không thể tin được.” Có tên lại cầu xin Hư Trúc xử tử Đinh Xuân Thu lập tức để thế gian bớt mùi hôi thối. Bỗng nhiên tiếng chiêng trống cùng đàn sáo lại nổi lên, môn đồ phái Tinh Tú đồng thanh hợp xướng: “Linh Thứu chủ nhân, đức ngang trời đất, danh lừng vũ trụ, cổ kim khó sánh.” Đây vốn là khúc hát ca tụng Đinh Xuân Thu, chúng chỉ xào xáo bốn chữ “Tinh Tú Lão Tiên” thành “Linh Thứu chủ nhân”, còn khúc đuôi giữ nguyên như cũ.
Hư Trúc vốn là người chất phác, nhưng y nghe bọn môn đồ phái Tinh Tú ca tụng cũng bất giác thấy nhẹ nhàng khoan khoái.
Lan Kiếm quát lên: “Bọn mi thật là đồ tiểu nhân vô sỉ, dám đem bài hát bậy bạ nịnh bợ Tinh Tú Lão Quái chuyển sang ca tụng chủ nhân ta. Thật là vô lễ đến cùng cực!” Bọn môn đồ phái Tinh Tú sợ hãi vô cùng, có kẻ nói: “Dạ, dạ! Tiểu nhân xu thời, dĩ nhiên cái gì cũng phải sửa đổi. Xin tiên cô mở lượng bao dung.” Có người nói: “Bốn vị tiên cô, hoa nhường nguyệt thẹn, đã hơn Tây Tử, lại vượt Quí Phi.” Bọn môn đồ phái Tinh Tú sau khi sụp lạy Hư Trúc rồi kéo nhau lại đứng sau lưng các Động chúa, Đảo chúa, tên nào cũng dương dương tự đắc, vênh mặt lên nhìn trời, chẳng thèm để ý đến quần hào Trung Nguyên, bang chúng Cái Bang và các tăng lữ chùa Thiếu Lâm nữa.
Huyền Từ nói: “Hư Trúc! Ngươi tự lập môn phái, sau này nên theo chính đạo, dẫn dắt đệ tử không làm điều trái, tạo phúc cho giang hồ. Được như vậy thì tại gia hay xuất gia cũng là một mà thôi.” Hư Trúc nghẹn ngào nói: “Dạ! Hư Trúc xin nghe lời phương trượng dạy dỗ.” Huyền Từ lại nói: “Cái tội khai trừ khỏi môn phái thì không thể xóa được, nhưng phạt trượng thì có thể miễn cho.”
Bỗng có người cười ha hả rồi nói: “Ta cứ tưởng chùa Thiếu Lâm coi trọng giới luật, chấp pháp nghiêm như núi, ngờ đâu cũng chỉ là hạng xuôi chiều gió mà nịnh bợ kẻ mạnh. Ha ha! Linh Thứu chủ nhân, đức ngang trời đất, danh lừng vũ trụ, cổ kim khó sánh.” Mọi người quay lại nhìn xem người đó là ai, té ra là quốc sư Cưu Ma Trí của nước Thổ Phồn.
Huyền Từ biến sắc mặt nói: “Quốc sư lấy đại nghĩa mà trách cứ, lão tăng biết lỗi rồi. Huyền Tịch sư đệ, chuẩn bị pháp trượng.” Huyền Tịch “Vâng!” một tiếng rồi quay lại nói: “Pháp trượng đã sẵn sàng!” Lão tăng bảo Hư Trúc: “Hư Trúc! Hiện giờ ngươi còn là đệ tử chùa Thiếu Lâm, mau nằm xuống thọ hình.” Hư Trúc khom lưng đáp: “Vâng!” Rồi y quì xuống trước mặt Huyền Từ và Huyền Tịch hành lễ, nói: “Đệ tử là Hư Trúc, đã vi phạm giới luật bản tự, cung kính nhận hình phạt của phương trượng cùng thủ tòa Giới Luật Viện.”
Bọn môn đồ phái Tinh Tú nổi lên la ó om sòm: “Tăng lữ chùa Thiếu Lâm lại dám mạo phạm đến quí thể của lão nhân gia ư?” “Các ngươi mà đụng đến một sợi lông chân của lão nhân gia thì ta quyết cùng các ngươi sống chết một phen.” “Dù ta có phải tan xương nát thịt, chết vì chủ nhân cũng lấy làm vinh hạnh.” “Ta lấy chữ Trung làm đầu, quyết dâng hết máu thịt toàn thân cho chủ nhân cung Linh Thứu.”
Dư bà bà cả giận quát lên: “Sao bọn yêu ma quỷ quái các ngươi dám gọi hai tiếng Chủ Nhân? Câm miệng ngay lập tức!” Bọn môn đồ phái Tinh Tú thấy Dư bà bà quát mắng, lập tức im thin thít, kinh hãi đến không dám thở mạnh.
Thủ tòa Giới Luật Viện của chùa Thiếu Lâm là Huyền Tịch quát lên: “Dụng hình!” Mấy chấp pháp tăng cởi tăng bào của Hư Trúc để hở lưng y ra, một nhà sư giơ côn toan đập xuống. Hư Trúc nghĩ thầm: “Ta chịu phạt trượng là vì đã phạm giới luật, mỗi côn đánh vào người là tội lỗi nhẹ đi một phần. Nếu ta vận khí chống chọi cho đỡ đau khổ thì bị đánh mà chẳng được ích lợi gì.” Giữa lúc ấy, thanh âm một thiếu phụ lanh lảnh vang lên: “Khoan đã! Khoan đã! Ngươi… trên lưng ngươi có gì thế kia?”
Mọi người đều nhìn vào lưng Hư Trúc, thì thấy trên lưng y có chín chấm đen. Những nhà sư thụ giới thường đốt hương điểm vào đỉnh đầu, nhưng Hư Trúc không những có nốt tàn hương trên đỉnh đầu, mà sau lưng cũng có. Những vết tàn hương sau lưng y lớn bằng đồng tiền, hiển nhiên đã đốt từ thuở nhỏ, rồi theo người mà lớn lên, bây giờ trông vẫn rất rõ ràng.
Quần hùng còn đang kinh ngạc thì một thiếu phụ đứng tuổi từ đám đông chạy ra, mặc áo màu xanh nhạt, tóc dài xõa xuống vai, hai gò má đều có ba ngấn máu như bị cào, chính là Vô Ác Bất Tác Diệp Nhị Nương trong Tứ Đại Ác Nhân. Mụ nhảy xổ lại, hai tay đẩy hai chấp pháp tăng chùa Thiếu Lâm, rồi túm lấy dây lưng Hư Trúc cởi tuột ra, toan kéo quần y xuống.
Hư Trúc cả kinh, đứng bật dậy, lùi lại mấy bước rồi hỏi: “Bà… bà làm gì thế?” Diệp Nhị Nương toàn thân phát run, la lên: “Ngươi… ngươi là con ta!” Rồi mụ giang hai tay ra toan ôm lấy Hư Trúc, Hư Trúc né mình tránh khỏi, thành ra Diệp Nhị Nương ôm vào khoảng không. Mọi người đều tự hỏi: “Mụ này điên rồi chăng?” Diệp Nhị Nương nhào tới mấy lần nữa, đều bị Hư Trúc tránh được hết. Mụ điên cuồng la lên: “Hài nhi! Sao con không chịu nhận mẫu thân?”
Hư Trúc chấn động như bị sét đánh trước mặt, hỏi: “Bà… bà là mẫu thân của ta ư?” Diệp Nhị Nương lớn tiếng: “Hài nhi! Lúc ta mới sinh ngươi, đã điểm vào sau lưng và hai bên mông chín nốt tàn hương. Ngươi xem có đúng thế không?”
Hư Trúc cả kinh, vì hai bên mông y có chín nốt tàn hương thật. Y đã thấy từ nhỏ nhưng chẳng hiểu lai lịch ra sao, lại vì mắc cỡ nên không kể với ai. Những lúc tắm rửa, y thấy vậy còn cho là mình có duyên với Phật môn nên trời sinh ra thế, vì vậy mà lại càng một lòng theo Phật pháp. Bây giờ y nghe Diệp Nhị Nương hỏi mà tưởng như sét đánh giữa trời quang, run lên đáp: ‘Có, có!… Hai bên… mông ta có chín nốt tàn hương, là do bà… do mẫu… do bà đã châm vào ư?”
Diệp Nhị Nương khóc rống lên nói: “Phải rồi! Phải rồi! Nếu không phải ta châm thì làm sao ta biết được? Ta… ta tìm thấy con rồi, tìm thấy đứa con yêu quí của ta rồi!” Mụ vừa khóc vừa đưa tay ra vuốt ve mặt Hư Trúc, y cũng không né tránh nữa, để mụ ôm vào lòng. Hư Trúc từ nhỏ đã không cha không mẹ, vốn là một đứa nhỏ bị bỏ rơi được chùa Thiếu Lâm đem về nuôi dưỡng. Hai bên mông y có nốt tàn nhang là chuyện bí mật chỉ có mình y biết, bây giờ Diệp Nhị Nương nói ra thì còn giả làm sao được? Từ nhỏ đến giờ y mới được mẫu thân nâng niu trìu mến, bất giác nước mắt đầm đìa rồi cất tiếng gọi: “Mẫu thân… đúng là má má của hài nhi rồi.”
Diễn biến đột ngột này làm tất cả mọi người đều kinh ngạc. Hai mẹ con ôm nhau mà khóc, mừng mừng tủi tủi nói sao cho xiết? Quần hùng tuy lòng dạ cứng rắn nhưng đứng trước tình cảnh, này cũng không ít kẻ thấy cay cay nơi khóe mắt.
Diệp Nhị Nương nói: “Hài nhi! Năm nay con đã hai mươi bốn tuổi rồi. Hai mươi bốn năm trời, mẹ ngày đêm thương nhớ con chẳng lúc nào nguôi. Con ta bị tên cẩu tặc trời đánh nào bắt đi mất, ta thấy người khác có con mà nổi lòng ghen ghét, rồi cũng đi bắt con người khác. Nhưng… nhưng con của người ta đâu có bằng con chính mình sinh ra?”
Nam Hải Ngạc Thần cười ha hả rồi nói: “Tam muội! Mụ cứ thấy con nhà ai trắng trẻo dễ thương là mụ bắt trộm về nựng nịu chơi, lúc chán lại bỏ cho chết, thì ra vì con mụ bị người ta bắt trộm nên mụ mới làm vậy. Thế mà Nhạc lão nhị đã hỏi mụ không biết bao nhiêu lần, mụ vẫn không chịu nói. Được lắm! Hư Trúc tiểu tử, má má ngươi là nghĩa muội ta. Ngươi mau kêu ta một tiếng Nhạc lão bá đi!” Nam Hải Ngạc Thần thấy Hư Trúc võ công cao siêu khôn lường, lại là chủ nhân cung Linh Thứu, mà mình lại được đứng vào hàng tiền bối của y, thì nỗi mừng vui của lão không cần phải nói. Vân Trung Hạc lắc đầu nói: “Không được! Không được! Hư Trúc Tử là nghĩa huynh của sư phụ ngươi, vậy ngươi phải kêu nó bằng sư bá. Còn ta là nghĩa đệ của mẫu thân nó, thế thì ta còn ở trên lão tam hai bậc. Lão tam mau kêu ta một tiếng Sư thúc tổ đi.” Nam Hải Ngạc Thần ngẩn người ra suy nghĩ, nhổ một bãi nước bọt rồi thóa mạ: “Con mẹ nó! Lão gia không gọi.”
Diệp Nhị Nương buông đầu Hư Trúc ra, ôm lấy vai y nhìn trái nhìn phải, mừng vui khôn xiết. Mụ quay lại nói với Huyền Tịch: “Nó là con trai ta, lão đừng đánh nó nữa!” Rồi mụ quay lại nhìn Hư Trúc, lớn tiếng nói:”Không biết tên cẩu tặc trời đánh nào đã bắt trộm hài nhi, làm mẹ con ta phải chia lìa hai mươi bốn năm. Hài nhi! Chúng ta dù đến tận chân trời góc biển cũng phải tìm quân cẩu tặc đó để phân thây muôn đoạn. Dù ta không địch nổi hắn, thì hài nhi võ công cao cường cũng nhất định báo thù rửa hận cho ta.”
Nhà sư áo đen vẫn đang ngồi yên dưới gốc cây không nói một lời, lúc này bỗng đứng dậy, chầm chậm hỏi: “Con của ngươi bị người ta bắt trộm hay bị người ta cướp mất? Sáu vệt máu trên mặt ngươi do đâu mà có?”
Diệp Nhị Nương đột nhiên biến sắc mặt, cao giọng hỏi: “Ngươi… ngươi là ai? Sao ngươi lại biết?” Nhà sư áo đen hỏi lại: “Ngươi không nhận ra ta ư?” Diệp Nhị Nương thét lên: “Trời ơi! Là ngươi, chính là ngươi!” Rồi mụ nhảy xổ lại phía nhà sư áo đen. Lúc còn cách đối phương hơn trượng thì đột nhiên mụ đứng lại, đưa song trảo ra, nghiến răng kèn kẹt ra chiều căm hận vô cùng, nhưng không dám tới gần hơn
Nhà sư áo đen nói: “Không sai! Con của ngươi bị chính ta cướp đi, sáu vệt máu trên mặt ngươi do chính ta gây ra.” Diệp Nhị Nương kêu lớn: “Tại sao? Tại sao ngươi lại cướp con ta? Ta với ngươi vốn chưa từng gặp mặt, không thù không oán. Ngươi… ngươi đẩy ta vào tuyệt lộ. Ngươi hại ta suốt hai mươi bốn năm trời, ngày đêm lòng đau như cắt. Đó là vì sao? Vì… Vì sao?” Nhà sư áo đen chỉ Hư Trúc, hỏi lại: “Phụ thân của đứa bé này là ai?” Diệp Nhị Nương toàn thân run bắn lên, đáp: “Là… là… Ta không thể nói được.”
Bây giờ Hư Trúc mới nghĩ tới, liền nhảy vọt lại gần Diệp Nhị Nương rồi gọi: “Má má! Má má nói cho con nghe đi, phụ thân con là ai?” Diệp Nhị Nương lắc đầu quầy quậy, đáp: “Mẹ không nói được.”
Nhà sư áo đen chầm chậm nói: “Diệp Nhị Nương! Ngươi vốn là một cô nương nhan sắc tuyệt vời, đoan trang trinh thục. Năm ngươi mười tám tuổi đã đem lòng yêu thương một chàng trai bản lĩnh cao cường lại có địa vị, rồi ngươi thất thân với hắn mà sinh ra đứa bé này. Có phải thế không?” Diệp Nhị Nương cứng đờ như khúc gỗ, hồi lâu mới gật đầu đáp: “Đúng thế! Hồi đó không phải y dẫn dụ ta, mà là ta dẫn dụ y.” Nhà sư áo đen lại nói: “Chàng trai kia chỉ nghĩ tới thanh danh cùng tiền đồ của mình, không nghĩ đến một cô nương nhỏ tuổi chưa chồng đã có con, lâm vào cảnh ngộ cực kỳ thê thảm!” Diệp Nhị Nương cãi: “Không, không! Y vẫn săn sóc đến ta, cho ta rất nhiều tiền bạc, sắp xếp sinh kế cho ta.”Nhà sư áo đen lại hỏi: “Thế thì sao hắn lại để ngươi phiêu bạt giang hồ?” Diệp Nhị Nương đáp: “Ta không thể làm vợ y. Làm sao y có thể lấy ta làm vợ được? Y là người tốt, đối xử với ta rất tốt. Chính là ta không muốn làm liên lụy tới y. Y… y là người tốt.” Nghe mụ nói thì ra vẫn còn quyến luyến người tình đã bỏ rơi mình, mối tình xa xưa không vì cuộc sống khổ não mà tàn phai cùng tuế nguyệt.
Mọi người đều nghĩ: “Diệp Nhị Nương tàn ác có tiếng, song tình nghĩa của mụ đối với người xưa thật là thâm trọng. Không hiểu tình lang của mụ là ai?”
Cả bọn người Đại Lý gồm Đoàn Dự, Nguyễn Tinh Trúc, Phạm Hoa, Hoa Hách Cấn, Ba Thiên Thạch nghe hai người đối đáp nhau về những chuyện phong lưu xưa cũ, bất giác cùng đưa mắt nhìn trộm Đoàn Chính Thuần. Họ đều nghĩ rằng địa vị, tính tình cùng cách xử sự của tình lang Diệp Nhị Nương rất phù hợp với ông. Có người lại nghĩ: “Ngày trước cả Tứ Đại Ác Nhân đều tới Đại Lý, chắc cũng để đòi món nợ ân tình của Trấn Nam Vương.” Chính Đoàn Chính Thuần cũng không yên tâm, nghĩ thầm: “Mình quen biết nữ nhân rất nhiều, chẳng lẽ có cả mụ này? Sao mình không nhớ ra? Nếu thật sự là mình làm khổ nàng như thế, cho dù phải đem danh dự vứt xuống đất cho anh hùng thiên hạ phỉ nhổ, dứt khoát Đoàn mỗ cũng không quay lưng với nàng. Nhưng… nhưng… sao ta lại không nhớ nổi chuyện này?
Nhà sư áo đen dõng dạc hỏi: “Phụ thân của đứa bé hiện có mặt tại đây. Sao ngươi không gọi hắn ra?” Diệp Nhị Nương đáp: “Không, không! Ta không nói được.” Nhà sư áo đen lại hỏi: “Tại sao ngươi lại điểm tàn hương vào lưng và hai mông thằng bé thành hai mươi bảy dấu thọ giới?” Diệp Nhị Nương che mặt lại đáp: “Ta không biết, ta không biết! cầu xin ngươi, ngươi đừng hỏi ta nữa.”
Nhà sư áo đen vẫn không chút động lòng, điềm nhiên hỏi tiếp: “Phải chăng lúc ngươi sinh ra thằng bé này đã định cho nó làm hòa thượng?” Diệp Nhị Nương đáp: “Không phải, không phải!” Nhà sư áo đen lại hỏi: “Thế ư? Sao ngươi lại điểm hương vào người nó cho thành dấu vết của Phật môn?” Diệp Nhị Nương đáp: “Ta không biết, ta không biết!” Nhà sư áo đen cao giọng nói: “Ngươi không nói thì ta cũng biết. Đó là vì phụ thân nó là đệ tử Phật môn, cũng là một vị cao tăng đắc đạo.”
Diệp Nhị Nương phát ra một tiếng rên như xé ruột, rồi không chịu đựng được nữa, ngã ra bất tỉnh.
Quần hùng nhốn nháo cả lên, ai nhìn thần sắc Diệp Nhị Nương cũng biết lời nói của nhà sư áo đen đúng là sự thực. Té ra mụ đã tư thông với một hòa thượng, mà lại là một cao tăng nổi tiếng. Mọi người kề vào tai nhau thì thầm bàn luận.
Hư Trúc đỡ Diệp Nhị Nương dậy, lay gọi rối rít: “Má má! Má má mau tỉnh lại.” Hồi lâu Diệp Nhị Nương mới hồi tỉnh, khẽ bảo: “Hài nhi, mau đưa ta xuống núi. Lão này… đúng là yêu quái, không hiểu sao lão lại biết. Ta không muốn thấy mặt lão nữa, mà mối thù… cũng không cần phải trả nữa.” Hư Trúc nói: “Vâng! Má má, chúng ta đi thôi.”
Nhà sư áo đen nói: “Hãy khoan, ta chưa nói hết. Ngươi muốn báo thù, ta cũng muốn báo thù. Diệp Nhị Nương! Tại sao ta lại cướp con của ngươi, ngươi có biết không? Là vì… là vì có người cướp mất con ta, gây ra cảnh nhà tan người mất, vợ chồng cha con tử biệt sinh ly. Ta phải báo thù.”
Diệp Nhị Nương hỏi: “Có người cướp mất con ngươi ư? Ngươi muốn báo thù ư? Nhà sư áo đen đáp: “Đúng thế! Ta cướp con ngươi, đem bỏ vào vườn rau chùa Thiếu Lâm, để sư Thiếu Lâm nuôi nó lớn lên rồi dạy võ nghệ. Đó là vì con của ta cũng bị cướp mất, cũng được nuôi nấng cho khôn lớn, rồi chùa Thiếu Lâm cũng truyền thụ cho y một thân võ nghệ. Ngươi có muốn nhìn rõ mặt ta không?” Lão không đợi Diệp Nhị Nương đáp, đã giơ tay lên kéo tấm khăn che mặt xuống.
Quần hùng đều kinh ngạc la lên một tiếng:”úi chao!” Lão này mặt vuông tai lớn, râu ria xồm xoàm, tướng mạo rất oai phong, khoảng trên dưới sáu mươi tuổi. Tiêu Phong vừa ngạc nhiên vừa hoan hỉ, tiến đến trước mặt lão, rồi lạy phục xuống đất, hỏi to: “Ông… ông… là gia… gia…”
Lão cười ha hả nói: “Hảo hài nhi, hảo hài nhi! Ta chính là gia gia ngươi. Cha con ta tướng mạo giống nhau, không cần phải đánh dấu, ai nhìn thấy cũng biết ta là gia gia ngươi. Lão vung tay mở phanh vạt áo trước ngực, để lộ hình đầu chó sói xăm trên ngực, rồi kéo Tiêu Phong đứng dậy.
Tiêu Phong cũng mở phanh vạt áo để lộ ra hình đầu chó sói đang há miệng nhe nanh. Hai người sánh vai đi mấy bước, đột nhiên ngẩng mặt nhìn trời gầm lên một tiếng. Tiếng gầm như cuồng phong bão tố vang vọng đi rất xa, tựa như chấn động cả một khoảng rừng, mấy ngàn hào kiệt nghe thấy đều phải sợ run. Yên Vân Thập Bát Kỵ cũng rút trường đao ra cất tiếng hòa theo, chỉ có hai mươi người mà thanh thế hùng mạnh như thiên binh vạn mã.
Tiêu Phong lấy trong bọc ra một gói nhỏ bằng vải dầu, mở lấy ra một mảnh vải rất lớn. Đây chính là di văn trên vách núi ngoài Nhạn Môn Quan mà Trí Quang hòa thượng đã in lại rồi tặng cho chàng. Trên mặt vải có những chữ Khất Đan màu trắng nổi trên nền đỏ của máu.
Lão già rậm râu chỉ mấy chữ cuối cùng, cười nói: “Tiêu Viễn Sơn tuyệt bút, Tiêu Viễn Sơn tuyệt bút! Ha ha! Hài nhi! Hôm ấy ta đau lòng quá, nhảy xuống vực thẳm để tự vận, không ngờ chưa tận số, rơi trúng một cành cây bên vách núi nên không chết. Sau đó ta không muốn chết nữa mà đặt ra mục tiêu rửa hận. Ngày đó ngoài Nhạn Môn Quan, bọn hào kiệt Trung Nguyên chưa hỏi câu nào đã giết chết người mẹ không biết võ công của con. Hài nhi! Con nói đi, mối thù này có nên trả hay không?”
Tiêu Phong cũng nói: “Mối thù của cha mẹ quyết chẳng đội trời chung, sao lại không trả?” Tiêu Viễn Sơn nói: “Số người sát hại mẫu thân ngươi, ngay hôm đó đã bị ta đánh chết và bị thương đến quá nửa. Trí Quang hòa thượng sợ tội tự sát, Triệu Tiền Tôn đã bị giết, Bang chủ Cái Bang Uông Kiếm Thông may mắn đã mắc bệnh mà chết. Nhưng Tên Đại ác đứng đầu bọn ác nhân hiện vẫn còn sống. Hài nhi! Con nói đi, phải xử trí hắn thế nào?” Tiêu Phong gấp rút hỏi: “Người đó là ai?” Tiêu Viễn Sơn lại gầm lên một tiếng rùng rợn, rồi quát lớn: “Người đó là ai?” Mục quang lão như điên đảo qua nhìn khắp quần hào một lượt.
Kẻ nào chạm vào ánh mắt lão cũng run lên. Bọn họ không liên quan gì đến vụ sát hại mẫu thân Tiêu Phong ngoài Nhạn Môn Quan, nhưng đã lỡ nhìn vẻ mặt cha con Tiêu Phong thì đều khiếp sợ, không dám nhúc nhích chân tay, không dám mở miệng nói nửa lời, chỉ sợ tai họa giáng xuống đầu.
Tiêu Viễn Sơn nói: “Hài nhi! Hôm ấy ta cùng mẫu thân đưa ngươi sang thăm nhà bà ngoại. Không ngờ tới Nhạn Môn Quan thì mấy chục tên võ sĩ Trung Nguyên đột nhiên xông ra giết sạch bọn tùy tùng, lại giết cả mẫu thân ngươi. Đại Tống với Khất Đan đã có thâm thù, tàn sát lẫn nhau thì cũng chẳng lạ gì. Nhưng trong bọn võ sĩ mai phục phía sau núi lại có kẻ dự mưu, ngươi có biết vì cớ gì không?”
Tiêu Phong đáp: “Hài nhi có nghe Trí Quang hòa thượng nói, bọn họ được tin báo rằng võ sĩ Khất Đan muốn đến chùa Thiếu Lâm để cướp kinh điển võ học, đem về cho binh tướng nước Liêu luyện tập để sau này chiếm giang sơn Đại Tống. Vì thế mà họ phục kích tấn công đột ngột, lại tàn sát cả mẫu thân của hài nhi.”
Tiêu Viễn Sơn cười thê thảm rồi nói:”Ngày đó ta không hề có ý cướp đoạt kinh điển võ học của chùa Thiếu Lâm, chính là bọn chúng vu oan cho ta. Được lắm! Tiêu Viễn Sơn này quyết không chịu nhịn, chúng đã vu oan thì ta phải cho chúng biết tay. Ba mươi năm nay, Tiêu mỗ đã ẩn núp trong chùa Thiếu Lâm, kinh điển võ học đã xem kỳ thích. Bọn cao tăng Thiếu Lâm kia! Giả tỉ các ngươi lại ra Nhạn Môn Quan mai phục thì cũng không làm gì được ta đâu.”
Quần tăng Thiếu Lâm nghe Tiêu Viễn Sơn nói vậy đều không lạnh mà run. Ai cũng nghĩ rằng lão không nói dối. Võ công bản phái đã bị người Liêu học lén, nếu lão đem về truyền thụ cho bọn võ sĩ Khất Đan thì chúng như hổ thêm cánh, làm sao đối phó được? Hết thảy quần hùng trên núi đều có chung ý nghĩ: “Hôm nay nhất định không để cho lão này xuống núi.”
Tiêu Phong nói: “Gia gia! Năm xưa Tên Đại ác giết mẫu thân của con là do hiểu lầm chứ không phải thực tâm tàn độc. Có điều hắn đã hạ sát phu phụ họ Kiều nghĩa phụ, nghĩa mẫu của con, lại đổ tiếng ác cho con thì nhất định không thể tha thứ được. Hài nhi chưa hiểu hắn là ai, xin gia gia nói cho biết.”
Tiêu Viễn Sơn cười ha hả nói: “Hài nhi! Con lầm rồi!” Tiêu Phong ngạc nhiên hỏi: “Hài nhi lầm ư?” Tiêu Viễn Sơn gật đầu đáp: “Lầm rồi. Phu phụ họ Kiều là do ta giết.” Tiêu Phong cả kinh, lạc giọng hỏi: “Là gia gia giết ư? Tại… tại sao vậy?” Tiêu Viễn Sơn đáp: “Ngươi là con ruột của ta, lẽ ra gia đình ta cha con vợ chồng đoàn tụ một nhà vui vẻ biết mấy! Thế mà bọn võ lâm Nam triều coi người Khất Đan không bằng heo chó, chúng ta không động gì đến họ, họ cũng giết vợ ta, bắt con ta cho người khác nuôi. Phu phụ họ Kiều đã mạo xưng là song thân ngươi, đoạt mất hạnh phúc của trời ban cho ta, không chịu nói rõ chân tướng cho con biết. Họ chết là đáng lắm.”
Tiêu Phong chua xót trong lòng nói: “Nghĩa phụ, nghĩa mẫu có ân nghĩa rất sâu xa với hài nhi. Hai vị lão nhân gia vốn là người rất tốt. Vậy những việc đốt Đơn gia trang, giết chết Đàm công, Đàm Bà, đều do… do…”
Tiêu Viễn Sơn đáp: “Không sai! Những việc đó đều do ta làm. Bọn này đã biết rõ kẻ chủ mưu giết người ở ngoài Nhạn Môn Quan ngày trước mà không chịu nói ra. Tên nào cũng che giấu cho hắn, lại còn chưa đáng chết ư?”
Tiêu Phong lẳng lặng nghĩ thầm: “Mình khổ sở điều tra Tên Đại ác là ai, té ra chính là gia gia. Lại còn… lại còn…” Chàng chậm rãi nói: “Huyền Khổ đại sư chùa Thiếu Lâm đã dạy võ công cho hài nhi, mười năm trời không hề gián đoạn. Hài nhi có được ngày nay, hoàn toàn nhờ ân sư tài bồi…” Nói tới đây chàng cúi đầu xuống, bất giác nhỏ lệ.
Tiêu Viễn Sơn nói: “Bọn võ lâm Nam triều âm hiểm gian trá, làm gì có ai tử tế? Lão Huyền Khổ cũng bị ta phóng chưởng đánh chết.” Quần tăng chùa Thiếu Lâm đồng thanh tụng niệm: “A di đà Phật! A di đà Phật!”. Tuy chưa có ai tiến ra khiêu chiến với Tiêu Viễn Sơn, nhưng trong tiếng niệm Phật của quần tăng đã lộ vẻ cực kỳ đau khổ, dĩ nhiên quyết không thể bỏ qua chuyện này được. Ai cũng nghĩ: “Thật ra thì mình đã nghi oan Tiêu Phong, nhưng cha con như một, phụ thân hung ác thì hài tử gánh tội, cũng không có gì sai trái.”
Tiêu Viễn Sơn lại nói: “Trong những kẻ đại thù giết chết người vợ yêu quí của ta, cướp đứa con độc nhất của ta, có cả Bang chủ Cái Bang, có cả bọn cao thủ phái Thiếu Lâm. Ha ha! Chúng cứ tưởng vĩnh viễn che giấu được vụ huyết án này không còn ai biết. Chúng biến con ta thành người Hán, bắt con ta gọi kẻ đại thù bằng sư phụ, kế vị kẻ đại thù làm Bang chủ Cái Bang. Ha ha! Hài nhi! Tối hôm ấy ta phóng chưởng đánh Huyền Khổ rồi nấp một bên, một lát sau thấy con về bái kiến lão trọc. Huyền Khổ sắp chết, thấy tướng mạo cha con ta giống hệt nhau thì cho rằng chính con đã hạ thủ, cả chú tiểu cũng không phân biệt được cha con ta. Hài nhi! Người Khất Đan ta bị vu oan giá họa như vậy còn chưa đủ hay sao?”
Bây giờ Tiêu Phong mới hiểu tại sao lúc Huyền Khổ đại sư thấy mình lại ra vẻ kinh ngạc, mà chú tiểu cũng nhất định làm chứng là mình đã hạ thủ giết chết đại sư. Thì ra hung thủ là cốt nhục với mình, tướng mạo không giống mình sao được? Tiêu Phong bèn nói: “Những người này bị gia gia giết, thì cũng chẳng khác gì bị hài nhi giết, vậy hài nhi bị gán tội cũng không phải là oan uổng. Còn việc bọn võ lâm ở Trung Nguyên mai phục ngoài Nhạn Môn Quan thì ai là kẻ thủ ác, gia gia đã điều tra minh bạch chưa?
Tiêu Viễn Sơn đáp: “Ha ha! Sao ta lại không điều tra minh bạch? Kẻ đó đã tàn hại gia đình mình đến người chết nhà tan. Nếu ta phóng một chưởng đánh chết hắn ngay, thì hóa ra nhẹ nhàng cho hắn quá. Diệp Nhị Nương! Khoan đi đã!”
Lão thấy Diệp Nhị Nương được Hư Trúc dìu đi mỗi lúc một xa, bèn quát mụ dừng lại để hỏi tiếp: “Cha đứa nhỏ là ai, nếu ngươi không nói ra thì ta cũng biết. Ta đã ở trong chùa Thiếu Lâm ba mươi năm, có chuyện gì qua mắt được ta? Bọn ngươi hò hẹn nhau trong động Từ Vân thế nào, rồi hắn kêu Kiều bà bà đến đỡ đẻ cho ngươi ra sao, ta đều thấy rõ hết, ngươi có muốn ta kể hết cho mọi người nghe không?”
Diệp Nhị Nương quay người lại, lê đến gần Tiêu Viễn Sơn thêm mấy bước, rồi bỗng quỳ xuống nói: “Tiêu lão anh hùng! Ông là bậc đại nhân đại nghĩa, nên bỏ qua cho y. Hài nhi của ta đã cùng quí công tử lạy nhau tám lạy, kết thành huynh đệ kim lan. Y… y là người có thanh danh trong võ lâm, địa vị tối cao mà niên kỷ cũng lớn rồi, xin đừng bắt y phải chịu tai tiếng. Tiêu anh hùng muốn giết, muốn mổ ta thế nào cũng được, chỉ xin… chỉ xin đừng làm khó dễ y.”
Quần hùng trước đã nghe Tiêu Viễn Sơn nói phụ thân Hư Trúc là một “cao tăng đắc đạo”, sau lại nghe Diệp Nhị Nương bảo y có thanh danh trong võ lâm, lại có địa vị tối cao. Mấy việc này kết hợp lại, rõ ràng người đó là một lão tăng có địa vị cao tại chùa Thiếu Lâm. Ai nấy đều đưa mắt nhìn các vị lão tăng râu mày bạc phơ ở Thiếu Lâm Tự nghìn năm lịch sử.
Đột nhiên Huyền Từ phương trượng lên tiếng: “Thiện tai, thiện tai! Đã gây nghiệp nhân thì phải chịu nghiệp quả. Hư Trúc! Ngươi lại đây!” Hư Trúc chạy lại trước mặt phương trượng quỳ xuống. Huyền Từ nhìn ngắm y hồi lâu, rồi đưa tay ra khẽ xoa đầu y, nói: “Ngươi đã ở trong chùa hai mươi bốn năm, thế mà thủy chung ta vẫn không biết ngươi chính là con ta!”
Câu này vừa nói ra, quần tăng và quần hùng nhốn nháo cả lên. Sắc mặt người nào cũng tỏ vẻ kinh dị, hãi hùng, căm giận, khinh bỉ, bi thương, mỗi người mỗi cảm xúc riêng, đủ các trạng thái. Huyền Từ phương trượng đạo cao đức trọng, trong võ lâm chẳng ai là không ngưỡng mộ, ngờ đâu lộ ra việc này khiến ai nấy đều sửng sốt. Phải đến nửa ngày, tiếng bàn tán huyên náo mới lắng xuống.
Huyền Từ lại lên tiếng, giọng nói vẫn trầm tĩnh: “Tiêu lão thí chủ! Thí chủ phải xa cách lệnh lang ba mươi mấy năm, tuy không được gặp nhưng vẫn biết con trai võ công tinh tiến, thanh danh lừng lẫy, trở nên anh hùng hảo hán bậc nhất giang hồ, như vậy trong lòng thí chủ chắc cũng được an ủi phần nào. Còn ta thì hàng ngày được thấy hài nhi, mà cứ tưởng đã bị cường đạo cướp mất, còn sống hay đã chết cũng không biết, ngày đêm mong nhớ canh cánh bên lòng.”
Diệp Nhị Nương vừa khóc vừa nói: “Ngươi… ngươi đừng nói nhiều nữa! Bây giờ biết làm thế nào đây?”. Huyền Từ dịu dàng trả lời: “Nhị nương! Chúng ta đã tạo nên ác nghiệp, có hối hận cũng vô ích. Mấy chục năm nay, ngươi thật là đau khổ!” Diệp Nhị Nương vẫn khóc: “Ta không đau khổ. Ngươi đau khổ mà không nói ra được, mới thật sự là đau khổ.”
Huyền Từ chầm chậm lắc đầu, rồi nhìn Tiêu Viễn Sơn nói: “Tiêu lão thí chủ! Ngoài Nhạn Môn Quan ngày trước, lão nạp đã phạm vào đại tội. Các huynh đệ đã vì lão nạp mà tham gia vào việc này đều chết cả rồi. Lão nạp đến nay mới chết, kể ra cũng đã quá muộn, nhưng trong lòng có một điều vẫn chưa hiểu rõ.” Đột nhiên, đại sư cất cao giọng nói: “Mộ Dung Bác thí chủ! Ngày ấy, chỉ vì thí chủ phao tin rằng võ sĩ Khất Đan định tấn công vào chùa Thiếu Lâm đoạt kinh điển võ học, nên mới có sự hiểu lầm to lớn như vậy. Trong lòng thí chủ có đau khổ áy náy hay chăng?”
Mọi người nghe đến ba chữ “Mộ Dung Bác” đều giật mình kinh hãi. Đa số quần hùng đều biết phụ thân của Mộ Dung Phục tên là Bác, nhưng lão đã tạ thế lâu rồi, sao bây giờ Huyền Từ đột nhiên gọi đến tên? Vậy Mộ Dung Bác thật ra là ai? Mọi người đều nhìn theo mục quang Huyền Từ, thì thấy đôi mắt lão tăng đang chăm chú nhìn nhà sư áo xám ngồi dưới gốc cây.
Nhà sư áo xám bật cười rồi đứng dậy nói: “Phương trượng đại sư! Nhãn quang đại sư thật là lợi hại, đã nhận ra tại hạ!” Rồi lão đưa tay kéo tấm khăn bịt mặt xuống, để lộ khuôn mặt tụấn nhã, đôi mày bạc phơ dài rủ xuống má.
Mộ Dung Phục vừa kinh ngạc vừa vui mừng, la lên: “Gia gia! Gia gia… chưa chết ư?” Lúc đó trong lòng y nổi lên rất nhiều nghi vấn. Ngày phụ thân tạ thế, chính tay y sờ xem hơi thở mấy lần, chính tay y khâm liệm an táng. Bây giờ phụ thân còn sống sờ sờ, tất nhiên khi đó đã vận thần công để bế khí giả chết. Sao lão nhân gia lại giấu giếm cả đứa con ruột thịt để làm gì?
Huyền Từ nói: “Mộ Dung lão thí chủ! Ta cùng thí chủ giao hảo lâu năm, dĩ nhiên tất tin tưởng lời thí chủ. Ngày trước, thí chủ báo với ta cái tin đó, ta chẳng nghi ngờ gì. Sau khi giết lầm người tốt, lão nạp không tìm thấy thí chủ nữa, rồi được tin thí chủ mắc bệnh qua đời. Lão nạp đau xót vô cùng, cứ nghĩ rằng thí chủ cũng như bần tăng sơ ý tin lời người khác gây nên tội lỗi, hối hận rồi uất khí không tan được mà nên nỗi. Ngờ đâu… Hỡi ôi!…” Đại sư thở dài, tỏ ra vừa hối hận vừa oán trách Mộ Dung Bác.
Tiêu Viễn Sơn cùng Tiêu Phong đưa mắt nhìn nhau, bây giờ hai người mới hiểu kẻ phao tin để Đại Tống và Khất Đan chém giết nhau chính là Mộ Dung Bác. Tiêu Phong chợt nghĩ: “Chuyện bi thảm ngoài ải Nhạn Môn Quan là do Huyền Từ cầm đầu, nhưng lão là phương trượng chùa Thiếu Lâm, dĩ nhiên phải quan tâm đến sự tồn vong của giang sơn Đại Tống và kinh điển võ học bản môn, phải theo đại nghĩa mà làm. Về sau lão phát giác ra mình đã sai lầm, bèn đem hết sức bù đắp lại. Thế thì kẻ đại ác là Mộ Dung Bác chứ không phải Huyền Từ.”
Còn Mộ Dung Phục thì nghe Huyền Từ nói, lập tức hiểu ra: “Gia gia phao tin giả là muốn châm ngòi cho Tống, Liêu đánh nhau, Đại Yên ta đứng giữa hưởng lợi. Sau đó dĩ nhiên Huyền Từ phải nghi ngờ chất vấn, gia gia làm sao trả lời được? Gia gia vốn mang thân phận đại anh hùng hào kiệt, dĩ nhiên không thể nhận lỗi đó mà hủy hoại thanh danh. Lão nhân gia hiểu rõ Huyền Từ, nếu người giả chết thì Huyền Từ tất không tiết lộ ra để tổn hại đến danh dự người quá cố. Vì thế gia gia phải giả chết để bảo toàn uy danh nhà Mộ Dung, ta vẫn có thể tiếp tục mưu đồ đại sự. Nếu gia gia không làm vậy thì anh hùng hào kiệt Trung Nguyên tất kéo đến hỏi tội nhà Mộ Dung, gia gia toàn mạng là khổ rồi, còn nói gì đến chuyện phục quốc? Chỉ vì lúc đó ta còn quá trẻ, nếu biết gia gia trá tử thì không chừng để lộ chuyện, nên gia gia phải giấu cả ta.” Y nghĩ đến tâm ý của phụ thân, vứt bỏ tất cả nhằm khôi phục Đại Yên, cảm thấy trách nhiệm trên vai mình càng nặng nề hơn.
Huyền Từ chầm chậm hỏi: “Mộ Dung lão thí chủ! Hôm nay lão nạp nghe mấy lời thí chủ khuyên bảo lệnh lang, mới biết được dòng họ Mộ Dung là hậu duệ đế vương, mưu đồ rất lớn. Như thế có thể hiểu năm xưa thí chủ phao tin giả là để làm gì. Nhưng mưu đồ của thí chủ đến nay vẫn chưa thành công, mà không biết bao nhiêu sinh linh đã thiệt mạng một cách oan uổng”. Mộ Dung Bác đáp: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên.”
Huyền Từ đổi sắc mặt, nói: “Tệ sư đệ là Huyền Bi đã từng vâng mệnh lão nạp đi đến Cô Tô để hỏi thăm thí chủ. Không hiểu sư đệ đã nói năng đắc tội, hay đã thấy được vết tích gì trong quí phủ mà đoán được ý đồ tạo phản, nên thí chủ muốn giết người bịt miệng. Nhưng sao thí chủ lại nhẫn nại thêm mấy năm, lúc Huyền Bi đến Đại Lý mới ra tay. Ái chà! Thí chủ lại toan gây tranh chấp giữa Đại Lý với Thiếu Lâm Tự, vì thế mà lúc thí chủ ra tay ám toán đã sử dụng Nhất Dương Chỉ của Đoàn gia. Chỉ vì thí chủ học Nhất Dương Chỉ chưa đến chỗ tinh vi, cuối cùng cũng phải dùng tuyệt kỹ gia truyền Gậy ông đập lưng ông để sát hại sư đệ Huyền Bi của ta.”
Mộ Dung Bác cười khẩy, lắc mình vung quyền đánh vào thân cây lớn kế bên. Nghe tiếng răng rắc, mấy cành lớn gãy rơi xuống. Hắn đánh vào thân cây, nhưng lại chấn động gãy hai cành cây ở cao hơn một trượng, thần công quả thật phi phàm. Mười mấy vị lão tăng Thiếu Lâm đồng thanh hô lên: “Vi Đà Chử!” Trong thanh âm đầy vẻ kinh hãi.
Huyền Từ gật đầu nói: “Thí chủ lén lút ở trong bản tự nhiều năm, quả nhiên đã luyện thành môn Vi Đà Chử trong bảy mươi hai tuyệt kỹ của Thiếu Lâm. Nhưng tuyệt chiêu Thiên Linh Thiên Liệt của phái Phục Ngưu ở Hà Nam, chắc thí chủ không khỏi tốn nhiều công phu mới luyện được. Tại sao thí chủ giết Kha Bách Tuế lại phải sử dụng võ học gia truyền?”
Mộ Dung Bác cười đầy vẻ âm hiểm, lên tiếng đáp: “Lão phương trượng quả nhiên tinh minh tột bậc, không rời khỏi sơn môn mà hiểu rõ mọi việc trên giang hồ chẳng khác lòng bàn tay, khiến cho người khác phải khâm phục. Chuyện này mà phương trượng lại đoán…” Y chưa dứt lời thì có hai người hét to lên, nhắm vào y xông tới, chính là Kim toán bàn Thôi Bách Tuyền và sư điệt Quá Ngạn Chi. Mộ Dung Bác chỉ phất tay áo bào, hai người Thôi, Quá đã văng ra hơn một trượng, nằm dưới đất không nhúc nhích gì nữa. Chỉ trong nháy mắt lão đã phóng Tụ Trung Chỉ trúng vào huyệt đạo hai người.
Huyền Từ nói: “Kha thí chủ gia tài ức vạn, hành sự cẩn thận tỉ mỉ. Ái chà! Thí chủ muốn chiếm lấy gia tài đó để tính chuyện chiêu binh mãi mã, tích trữ lương thảo. Nhưng chắc là Kha thí chủ không chịu, lại còn muốn báo lên quan phủ.”
Mộ Dung Bác cười ha hả, giơ ngón tay cái lên nói: “Lão phương trượng thật là sáng suốt. Tiếc rằng phương trượng không rõ đầu đuôi câu chuyện, cũng chưa rõ những chuyện đã từng xảy ra, nên tại hạ cùng vị Tiêu huynh này đã trốn trong quí tự mấy chục năm, mà phương trượng cũng chẳng biết gì.”
Huyền Từ chầm chậm lắc đầu, thở ra một hơi rồi đáp: “Hiểu rõ người khác thì dễ, hiểu rõ chính mình thì khó. Muốn khắc chế địch thì dễ; còn muốn khắc phục tam độc tham sân si trong lòng mình thì khó hơn không biết mấy lần.”
Mộ Dung Bác nói: “Lão phương trượng! Niệm tình hai ta giao kết nhiều năm, ta sẽ trả lời thẳng thắn. Lão còn gì muốn hỏi ta không?” Huyền Từ đáp: “Cứ theo cách đối nhân xử thế của Tiêu Phong thí chủ, thì ba vị Mã Đại Nguyên, Mã phu nhân, Bạch Thế Kính của Cái Bang chắc chắn không phải Tiêu Phong sát hại. Không biết là Mộ Dung lão thí chủ hay Tiêu lão thí chủ đã hạ thủ?”
Tiêu Viễn Sơn đáp: “Mã Đại Nguyên thì bị vợ y cùng với Bạch Thế Kính âm mưu giết chết. Bạch Thế Kính thì do ta giết. Tình hình lúc ấy, chính Đoàn Vương gia của Đại Lý đã mắt thấy tai nghe. Phương trượng muốn hiểu rõ thì lát nữa cứ hỏi Đoàn Vương gia sẽ biết.”
Tiêu Phong tiến lên hai bước, chỉ vào mặt Mộ Dung Bác quát lên: “Mộ Dung lão tặc! Ngươi là người đã gây ra đại họa này, mau bước lên đây chịu chết!” Mộ Dung Bác cười khẩy một tiếng, buông tay Mộ Dung Phục ra rồi theo đường lên núi mà vọt đi cực kỳ mau lẹ. Tiêu Viễn Sơn cùng Tiêu Phong quát lên: “Đuổi!” Dứt lời hai người chia hai bên tả hữu đuổi theo. Cả ba người này đều là những tay võ công trác tuyệt, chỉ trong nháy mắt đã chạy rất xa, một người chạy, hai người đuổi, đều chạy về phía chùa Thiếu Lâm. Chỉ trong giây lát một bóng xám hai bóng đen, đã khuất sau tường vàng ngói biếc của Thiếu Lâm Tự.
Quần hùng thấy diễn biến ly kỳ đều nghĩ thầm: “Mộ Dung Bác cùng Tiêu Viễn Sơn công lực ngang nhau không phân cao thấp. Có thêm Tiêu Phong thì họ Mộ Dung không thể địch nổi. Không hiểu sao lão không chạy xuống núi để trốn mà lại chạy lên chùa Thiếu Lâm?”
Bọn Đặng Bách Xuyên, Công Dã Càn, Bao Bất Đồng, Phong Ba Ác và mười tám võ sĩ Khất Đan đều toan chạy lên núi để tiếp tay cho chủ nhân, nhưng họ vừa cất bước thì Huyền Từ đã quát lên: “Lập trận ngăn cản.” Hơn trăm nhà sư chùa Thiếu Lâm đều dạ ran, lập thành trận thế ngay giữa đường lên núi, người cầm thiền trượng, kẻ cầm giới đao cản mọi người lại. Huyền Tịch lên tiếng: “Chùa Thiếu Lâm là nơi Phật môn thiện địa, không phải là nơi để đánh nhau. Xin các vị thí chủ đừng tự tiện lên nữa.”
Bọn Đặng Bách Xuyên thấy chùa Thiếu Lâm người nhiều thế mạnh, biết không thể xông lên được, nếu cố gây chuyện thì chỉ tổ thêm cừu địch, tuy họ băn khoăn lo lắng cho chủ nhân nhưng đành phải dừng bước. Bao Bất Đồng nói: “Không sai, không sai! Chùa Thiếu Lâm là nơi Phật môn thiện địa…” Câu cửa miệng của gã là “Sai bét, sai bét!” mà bây giờ lại “Không sai, không sai!” Không ít người liền ngạc nhiên nhìn gã, nhưng bỗng nghe tiếp: “…chuyên nhận nuôi những đứa con hoang tội nghiệp.”
Gã vừa nói câu này, liền bị mấy trăm cặp mắt nhìn trừng trừng vào mặt đầy vẻ căm hận. Bao Bất Đồng là người lớn mật, tuy gã biết rõ quần tăng chùa Thiếu Lâm có rất nhiều cao thủ vào hàng chữ Huyền, bất luận là ai gã cũng không địch nổi, thế mà gã muốn nói là nói chẳng kiêng nể chút nào. Gã thấy quần tăng chùa Thiếu Lâm hằn học nhìn mình, thì cũng hầm hầm nhìn lại không chớp mắt.
Bỗng nghe Huyền Từ lớn tiếng nói: “Lão nạp phạm vào đại giới của Phật môn, làm nhơ danh chùa Thiếu Lâm. Huyền Tịch sư đệ! Theo giới luật bản tự thì phải trừng trị thế nào?” Huyền Tịch ngập ngừng đáp: “Chuyện này… Sư huynh…” Huyền Từ nói: “Nước có phép nước, nhà có luật nhà. Bất luận là môn phái bang hội nào, tôn tộc chùa chiền nào cũng khó tránh khỏi có những đệ tử bất kham. Muốn bảo toàn thanh danh bản tự, răn đe để vĩnh viễn không có người phạm pháp, phải chiếu luật mà trừng trị, không thể nhân nhượng dược. Chấp pháp tăng! Đem Hư Trúc ra đánh một trăm ba chục côn. Một trăm côn phạt tội chính y, còn ba chục côn là y chịu thay cho sư phụ.”
Chấp pháp tăng đưa mắt nhìn Huyền Tịch. Huyền Tịch gật gật đầu, còn Hư Trúc quì xuống để chịu phạt. Chấp pháp tăng vung côn lên đánh, lưng và mông Hư Trúc da thịt nát nhừ, máu bắn tứ tung. Diệp Nhị Nương trong lòng đau xót nhưng thấy Huyền Từ oai nghiêm nên sợ không dám van xin.
Hư Trúc lãnh xong một trăm ba mươi trượng, không vận nội lực chống đỡ chút nào, đau quá không ngồi dậy được. Huyền Từ lại nói: “Kể từ lúc này, ngươi rời chùa hoàn tục, không được quay lại làm tăng lữ chùa Thiếu Lâm nữa.” Hư Trúc sa lệ đáp: “Vâng!”
Huyền Từ lại nói: “Huyền Từ phạm vào sắc giới, cũng phải chịu tội như Hư Trúc. Phương trượng mà phạm tội thì phải phạt nặng gấp đôi, chấp pháp tăng phải đánh Huyền Từ hai trăm côn thật nặng. Chùa Thiếu Lâm có được thanh danh là nhờ ở giới luật nghiêm minh, không được vị nể mà sinh tệ nhũng.” Huyền Từ nói xong, quay về phía Phật tượng trong Đại hùng bảo điện, quì phục xuống rồi tự cởi tăng bào, để hở lưng ra.
Quần hùng ngơ ngác nhìn nhau. Phương trượng Thiếu Lâm thụ hình trước mặt công chúng, thật là chuyện xưa nay chưa từng có.
Huyền Tịch nói: “Sư huynh! Người…” Huyền Từ lớn tiếng nói: “Thanh danh ngàn năm của Thiếu Lâm Tự không thể bị tiêu diệt vì ta!” Huyền Tịch sa lệ nói: “Vâng! Chấp pháp tăng! Dụng hình!” Hai nhà sư chấp pháp chắp tay khom lưng nói: “Phương trượng! Xin đắc tội!”, rồi hai người đứng thẳng lên, vung côn đập xuống lưng Huyền Từ. Hai vị này biết rằng phương trượng thụ hình thì đau khổ nhất là nỗi nhục nhã trước mặt công chúng, còn cái đau khổ về xác thịt không đáng kể, nếu họ hạ thủ dung tình, để người ngoài phát hiện rồi xuyên tạc thêm, thì phương trượng thụ hình thật là vô ích, không có kết quả gì. Vì thế mà mỗi côn đập xuống lưng và mông Huyền Từ đều vang lên những tiếng rùng rợn, máu đẫm tăng bào. Quần tăng nghe nhà sư chấp pháp vừa đánh vừa đếm số côn “… bảy mươi mốt, bảy mươi hai…”, ai cũng cúi đầu nhắm mắt, âm thầm niệm Phật.
Đạo Thanh đại sư chùa Phổ Độ chợt lên tiếng: “Huyền Tịch sư huynh! Quí tự tôn trọng giới luật Phật môn, chính phương trượng cũng phải thụ hình, bần tăng rất khâm phục. Nhưng Huyền Từ sư huynh già nua tuổi tác, lại không vận nội lực chống đỡ, thì làm sao chịu nổi hai trăm côn? Bần tăng mạo muội có lời năn nỉ, hiện giờ phương trượng đã chịu tám mươi côn rồi, số còn lại xin để lại sau.”
Rất nhiều người trong quần hùng cũng la lên: “Đúng thế, đúng thế! Bọn tại hạ cũng xin năn nỉ.”
Huyền Tịch chưa kịp trả lời, Huyền Từ đã lên tiếng: “Đa tạ hảo ý của các vị, nhưng giới luật bản tự nghiêm như núi, không thể khoan thứ được. Chấp pháp tăng! Mau mau dụng hình!” Hai nhà sư chấp pháp đang ngừng tay, nghe phương trượng hạ lệnh, đành tiếp tục đánh xuống.
Thêm bốn chục côn nữa thì Huyền Từ không gượng nổi, hai tay đang chống xuống đất bỗng nhũn ra, mặt gục xuống đất dính đầy cát bụi. Diệp Nhị Nương la khóc: “Việc này không thể trách phương trượng, mọi sự đều do ta không tốt, đều do ta cố ý dẫn dụ phương trượng. Số… số côn phạt còn lại, để ta nhận lấy.” Mụ vừa khóc la vừa xông đến chỗ Huyền Từ đang thụ hình. Huyền Từ đưa ngón tay trỏ điểm đánh “véo” một tiếng, phong tỏa huyệt đạo của mụ rồi mỉm cười nói: “Con người si mê kia! Ngươi không phải là nữ ni trong Phật môn, không phạm vào giới luật, thì làm gì có tội?” Diệp Nhị Nương đứng cứng đờ không nhúc nhích được, nhưng hai hàng nước mắt vẫn nhỏ xuống như mưa.
Huyền Từ lại quát lên: “Dụng hình!” Chấp pháp tăng tiếp tục đánh cho đủ hai trăm côn, Huyền Từ máu me đầm đìa mặt đất, phải cố gắng đề khí hộ tâm cho khỏi ngất đi. Hai chấp pháp tăng dựng côn lên, quay lại bẩm với Huyền Tịch: “Thưa thủ tòa, Huyền Từ phương trượng chịu đòn đã đủ số.” Huyền Tịch gật gật đầu, không biết nói gì cho phải.
Huyền Từ cố gắng ngồi dậy, đưa tay điểm cách không để giải huyệt cho Diệp Nhị Nương. Không ngờ đại sư bị thương nặng quá, không ngưng tụ chân khí được, phóng chỉ vô hiệu. Hư Trúc thấy vậy bèn giải khai huyệt đạo cho mẫu thân. Rồi Huyền Từ vẫy vẫy tay gọi Diệp Nhị Nương cùng Hư Trúc lại gần. Hư Trúc vẫn ngần ngừ không biết nên gọi Huyền Từ bằng gia gia hay bằng phương trượng.
Huyền Từ đưa tay ra, tay phải nắm tay Diệp Nhị Nương, tay trái nắm tay Hư Trúc, lên tiếng nói: “Hai mươi mấy năm nay, ngày đêm nào ta cũng nhớ đến mẹ con ngươi. Ta biết mình phạm vào đại giới, nhưng lại không dám công khai sám hối trước chúng tăng. Hôm nay được giải thoát mọi sự, từ nay không còn lo lắng sợ hãi gì nữa, trong lòng mới được an lạc.” Rồi lão đọc kệ:”Người trên thế gian; Có muốn có yêu; Phiền não khổ nhiều; Giải thoát mới an.” Sau đó lão từ từ nhắm mắt lại, trên khóe miệng đọng nụ cười đầy vẻ bình yên.
Diệp Nhị Nương cùng Hư Trúc không dám nhúc nhích, để ý nghe xem lão còn nói gì nữa không. Không ngờ tay lão mỗi lúc một lạnh dần, Diệp Nhị Nương giật mình, đưa tay ra sờ mũi, thì đã tắt hơi rồi. Mụ biến sắc la lên: “Ngươi… ngươi… bỏ ta mà đi ư?” Đột nhiên, mụ nhảy lên cao đến hơn trượng, rơi xuống nằm cạnh Huyền Từ đánh huỵch một tiếng, giãy giãy mấy cái rồi không nhúc nhích nữa.
Hư Trúc la hoảng: “Má má! Má má không thể…” Y vội đưa tay ra đỡ mụ dậy, thì thấy một lưỡi trủy thủ đã cắm vào tim rồi. Hư Trúc hốt hoảng điểm các huyệt đạo xung quanh vết thương mụ, lại vận chân khí truyền vào thân thể Huyền Từ, đồng thời muốn cứu cả hai người nên chân tay luống cuống.
Tiết Mộ Hoa chạy lại giúp đỡ, nhưng thấy cả hai người tim đã ngừng đập, mũi tắt hơi, hết đường cứu chữa, liền cất lời khuyên nhủ: “Sư thúc nên bình tĩnh lại. Hai vị lão nhân gia không thể cứu được nữa.”
Hư Trúc vẫn chưa chịu thôi, y vận Bắc Minh chân khí đến nửa giờ mà song thân vẫn không thấy động tĩnh gì. Y đau đớn quá không nhịn được, khóc rống lên. Suốt hai mươi bốn năm trời, y chưa biết thế nào là cha mẹ bồng bế nâng niu, chưa được hưởng nửa ngày gia đình đoàn tụ. Hôm nay y vừa gặp cha sinh mẹ đẻ thì chỉ được một lúc là song thân đã nối nhau thảm tử.
Quần hùng vừa được biết cha ruột Hư Trúc là Huyền Từ phương trượng chùa Thiếu Lâm, ai cũng khinh bỉ lão không giữ thanh qui giới luật, đến khi lão thản nhiên thụ hình trước công chúng để duy trì thanh danh bản tự thì mới thấy dũng tâm của lão hơn người. Ai cũng tưởng lão chịu cực hình là đền xong tội, không ngờ sau đó lại tự đoạn kinh mạch mà chết để chuộc lỗi. Hành động của Huyền Từ hiển nhiên là lão tự thấy hai trăm côn chưa đáng tội, chỉ có chết đi thì trăm việc đều xong. Giả tỉ Huyền Từ tự vận sớm hơn thì khỏi chịu hai trăm côn vừa đau vừa nhục, nhưng lão chịu đánh đòn rồi mới chết thì thật là hành vi của anh hùng hảo hán. Quần hùng đem lòng kính phục Huyền Từ, nhiều người tới quì lạy trước thi thể lão.
Nam Hải Ngạc Thần nói: “Nhị tỉ! Ngươi chết rồi, bây giờ Nhạc lão tam không tranh ngôi thứ với ngươi nữa, ngươi cứ làm lão nhị.” Mấy năm nay, lúc nào lão cũng muốn tranh ngôi với Diệp Nhị Nương, cho rằng ai có võ công cao hơn thì được làm Thiên Hạ Đệ Nhị Ác Nhân. Bây giờ lão tự rút lui thật không phải chuyện dễ dàng, chỉ vì đau xót cái chết của Diệp Nhị Nương và bội phục tiết nghĩa của mụ.
Bang chúng Cái Bang lúc vui vẻ theo Bang chủ đến chùa Thiếu Lâm thì hết sức khí thế, chỉ mong Bang chủ dựa vào võ công cao thâm khó lường để giành được ngôi võ lâm minh chủ, từ nay Cái Bang áp đảo được Thiếu Lâm mà làm lãnh tụ võ lâm Trung Nguyên. Ngờ đâu Trang Bang chủ lại bái Đinh Xuân Thu làm sư phụ, rồi bị Tiêu Phong đá gãy hai chân, nên khí thế mọi người đều xẹp xuống, trên mặt không còn chút hứng thú nào.
Ngô trưởng lão lớn tiếng nói: “Các vị huynh đệ! Chúng ta còn ở đây làm chi? Chẳng lẽ còn muốn xin ít tiền lẻ cơm nguội nữa chăng? Mau xuống núi đi thôi.” Bang chúng dạ ran, toan quay xuống núi.
Bỗng nhiên Bao Bất Đồng hô lớn: “Khoan đã, khoan đã! Bao mỗ còn có chuyện muốn nói với Cái Bang.” Trần trưởng lão đã cùng gã và Phong Ba Ác tỉ đấu ở Vô Tích, biết gã chẳng bao giờ nói được một câu tử tế. Lão dừng bước, lớn tiếng nói:” Họ Bao kia! Có lời thì nói ra, có rắm thì đừng phóng.” Bao Bất Đồng đưa tay bịt mũi la lên: “Thối quá! Thối quá! Trời ơi, tên ăn mày nào cũng thối! Trong Cái Bang nhà ngươi có một lão hóa tử thối tha tên là Dịch Đại Bưu phải không?”
Trần trưởng lão nghe gã gọi đến Dịch Đại Bưu liền để ý hỏi lại: “Có thì sao, mà không có thì sao?” Bao Bất Đồng đáp: “Ta nói là tên ăn mày nào cũng thối. Ngươi đã chõ miệng vào, tức là thừa nhận rồi phải không?” Trần trưởng lão nghĩ đến việc lớn trong bang, không thèm đấu khẩu tranh hơn thua với gã, liền hỏi: “Ta hỏi ngươi, Dịch Đại Bưu làm sao? Hắn là đệ tử bản bang được phái đi công chuyện bên Tây Hạ. Ngươi có tin tức gì về gã không?” Bao Bất Đồng đáp: “Chính là ta đang định nói với ngươi về một chuyện lớn bên Tây Hạ, nhưng Dịch Đại Bưu thì đã xuống gặp Diêm Vương rồi.” Trần trưởng lão sửng sốt hỏi: “Có thật không? Bên Tây Hạ có việc gì trọng đại?” Bao Bất Đồng đáp: “Ngươi đã mắng ta hễ mở miệng là phóng rắm. Bây giờ ta không muốn phóng rắm nữa.”
Trần trưởng lão tức muốn dựng chòm râu bạc lên, nhưng lại nghĩ đến chuyện lớn là trọng, liền cười ha hả nói: “Lão phu đã đắc tội với các hạ, bây giờ xin lỗi vậy.” Bao Bất Đồng nói: “Xin lỗi thì không cần, chỉ cần từ đây ngươi phải ít nói đi mà phóng rắm ra nhiều hơn.” Trần trưởng lão ngạc nhiên tự hỏi: “Gã nói vậy là sao?”. Nhưng lão đang có việc phải cần gã nên không hỏi lại, chỉ mỉm cười mà không nói. Bao Bất Đồng lại nói: “Thối quá! Thối quá! Lão này nói không ra tiếng rồi.” Trần trưởng lão hỏi: “Nói không ra tiếng là sao?” Bao Bất Đồng nói: “Ngươi không mở miệng nói gì, hơi không ra đằng miệng thì dĩ nhiên phải ra đường khác.” Trần trưởng lão nghĩ bụng: “Thằng cha này thật là khó chịu, mình mới nói một câu vô lễ, mà gã xoay tới xoay lui tới ba bốn lần. Giả tỉ mình lại lên tiếng thì gã lại kiếm chỗ vặn vẹo, không chịu nói vào chuyện chính.” Lão bèn mỉm cười, không nói nửa lời.
Bao Bất Đồng lắc đầu nói: “Sai bét, sai bét! Ngươi lại muốn tranh hơi với ta, thật là thối tha!” Trần trưởng lão mỉm cười nói: “Tại hạ không mở miệng ra, sao lại bảo là tranh hơi với các hạ?” Bao Bất Đồng nói: “Ngươi chỉ phóng hơi thối ra mà không nói, thì dĩ nhiên không cần phải mở miệng.” Trần trưởng lão chau mày nói: “Thật là tức cười.”
Bao Bất Đồng thấy Trần trưởng lão nhân nhượng, mình đã nắm được thượng phong, liền nói: “Ngươi đã mở miệng nói, tức là không tranh hơi với ta nữa. Vậy ta nói cho ngươi biết. Nửa năm trước đây, ta theo Mộ Dung công tử, Đặng đại ca, Công Dã nhị ca… cả một đoàn người theo đường Cam Lương, thấy trong một khu rừng có một bọn ăn mày nằm chết dưới đất. Tên thì đầu lìa khỏi cổ, tên thì ruột đổ tứ tung, thật là vừa đáng thương vừa đáng sợ. Bọn này trên lưng có đeo túi vải, tên thì ba cái, tên thì bốn cái, tên thì năm cái, cũng có tên sáu cái.” Trần trưởng lão xen vào hỏi: “Không hiểu họ có phải là đệ tử của tệ bang không?” Bao Bất Đồng nói: “Lúc ta trông thấy thì mấy vị lão huynh này chết đã lâu, cũng chẳng biết đang ăn cháo lú hay đang lên Vọng Hương đài, không chừng lại đang bị thẩm vấn ở Thập Điện Diêm Vương. Họ đã không nói được, thì dĩ nhiên ta không thỉnh giáo được họ tôn tính đại danh là gì, quê quán ở đâu, thuộc về bang hội nào, vì sao lại chết. Nếu không thế thì họ biến thành quỷ sứ cũng còn mắng ta: Có lời thì nói ra, có rắm thì đừng phóng. Như thế thì ta bị mắng oan uổng hay sao?”
Trần trưởng lão nghe đến tin tức về nhiều huynh đệ trong bang chết thảm, đương nhiên rất quan tâm, không thể nín thinh mà cũng không thể buông lời chống đối, chỉ đáp: “Bao huynh nói đúng lắm!”
Bao Bất Đồng lắc đầu nói: “Sai bét, sai bét! Tính Bao mỗ rất ghét kẻ phụ họa, theo hùa, thế mà lão lại bảo “Bao huynh nói đúng lắm”, còn trong lòng lại thóa mạ ta là loài rùa đen, là quân chó đẻ. Cái kiểu nịnh trước mặt chửi sau lưng là hành vi bỉ ổi của bọn phái Tinh Tú. Nam tử hán đại trượng phu thì đúng là đúng, sai là sai, người ta có lập trường của người ta, mình có chủ trương của mình. Thương ai dám bảo là thương, ghét ai dám bảo là ghét. Tự đi tự đứng một mình, không cần kéo bè kéo lũ. Như thế mới là anh hùng hảo hán.”
Hắn giáo huấn cho Trần trưởng lão một tràng dài rồi mới nói tiếp: “Có một lão ăn mày bị trọng thương, lúc đó chưa kịp chết, nhưng mà cũng sắp chết. Hắn tự xưng là Dịch Đại Bưu, vừa ở Tây Hạ đem về một bảng văn của vua nước Tây Hạ, nói là có quan hệ trọng đại, đưa cho bọn ta để nhờ trao lại cho trưởng lão trong quí bang.” Tống trưởng lão nghĩ thầm: “Trần huynh đệ đã ăn nói lỗ mãng với gã, để ta đứng ra nói chuyện chắc hay hơn.” Lão bèn tiến ra xá một cái rồi nói: “Bao tiên sinh đã vì nghĩa mà đưa tin, tệ bang từ trên xuống dưới đều cảm kích đại đức.” Bao Bất Đồng nói: “Sai bét, sai bét! Nói quí bang từ trên xuống dưới đều cảm kích đại đức của ta là sai bét.” Tống trưởng lão ngẩn ra hỏi lại: “Sao Bao tiên sinh lại nói thế?” Bao Bất Đồng trỏ Du Thản Chi nói: “Bang chủ quí bang đây chẳng những không cảm kích ta mà còn tức giận ta đến cực điểm.” Tống, Trần hai vị trưởng lão đồng thanh hỏi: “Sao lại thế? Xin Bao tiên sinh chỉ giáo.”
Bao Bất Đồng đáp: “Dịch Đại Bưu lúc sắp chết có nói rằng bọn họ đều bị Trang Bang chủ của quí bang sai người sát hại. Chỉ vì họ không phục gã tiểu tử đó làm Bang chủ, nên bị gã sai người truy sát. Ôi thôi, thật là đáng tiếc, thật là đáng thương. Dịch Đại Bưu còn nhờ bọn ta báo tin cho Ngô trưởng lão, dặn lão cùng các vị trưởng lão khác nhất định phải đề phòng cẩn thận.”
Bao Bất Đồng vừa nói câu đó, quần cái đều chấn động. Ngô trưởng lão chạy tới trước mặt Du Thản Chi lớn tiếng quát hỏi: “Chuyện đó là đúng hay sai?”
Từ lúc Du Thản Chi bị Tiêu Phong đá gãy chân, gã ngồi yên dưới đất chẳng nói năng mà cũng không nhúc nhích, âm thầm vận nội lực cho đỡ đau, đột nhiên nghe Bao Bất Đồng kể ra chuyện bí mật ngày trước thì không khỏi hoảng hồn. Gã không biết trả lời Ngô trưởng lão thế nào cho phải, cứ ấp úng: “Là Toàn… Toàn Quan Thanh bảo ta ra lệnh, không… không liên quan đến ta.”
Tống trưởng lão không muốn phô chuyện xấu trong bang trước mặt mọi người, chỉ lườm Toàn Quan Thanh một cái, nghĩ thầm: “Chuyện trong bang, ta sẽ xử trí ngươi sau.” Rồi lão quay lại hỏi Bao Bất Đồng: “Tấm bản văn của Dịch Đại Bưu huynh đệ đưa cho tiên sinh, chắc là tiên sinh vẫn giữ bên mình?” Bao Bất Đồng quay lại đáp: “Ta không giữ!” Tống trưởng lão lập tức mặt biến sắc, nghĩ thầm: “Ngươi đã nói chuyện đến nửa ngày mà vẫn chưa chịu đưa bản văn cho ta, dám đem người khác ra tiêu khiển đỡ buồn ư?”. Bao Bất Đồng xá dài nói: “Non xanh trơ đó, nước biếc còn đây, chúng ta còn ngày tái hội.” Nói xong, gã quay người toan bỏ đi.
Ngô trưởng lão vội hỏi: “Sao các hạ không giao lại tấm bản văn của nước Tây Hạ?” Bao Bất Đồng đáp: “Thật là kỳ cục! Sao ngươi biết Dịch Đại Bưu giao bản văn vào tay Bao mỗ? Sao ngươi lại dùng hai chữ “giao lại”? Hôm ấy chính mắt ngươi có trông thấy chăng?”
Tống trưởng lão cố nén giận nói: “Rõ ràng Bao huynh vừa nói là Dịch Đại Bưu huynh đệ của tệ bang vừa cầm từ Tây Hạ về một tấm bản văn của vua nước Tây Hạ, nhờ Bao huynh giao cho trưởng lão bản bang. Ở đây có rất nhiều anh hùng hảo hán, ai cũng nghe thấy câu này. Sao đột nhiên Bao huynh lại đổi giọng?”
Bao Bất Đồng lắc đầu nói: “Sai bét, sai bét! Ta không nói như vậy.” Gã thấy Tống trưởng lão biến sắc mặt, lại tiếp: “Nghe nói các vị trưởng lão Cái Bang đều là hảo hán như gang như thép, thế mà trước mặt anh hùng thiên hạ lại đổi trắng thay đen, thị phi đảo lộn. Như vậy chẳng phải là đem danh tiếng anh hùng mà thả trôi theo dòng nước ư?”
Ba vị trưởng lão Tống, Trần, Ngô nhìn nhau, sắc mặt cực kỳ khó coi, không quyết định được nên tiếp tục nhẫn nại hay trở mặt động thủ. Trần trưởng lão nói: “Các hạ đã nói thế, bọn ta cũng không biết nói thế nào. Đúng hay sai thì phải có công luận.” Bao Bất Đồng nói: “Sai bét, sai bét! Ngươi bảo múa lưỡi nói nhăng cũng chỉ vô ích ư? Thế thì sao ngày trước Tô Tần chỉ múa lưỡi mà đeo tướng ấn sáu nước? Trương Nghi chỉ múa lưỡi mà giúp nhà Tần gồm thâu lục quốc?” Tống trưởng lão nghe Bao Bất Đồng đưa câu chuyện đi mỗi lúc một xa, đành nhăn nhó cười nói: “Giả tỉ Bao tiên sinh mà sinh vào thời Chiến Quốc thì còn vượt xa Tô Trương, đeo tướng ấn đến bảy nước, tám nước!”
Bao Bất Đồng nói: “Ngươi lại mỉa mai ta sinh chẳng gặp thời nên vận khí xui xẻo phải không? Được lắm! Từ đây mà họ Bao này có đau mình váng mẩy, lưng mỏi chân chồn, nhức đầu ngạt mũi, nhất định phải đi kiếm ngươi mà hỏi.”
Trần trưởng lão bực tức hỏi: “Bao huynh muốn thế nào, xin nói mau cho biết!” Bao Bất Đồng nói: “Hừ! Ngươi nóng tính quá. Trần trưởng lão! Trước kia ở thành Vô Tích, ngươi tỉ đấu cùng Phong tứ đệ, trong tay ngươi cầm một cái túi lớn, trong cái túi lớn có một con bò cạp to, con bò cạp này có kim độc, kim độc này đâm vào người thì sưng lên thành một cục, sưng lên thành một cục là đối phương phải toi mạng. Có đúng thế không?” Trần trưởng lão nghĩ thầm: “Chuyện này chỉ nói mấy chữ là xong, mà gã cũng cố lý la lý lố cho thành một tràng, dài.” Lão đáp gọn: “Đúng thế!”
Bao Bất Đồng nói: “Hay lắm! Bao mỗ muốn đánh cuộc với ngươi. Ngươi mà thắng cuộc thì Bao mỗ lập tức nói cho ngươi biết tin tức của lão già Dịch đưa từ Tây Hạ về. Còn nếu ngươi thua cuộc thì phải đưa cái túi có con bò cạp cho Bao mỗ, kèm theo cả thuốc giải. Ngươi có bằng lòng không?” Trần trưởng lão hỏi lại: “Bao huynh định đánh cuộc gì?” Bao Bất Đồng đáp: “Tống trưởng lão của quí bang đã vu cáo rằng Bao mỗ có nói là Dịch Đại Bưu đem bản văn của vua nước Tây Hạ giao cho Bao mỗ, rồi nhờ Bao mỗ giao lại cho trưởng lão quí bang. Nhưng Bao mỗ không nói vậy, thế thì chúng ta đánh cuộc về chuyện đó. Nếu Bao mỗ có nói vậy thì ngươi thắng cuộc, còn Bao mỗ không nói vậy thì ngươi thua cuộc.”
Trần trưởng lão đưa mắt nhìn hai vị Tống, Ngô. Cả hai đều gật gật đầu như muốn nói: “Ở đây có tới mấy ngàn người làm chứng, bất luận gã có giảo quyệt đến đâu cũng khó mà cãi chối. Cứ nhận đánh cuộc đi”. Trần trưởng lão liền đáp: “Được lắm! Lão phu đánh cuộc với Bao huynh. Nhưng không biết Bao huynh dùng cách gì để xác định ai thua ai thắng? Phải chăng chúng ta nên cử ra mấy vị đức cao vọng trọng, công chính nghiêm minh, để phân xử cho công bằng?”
Bao Bất Đồng lắc đầu nói: “Sai bét, sai bét! Ngươi muốn cử ra mấy vị đức cao vọng trọng để phân xử cho công bằng ư? Giả tỉ chúng ta cử ra đến tám vị hay mười vị, thì ở đây cũng còn lại hàng trăm hàng ngàn anh hùng hảo hán, chẳng lẽ họ đều không có đức cao vọng trọng hay sao? Mà nếu họ không có đức cao vọng trọng thì họ là bọn vô danh tiểu tốt hèn mạt hạ lưu hay sao? Vậy thì Cái Bang dám khinh mạn anh hùng hảo hán ở đây, thật là vô lễ.”
Trần trưởng lão nói: “Bao huynh lại nói giỡn rồi, tại hạ nhất định không dám có ý ấy. Vậy Bao huynh tinh sao cho phải?” Bao Bất Đồng nói: “Chuyện đó phải hay trái, cong hay thẳng thì chỉ nói một lời là xong, để ta chứng minh cho ngươi coi. Đưa đây!” Gã vừa nói vừa chìa tay ra. Trần trưởng lão hỏi: “Đưa cái gì?” Bao Bất Đồng đáp: “Cái bao, bò cạp, thuốc giải.” Trần trưởng lão cãi: “Bao huynh chưa chứng minh, sao lại đòi thắng cuộc?” Bao Bất Đồng nói: “Ta chỉ sợ ngươi thua cuộc rồi cãi xóa để quịt nợ.”
Trần trưởng lão cười ha hả nói: “Cái thứ độc vật nhỏ mọn đó chẳng có chi đáng kể. Bao huynh thích thì lão phu lập tức đưa tặng, cần gì phải nói chuyện thua hay thắng.” Lão bèn tháo chiếc bao vải trên vai xuống, lại móc trong bọc lấy một cái bình đưa cho Bao Bất Đồng.
Bao Bất Đồng không cần khách khí, đón ngay lấy rồi mở miệng bao ra xem. Gã thấy trong túi có bảy tám con bò cạp lớn màu sắc sặc sỡ, vội cột miệng bao lại, nhét bình thuốc giải vào trong bọc rồi nói: “Bây giờ Bao mỗ chứng minh cho ngươi xem là ngươi thua cuộc.” Gã vừa nói vừa tháo đai áo, nắm lấy một góc vạt áo mở phanh ra, kêu mọi người đến coi thì trong bọc chỉ có một ít bạc vụn và hỏa đao hỏa thạch, không còn vật gì khác. Tống, Trần, Ngô ba vị trưởng lão vẫn chưa hiểu ý gã ra sao, sắc mặt đầy vẻ nghi ngờ. Bao Bất Đồng nói: “Nhị ca lấy bản văn cho bọn họ coi.”
Công Dã Càn đang lo lắng về sự yên nguy của cha con Mộ Dung Phục, tuy trong lòng nóng nảy mà không có cách nào vượt qua La Hán đại trận của quần tăng chùa Thiếu Lâm, đành mỉm cười, lấy bản văn ra cầm trong tay. Quần hùng đều nhìn xem tấm bản văn, thì thấy nó là một tờ giấy vàng lớn có dấu son to tướng, viết đầy những chữ ngoằn ngoèo văn tự lạ, tuy chẳng biết đúng sai thế nào, nhưng tựa như không phải là đồ giả mạo.
Bao Bất Đồng nói: “Lúc nãy Bao mỗ đã nói là Dịch Đại Bưu của quí bang đem tấm bản văn giao cho bọn ta, nhờ giao lại cho trưởng lão quí bang, có đúng thế không?” Tống, Trần, Ngô ba trưởng lão đột nhiên thấy gã thừa nhận, liền cả mừng nói: “Đúng thế!” Bao Bất Đồng nói: “Thế mà Tống trưởng lão lại bịa đặt thành Dịch Đại Bưu giao tấm bản văn cho Bao mỗ, nhờ Bao mỗ giao lại cho trưởng lão quí bang, có đúng thế không?” Ba vị trưởng lão cùng nói: “Đúng thế! Có gì là sai đâu?”
Bao Bất Đồng lắc đầu nói: “Sai bét! Sai bét! Có nói đầu trâu giống đầu ngựa cũng chỉ sai đến thế. Sai một ly, đi một dặm. Bao mỗ nói là đưa bản văn cho bọn ta, mà Tống trưởng lão lại bảo là đưa bản văn cho ta. Bọn ta, là cả bọn Cô Tô Mộ Dung, gồm có Mộ Dung công tử, có Đặng đại ca, có Công Dã nhị ca, có Phong tứ đệ, có Bao Bất Đồng, lại có một vị cô nương là Vương Ngữ Yên. Còn ta, chỉ là gã Bao Bất Đồng một mình một bóng, một gã giang hồ mở miệng ra là sai bét, sai bét. Các vị anh hùng nghĩ mà xem, Vương cô nương nguyệt thẹn hoa nhường là một khuê nữ, mà bảo là tương đồng với Bao Bất Đồng Bao lão tam hay cãi chày cãi cối này thì có vô lý không?”
Tống, Trần, Ngô ngơ ngác nhìn nhau, không ngờ gã này chẻ một chữ làm tư, chỉ có “ta” hay “bọn ta” mà cho ra cả một bài đại luận.
Bao Bất Đồng lại nói: “Bản văn này là do Dịch Đại Bưu trao vào tay Công Dã nhị ca. Ta nói cho các ngươi biết chuyện này, là do Mộ Dung Phục công tử quyết định chủ ý. Bởi thế phải nói là “giao cho bọn ta” mới đúng, nếu nói là “giao cho ta” thì dĩ nhiên sai bét. Các ngươi phải hiểu rằng ta không biết chữ Tây Hạ thì giữ tấm bản văn đó làm gì, vứt đi lại càng nhẹ. Ở ngoài thành Vô Tích, ta thảm bại dưới tay quí bang mà không tìm đến báo thù đã là tốt, còn báo tin làm gì? Nhưng chuyện báo tin về bảng văn Tây Hạ lại là việc của cả bọn ta chứ không phải là việc của cá nhân Bao Bất Đồng. Gã nói xong, quay lại bảo Công Dã Càn: “Nhị ca! Bọn họ thua rồi cất bản văn đi thôi.”
Trần trưởng lão nghĩ bụng: “Thằng cha này nói lòng vòng, té ra chỉ vì chưa quên cái nhục thảm bại năm nào ở ngoại thành Vô Tích.” Lão bèn chắp tay nói: “Ngày đó Bao huynh tay không mà tỉ đấu với cây trượng nặng sáu mươi cân của Hề trưởng lão, vẫn chiếm được thượng phong. Rồi tệ bang thấy không địch nổi, phải lập Đả… Đả cái gì… trận mà vẫn không làm gì được Bao huynh, về sau Bang chủ tệ bang khi đó là Kiều Phong phải xuất toàn lực chiến đấu với Bao huynh hồi lâu mới miễn cưỡng thắng được nửa chiêu. Khi đó Bao huynh mới cất tiếng hát vang mà bỏ đi, bản lĩnh đã cao cường, phong độ lại ung dung. Tệ bang từ trên xuống dưới, mỗi khi nhắc lại chuyện này đều lấy làm thú vị, ai cũng bội phục Bao huynh vô cùng! Thế mà Bao huynh lại tự khiêm nói là thảm bại về tay tệ bang, nhất quyết là không phải. Hơn nữa Kiều Phong cùng tệ bang đã có xích mích, có thể nói y là kẻ thù chung của chúng ta.”
Lão không biết rằng Bao Bất Đồng nói đông nói tây, không phải vì cái nhục thua trận ở rừng Hạnh ngoài thành Vô Tích ngày nào, càng không phải vì mấy chữ “có lời thì nói ra, có rắm thì đừng phóng”. Bao Bất Đồng chỉ đợi câu cuối cùng của lão, bèn chớp cơ hội nói ngay: “Thế thì tuyệt diệu. Trưởng lão hãy thống lĩnh huynh đệ quí bang hợp sức cùng bọn tại hạ đi bắt kẻ thù chung là Kiều Phong. Khi đó tại hạ sẽ nghĩ tình bằng hữu mà hai tay dâng bản văn lên. Nếu trưởng lão không biết văn tự ngoằn ngoèo trong bản văn thì Công Dã nhị ca xin đem bản văn ra giải thích rõ ràng từ đầu đến cuối không sót một chữ. Trưởng lão nghĩ sao?”
Trần trưởng lão hết nhìn Tống trưởng lão lại nhìn Ngô trưởng lão, không biết quyết định thế nào. Bỗng có tiếng người nói: “Như thế là phải rồi, còn ngần ngại gì nữa?” Mọi người nhìn xem ai nói câu đó, thì ra chính là Thập phương tú tài Toàn Quan Thanh. Hắn lại nói tiếp: “Nước Liêu là đại thù của nhà Tống. Cha Kiều Phong là Tiêu Viễn Sơn lại chính miệng nói ra là đã ẩn núp ba mươi năm trời trong chùa Thiếu Lâm, xem hết võ kinh bí lục của phái này. Hôm nay nếu bọn ta không đồng tâm hiệp lực trừ khử hắn đi, nếu hắn yên lành trở về Liêu quốc, truyền thụ võ công Trung Nguyên cho bọn võ sĩ Khất Đan thì chẳng khác gì chắp thêm cánh cho hổ. Sau này chúng kéo đến tấn công Đại Tống thì bọn con cháu Viêm Hoàng chúng ta đều biến thành nô lệ vong quốc.”
Quần hùng nghe Toàn Quan Thanh nói đều thấy rất có lý, nhưng Huyền Từ viên tịch, Trang Tụ Hiền gãy chân, thành ra Thiếu Lâm cùng Cái Bang vốn là cột trụ võ lâm Trung Nguyên lại biến thành hai đàn rắn không đầu, không có người đứng ra chủ trương đại cuộc.
Toàn Quan Thanh lại nói: “Xin mời ba vị cao tăng hàng chữ Huyền của phái Thiếu Lâm và ba vị trưởng lão Tống, Trần, Ngô của Cái Bang hợp nhau để ban hiệu lệnh, thì hết thảy chúng ta đều phải vâng lời. Trước hết là giết cha con Tiêu Viễn Sơn, Tiêu Phong để trừ mối lo tâm phúc cho nhà Đại Tống, còn những việc khác sẽ bàn sau cũng không muộn.” Hắn thấy Du Thản Chi đã thân bại danh liệt, bản thân mình trong bang không còn chỗ dựa dẫm có thế lực nữa, mà việc giết Dịch Đại Bưu cũng đã bại lộ rồi, trong lòng hắn rất lo lắng, liền muốn bày ra chuyện khác để tạm thời thoát tội. Tuy hắn cũng là một trong bốn trưởng lão của Cái Bang, nhưng lúc này không dám tự liệt ngang hàng với ba vị Tống, Trần, Ngô nữa.
Quần hùng hoan hô rầm rộ: “Thế là phải lắm! Xin ba vị cao tăng cùng ba vị trưởng lão ra lệnh!” “Việc này quan hệ đến an nguy của quốc gia, xin sáu vị tiền bối đừng từ chối!” “Chúng tôi đồng lòng tuân lệnh, đi giết hai tên Liêu cẩu trước.” Hàng trăm hằng ngàn người cùng rút binh khí nghe xoang xoảng, lại có người định xông tới giết mười tám tên võ sĩ Khất Đan.
Dư bà bà la lên: “Các huynh đệ Khất Đan, hãy sang đây nói chuyện.”
Mười tám võ sĩ Khất Đan không biết mụ có dụng ý gì, cứ đứng cầm đao yên lặng thủ thế. Họ biết rằng số ít không địch nổi nhiều, nhưng cũng quyết một trận tử chiến. Dư bà bà lại la lên: “Tám bộ cung Linh Thứu chúng ta phải bảo vệ cho mười tám vị bằng hữu.” Quần nữ trong tám bộ liền chạy sang đứng phía trước mười tám võ sĩ Khất Đan, còn các Động chúa, Đảo chúa chia ra đứng hai bên. Bọn môn đồ phái Tinh Tú muốn lập công trước mặt chủ mới, cũng phất cờ reo hò, thanh thế rất là cương mãnh.
Dư bà bà khom lưng trước Hư Trúc nói: “Chủ nhân! Mười tám võ sĩ này là thuộc hạ của nghĩa huynh chủ nhân, nếu để họ bị người ta loạn đao giết chết trước mặt chủ nhân thì còn gì là oai phong của cung Linh Thứu nữa? Bọn thuộc hạ xin tạm thời bảo vệ cho họ, để chờ chủ nhân phát lạc.”
*****
Nguồn: truyenkimdung


