“Tiếng chân ngựa mỗi lúc một gần, rồi có tiếng bảy tám người cùng hát một bài của người Liêu, điệu dài thườn thượt, lại giọng khô khan quê kệch, không ai hiểu gì cả. Ta nắm chặt cán đao, lòng bàn tay toát mồ hôi lạnh bèn lau vào ống quần cho khô, nhưng chẳng mấy chốc lại ướt nữa. Thủ lãnh đại ca nằm ngay cạnh ta, y biết ta hồi hộp lắm nên đưa tay vỗ vỗ lên vai, nhìn ta mỉm cười, lại giơ tay lên chém nhứ một cái ý nói giết sạch quân Hồ Lỗ. Ta cũng cười đáp lại, trong lòng thấy trấn tĩnh hơn nhiều.”
“Con ngựa đi đầu của bọn Liêu đến cách bọn ta chừng ngoài năm chục trượng, ta từ sau đám loạn thạch nhìn ra xem thấy đám võ sĩ Khất Đan đều mặc áo lông, người giáo dài, kẻ đao ngắn, có đứa lại cầm cung tên, lại có đứa để con chim ưng thật lớn đậu trên vai. Cả bọn vừa đi vừa hát, không biết đằng trước có mai phục. Chỉ giây lát, ta đã nhìn rõ diện mạo của mấy tên Khất Đan đi đầu, đứa nào cũng tóc ngắn râu rậm, trông thật hung dữ. Bọn chúng tới càng lúc càng gần, tim ta mỗi lúc đập một nhanh hơn tưởng như sắp văng qua miệng ra ngoài…”
Mọi người nghe Trí Quang kể chuyện, tuy biết là chuyện cũ ba mươi năm trước mà ai cũng thấy hồi hộp. Trí Quang quay sang Kiều Phong nói: “Kiều bang chủ, việc này thành hay bại liên quan đến sự yên nguy của nhà Đại Tống cùng sinh mạng của trăm vạn sinh linh, mà bên ta cũng không nắm vững phần thắng, chỉ có một điểm lợi là địch ở ngoài sáng, ta trong bóng tối. Không biết theo ý bang chủ thì phải làm thế nào?”
Kiều Phong đáp: “Xưa nay đã có câu Binh bất yếm trả, việc này là chuyện hai nước giao tranh không thể nào theo nghĩa khí giang hồ, qui củ võ lâm được. Bọn Liêu cẩu khi giết lê dân nhà Đại Tống chúng ta có bao giờ nương tay đâu? Cứ như ý kiến của tại hạ thì nên dùng ám khí, mà ám khí phải tẩm độc cực mạnh.”
Trí Quang giơ tay vỗ đùi đánh đét một cái, nói: “Phải lắm! Ý kiến của Kiều bang chủ cũng y hệt như bọn ta hồi đó. Thủ lãnh đại ca thấy bọn Liêu cẩu đến gần, hú lên một tiếng, mọi người liền phóng ám khí ra, đủ cả cương tiêu, tụ tiễn, phi đao, thiết chùy… loại nào cũng tẩm độc cực mạnh. Bọn Liêu cẩu kia kêu la hò hét, loạn cả lên, ngã ngựa đến quá nửa…”
Trong đám bang chúng Cái Bang lập tức có người vỗ tay, rồi tiếng hoan hô nổi lên.
Trí Quang nói tiếp: “Bấy giờ ta đã đếm được rõ ràng, võ sĩ Khất Đan cả thảy có mười chín tên, chúng ta dùng ám khí đã tiêu diệt được mười hai, chỉ còn lại có bảy tên. Bọn ta liền nhất tề xông ra, khoa đao kiếm lên chém một lúc chết sạch cả, không có mống nào chạy thoát.”
Trong Cái Bang cũng vẫn có người reo hò, nhưng Kiều Phong, Đoàn Dự lại nghĩ: “Đại sư vừa nói bọn võ sĩ Khất Đan này được tuyển lựa rất kỹ, sao lại kém cỏi thế, chỉ giây lát đã bị giết sạch?”
Chỉ nghe Trí Quang thở dài một tiếng nói: “Bọn ta chỉ mới cất tay đã giết sạch mười chín tên võ sĩ Khất Đan, tuy cũng vui sướng thật nhưng trong bụng đã thấy nghi hoặc. Bọn này tầm thường quá, không đứa nào chịu nổi một chiêu, nhất định không phải là hảo thủ. Chẳng lẽ tin tức không chính xác hay sao? Hay là người Liêu bày kế dụ địch để cho bọn ta vào tròng? Mới bàn bạc được vài câu lại nghe tiếng vó ngựa, từ hướng tây bắc có hai người cưỡi ngựa chạy đến.”
“Lần này bọn ta không mai phục nữa, cùng tiến lên nghinh địch, thấy hai kỵ sĩ là một nam, một nữ. Người đàn ông thân thể khôi vĩ, tướng mạo đường đường, phục sức sang trọng hơn mười chín tên kia nhiều. Người đàn bà còn trẻ, trong tay bồng một đứa hài nhi. Hai người lỏng buông tay khấu, sánh vai nhau cười cười nói nói ra chiều thân mật, rõ ràng là một cặp vợ chồng. Họ trông thấy bọn ta liền lộ vẻ ngạc nhiên, nhìn lại thấy ngay xác mười chín tên võ sĩ nằm dưới đất. Người đàn ông liền lộ vẻ hung dữ, lớn tiếng quát tháo xí xố một tràng bằng tiếng Khất Đan, không hiểu y muốn nói gì.”
“Thiết tháp Phương Đại Hùng tam ca đất Đại Đồng Sơn Tây giơ cây thục đồng côn lên, quát lớn: Tên Liêu cẩu kia, xuống nạp mạng đi! Y vừa gọi vừa vung côn đập xuống gã Khất Đan kia. Thủ lãnh đại ca trong bụng ngờ vực bèn kêu lên: Phương tam ca không được lỗ mãng! Chớ có giết y, phải bắt sống để tra hỏi xem thế nào.”
“Thủ lãnh đại ca chưa nói hết câu, tay gã Khất Đan đã vươn ra chộp luôn thiết côn của Phương Đại Hùng, vặn nghe rắc một tiếng, xương tay Phương Đại Hùng đã gãy. Gã giằng lấy cây côn giơ lên vụt xuống, bọn ta kêu réo ầm lên, thấy không thể nào xông lên cứu kịp nên ai nấy liền phóng ám khí vào y. Gã người Liêu kia chỉ phất tay áo bên trái, một cái, một luồng kình phong hất bảy tám món ám khí dạt cả ra. Tính mạng Phương Đại Hùng xem ra không sao còn được, ngờ đâu y đưa côn ra hất một cái, cả Phương tam ca lẫn cây côn đều văng ra ngoài vệ đường. Miệng y vẫn lý lố chẳng biết nói gì.”
“Mới có một chiêu, bọn ta ai nấy đều chấn động, biết rằng người này võ công cao cường trên đời hiếm có. Quả nhiên tin tức loan truyền không phải là giả, bọn ta e rằng phía sau còn nhiều hảo thủ nên phải lấy đông đánh ít, giết được tên nào hay tên ấy. Lập tức sáu bảy người liền xông lên tấn công hắn, bốn năm người khác cũng xúm lại đánh người đàn bà.”
Ngờ đâu thiếu phụ đó hoàn toàn không biết võ nghệ, vừa bị chém một kiếm đã đứt lìa cánh tay, đứa trẻ trong tay liền rơi xuống đất, một người khác vung đao hớt đứt luôn nửa cái đầu nàng ta. Gã người Liêu kia võ công tuy cao cường thật nhưng đang bị sáu bảy cao thủ vây đánh thì làm sao có thể phân thân chống đỡ cho vợ con? Mấy chiêu đầu y chỉ cố đoạt binh khí của bọn ta, không làm ai bị thương cả, đến khi thấy vợ chết rồi, mắt y đỏ ngầu, vẻ mặt cực kỳ đáng sợ. Khi đó ta vừa chạm phải mục quang y, tự nhiên chân tay bủn rủn không dám tiến lên.”
Triệu Tiền Tôn ngắt lời: “Cái đó không thể trách ngươi được! Cái đó không thể trách ngươi được!” Y trừ khi nói với Đàm bà ra, ăn nói với ai cũng ra chiều kẻ cả ngạo mạn nhưng mấy câu này xem ra vừa có phần đau buồn vừa có phần khiêm tốn.
Trí Quang tiếp: “Trận ác chiến đó diễn ra đã ba mươi năm. Suốt ba chục năm qua không biết bao nhiêu lần ta nằm mơ thấy cái cảnh đó, từng chi tiết rõ ràng in hằn trong tâm khảm. Gã người Liêu vung hai tay ra, không biết y dùng thủ pháp cầm nã nào đoạt luôn được hai món binh khí trong tay hai huynh đệ, vừa chém vừa đâm, giết luôn hai người đó. Y thoắt nhảy xuống đất, thoắt lại vọt lên lưng ngựa, nhanh như chim cắt vồ mồi, biến ảo không khác gì ma quỉ. Đúng thế, y chẳng khác gì ma quỉ hóa thân, xông vào bên đông giết một người, chuyển qua bên tây giết thêm người nữa. Chỉ trong giây lát, trong hai mươi mốt người bọn ta đã có chín người bị y giết chết.”
“Bấy giờ ai nấy đều tức giận, hai mắt đỏ ngầu. Thủ lĩnh đại ca cùng Uông Bang chúa và cả bọn ta đều liều mạng xông vào giao đấu với y. Thế nhưng võ công gã kỳ lạ không thể tưởng tượng được, chiêu thức sắp đánh về phương nào không ai đoán nổi. Khi đó mặt trời hoàng hôn đỏ như máu, bên ngoài Nhạn Môn Quan gió bấc thổi vù vù hòa lẫn tiếng kêu thảm khốc của các anh hùng hảo hán lúc lâm chung, chân tay, đầu lâu, binh khí, máu me tung tóe rơi rụng. Ai bản lĩnh giỏi mấy cũng chỉ lo tự vệ, không ai chi viện cho người khác được.”
“Trước tình thế này, ta quả là vô cùng sợ hãi. Nhưng mắt thấy anh em từng người từng người chết thảm, không khỏi nhiệt huyết dâng lên, ta thu hết can đảm, cưỡi ngựa xông thẳng vào y. Hai tay ta cầm đại đao nhắm ngay đầu y chém xuống, biết rằng nhát này không trúng thì tính mạng coi như giao cho y.
Lưỡi đao còn cách đầu y một thước, gã người Liêu kia đột nhiên chộp ngay một người đưa lên đỡ. Ta hốt hoảng nhìn lại thì ra là lão nhị trong Đỗ thị tam hùng ở Giang Tây, vội gượng giữ đao lại. Cán đao giật về trúng ngay đầu con ngựa ta đang cưỡi nghe đánh chát, con vật đau quá liền hí một tiếng, nhảy chồm lên. Ngay lúc đó gã người Liêu kia phóng chưởng đánh ra, con vật đang lúc nhảy dựng lên vừa đúng lúc để giúp ta một đòn, nếu không ít ta đã xương cốt gãy hết, còn sống sao được tới ngày nay?”
“Chưởng lực của gã thật là khủng khiếp, hất ta cả người lẫn ngựa bật ngửa ra sau. Thân hình ta bay bổng lên, rơi xuống một ngọn cây, lơ lửng giữa trời. Khi đó ta hồn bất phụ thể, chẳng hiểu mình đang ở chỗ nào, đã chết chưa. Lát sau ta mới nhìn xuống, thấy anh em vây đánh gã người Liêu kia mỗi lúc một ít dần, chỉ còn độ năm sáu người. Vừa khi đó ta nhìn thấy vị nhân huynh này…” Nói tới đây ông chỉ vào Triệu Tiền Tôn kể tiếp: “… lạng đi một cái, té lăn xuống vũng máu, lại tưởng y cũng chết rồi.”
Triệu Tiền Tôn lắc đầu nói: “Chuyện đó nói ra thật đáng hổ thẹn, nhưng cũng chẳng giấu giếm làm gì. Có phải ta bị thương đâu, vì sợ quá nên tim ngừng đập, mắt tối sầm, bất tỉnh nhân sự đó thôi. Quả đúng thế, ta là con quỷ nhát gan, thấy gã giết người nhiều quá bèn ngất xỉu.”
Trí Quang nói: “Gã người Liêu kia lợi hại chẳng khác gì ma quỉ sát hại anh em, ai nói không sợ thì thật là nói bậy.” Ông ta nhìn lên vầng trăng non treo lơ lửng trên không rồi lại tiếp: “Lúc đó bên ta chỉ còn bốn người chiến đấu với tên Liêu cẩu. Thủ lĩnh đại ca biết không xong, thế nào cũng chết cả bèn luôn mồm hỏi: Ngươi là ai? Ngươi là ai? Gã người Liêu kia không trả lời, chỉ trong chốc lát lại giết thêm hai người nữa. Y phóng chân phải lên đá trúng ngay huyệt đạo trên lưng Uông bang chủ, tiếp đó chân trái theo thế Uyên Ương Liên Hoàn, đá trúng huyệt đạo nơi mạng sườn của thủ lĩnh đại ca. Y dùng bàn chân mà đá trúng huyệt đạo, nhận huyện đã chính xác, cước pháp lại lạ lùng thực không thể tưởng tượng được. Nếu như chẳng phải chính mình cũng sắp chết đến nơi, hai người bị đá là hai người ta hằng kính ngưỡng thì chắc ta đã buột miệng hoan hô rồi.”
“Gã người Liêu kia giải quyết hết cường địch liền chạy đến bên tử thi của thiếu phụ, ôm xác vợ khóc rống lên một hồi cực kỳ bi thảm. Ta nghe tiếng khóc của y không khỏi mủi lòng, thấy tên Liêu cẩu hung ác như ma quỉ kia cũng còn có nhân tính, thống khốc bị ai chẳng khác gì người Hán chúng ta.”
Triệu Tiền Tôn lạnh lùng nói: “Thế thì có gì là lạ? Loài dã thú còn có tình vợ chồng cha con, có khác gì con người đâu? Người Liêu cũng là người, có khác gì người Hán?” Trong đám Cái Bang có mấy người la ó: “Quân Liêu cẩu hung tàn bạo ngược, còn hơn độc xà mãnh thú, khác xa người Hán chúng ta.” Triệu Tiền Tôn chỉ cười nhạt không đáp.
Trí Quang kể tiếp: “Gã người Liêu kia ngồi khóc một hồi, ôm xác đứa con nhìn một lát, để hài nhi vào lòng mẹ, bước tới chỗ thủ lĩnh đại ca chửi bới một chập. Thủ lĩnh đại ca cũng không chịu nhịn, giương mắt hầm hầm nhìn y, khổ nỗi huyệt đạo đã bị điểm, không nói được câu nào. Hắn đột nhiên ngẩng đầu lên hú một tiếng dài, nhặt một thanh đoản đao dưới đất, vạch chữ lên sườn núi. Lúc đó trời đã tối mịt, ta lại ở cách y khá xa nên không rõ gã viết những gì.”
Triệu Tiền Tôn nói: “Y khắc bằng chữ Khất Đan, ngươi có thấy cũng chẳng hiểu được.” Trí Quang đáp: “Đúng thế, ta có thấy cũng chẳng hiểu được. Khi đó bốn bề vắng lặng không một tiếng động, chỉ có tiếng dao khắc lên đá xoèn xoẹt, nghe cả tiếng đá vụn rơi xuống, ta nín hơi không dám thở mạnh. Không biết bao lâu, y vứt thanh đoản đao xuống nghe keng một tiếng, cúi xuống bồng xác vợ con lên, đi đến bờ vực thẳm tung mình nhảy xuống.”
Mọi người nghe đến đây đều “A” lên một tiếng, không ngờ chuyện lại xảy ra như thế.
Trí Quang đại sư kể tiếp: “Các vị bây giờ nghe kể còn thấy ngạc nhiên, lúc đó chính mắt ta nhìn lại càng kinh ngạc bội phần. Một người võ công cao cường như thế ở nước Liêu ắt phải có thân phận cao quí, lần này đoàn võ sĩ đến Trung Nguyên tập kích chùa Thiếu Lâm, nếu như y không phải là đại thủ lĩnh thì cũng phải là một nhân vật trọng yếu. Y bắt sống được thủ lĩnh đại ca cùng Uông bang chủ, còn bao nhiêu thì đã giết sạch, coi như toàn thắng rồi, ai ngờ đâu y lại nhảy xuống vực sâu tự tận chứ không thừa thắng tiến lên.”
“Khi ta tới bên bờ vực nhìn xuống, chỉ thấy mây tỏa mịt mù, sâu không thấy đáy. Y cũng chỉ có cái thân máu thịt, dù cho võ công cao cường tới mực nào mà đã nhảy xuống thì cũng không sao sống sót. Ta giật mình kêu lên một tiếng. Ngờ đâu bên trong chuyện lạ lại có chuyện lạ hơn, ta vừa kêu thét lại có tiếng trẻ con khóc oa oa, rồi từ dưới vực sâu có một vật vọt lên rơi ngay trên mình Uông bang chủ nghe bịch một tiếng. Thế rồi tiếng hài nhi khóc oe oe vẫn không ngừng, hóa ra vật rơi vào người Uông bang chủ chính là đứa nhỏ lúc nãy. Khi đó ta đã bớt sợ, từ trên cây trèo xuống, chạy đến gần Uông bang chủ, thấy đứa bé Khất Đan nằm trên bụng ông vẫn đang khóc.”
“Ta nghĩ một lúc mới hiểu rõ: nguyên lúc thiếu phụ Khất Đan bị giết, đứa con nàng tuy ngã xuống đất, nhắm mắt tắt hơi nhưng chưa chết hẳn. Gã người Liêu kia đang khóc lóc thảm thiết, sờ mũi con thấy không thở nữa lại tưởng vợ con chết cả rồi, nên ôm hai cái xác nhảy xuống vực tự tận. Đứa hài nhi bị chấn động, tỉnh lại khóc ré lên. Gã người Liêu kia thân thủ quả là ghê gớm, không muốn con phải chết theo mình dưới vực sâu, lập tức bế đứa trẻ quăng lên. Y lượng đúng phương vị khoảng cách nên nhắm ngay bụng Uông bang chủ mà ném, để cho hài nhi không bị thương. Gã đang ở lưng chừng, vừa phát giác ra đứa con chưa chết lập tức tung lên, tâm linh chuyển biến đã mau lẹ, sử lực lại không sai một li nào, tài trí đó, võ công đó ai mà không khiếp sợ.”
“Ta nhìn anh em chết thảm, trong cơn đau lòng nhấc đứa bé Khất Đan lên định liệng vào vách đá cho chết luôn. Tay ta vừa giơ lên thì đứa trẻ lại khóc oa oa, khuôn mặt hồng hào, đôi mắt to đen láy nhìn ta. Nếu ta không trông vào mặt nó thì đã quật chết tươi rồi, chả còn chuyện gì nữa. Thế nhưng ta thấy khuôn mặt đứa trẻ thật đáng yêu không nỡ ra tay, nghĩ bụng: Hiếp đáp một đứa trẻ chưa đầy tuổi thì thật là hèn mạt, còn nói gì nam tử hán, đại trượng phu?”
Trong Cái Bang có người la lên: “Trí Quang đại sư! Bọn Liêu cẩu giết hại người Hán chúng ta nhiều vô số kể. Chính mắt tại hạ nhìn thấy chúng cầm trường mâu xiên vào trẻ con người Hán, phóng ngựa bêu khắp phố phường để diễu võ dương oai. Bọn chúng giết trẻ con được, lẽ nào mình lại không giết được?” Trí Quang đại sư thở dài đáp: “Quả đúng như vậy, song tấm lòng trắc ẩn ai mà không có? Hôm đó ta thấy người chết thảm đã nhiều, không nỡ giết thêm một đứa trẻ nữa. Các ngươi nói ta sai lầm cũng được, nói ta nhát gan cũng được, nhưng ta vẫn để nó sống.”
“Sau đó ta đến định giải huyệt cho thủ lĩnh đại ca và Uông bang chủ nhưng tài nghệ ta kém cỏi, lại thêm công phu đả huyệt của gã Khất Đan kia đặc dị, ta ra sức nào nắn, nào vỗ, nào thoa, nào bóp, hì hục đến đẫm mồ hôi, dùng đủ mọi cách mà thủ lĩnh đại ca và Uông bang chủ vẫn trơ trơ không nhúc nhích, cũng chẳng mở miệng nói được. Ta không còn cách nào khác hơn, lại sợ bọn Khất Đan tới tiếp viện nên dắt ba con ngựa tới, đem thủ lĩnh đại ca và Uông bang chủ buộc lên lưng ngựa. Chính ta cũng cưỡi một con, tay ôm đứa trẻ Khất Đan dẫn thêm hai con ngựa nữa chạy suốt đêm rời Nhạn Môn Quan tìm thầy thuốc chuyên về trật đả nhờ giải huyệt, cũng chẳng ăn thua gì. May sao đến tối hôm sau là đủ mười hai giờ, huyệt đạo hai vị tự nhiên khai thông.”
“Thủ lĩnh đại ca và Uông bang chủ nhớ ngay đến chuyện võ sĩ Khất Đan tấn công chùa Thiếu Lâm, nên lập tức quay lại Nhạn Môn Quan xem xét tình hình. Thế nhưng chỉ thấy máu đổ thịt rơi đầy mặt đất, hiện trường vẫn nguyên vẹn so với hôm trước. Ta thò đầu ra nhìn xuống vực cũng không lần được một chút manh mối nào. Chúng ta bèn cùng nhau đem thi hài anh em mai táng, nhưng khi đếm lại chỉ có mười bảy tử thi. Đúng ra số người tuẫn nạn phải là mười tám, sao bấy giờ lại thiếu mất một?” Ông ta nói tới đây đưa mắt nhìn Triệu Tiền Tôn.
Y nhăn nhó cười nói: “Trong đám này có một xác chết hồi sinh, đi đi lại lại được cho đến ngày nay. Cái xác ấy chính là Triệu Tiền Tôn Lý Chu Ngô Trịnh Vương ta đây.”
Trí Quang lại nói: “Lúc đó ba người chúng ta cũng không lấy làm lạ, lại nghĩ trong lúc hỗn chiến, nhân huynh đây đã chết lặn xuống vực thẳm mất xác cũng là chuyện thường. Bọn ta mai táng anh em xong rồi, căm tức chưa tan, lại đem các xác chết Khất Đan liệng hết xuống dưới Loạn Thạch Cốc. Thủ lĩnh đại ca nói với Uông bang chủ: Kiếm Nhiêm huynh, gã Khất Đan kia mà muốn giết hại người chúng ta thật dễ như trở bàn tay, sao lại chỉ đá vào huyệt đạo để cho mình sống tới bây giờ?” Uông bang chủ đáp: “Việc đó ta cũng nghĩ mãi mà chưa ra, hai ta là nhân vật đầu sỏ giết cả vợ con yêu dấu của gã, cứ lý mà nói thì phải đuổi tận giết tuyệt mới đúng.”
“Ba người bàn đi tán lại mãi vẫn không ra lẽ. Thủ lĩnh đại ca bèn nói: Gã khắc chữ trên vách đá chắc hẳn có thâm ý gì. Khổ nỗi cả ba người chúng ta không ai hiểu văn tự Khất Đan, thủ lĩnh đại ca bèn xuống suối lấy nước hòa máu đọng dưới đất tô lên vách đá, sau đó xé trường bào màu trắng, in vào đó. Y chỉ dùng một con dao găm mà khắc chữ sâu vào đá phải đến hai tấc, riêng thủ kình đó cũng đủ xưng hùng thiên hạ không ai bì kịp rồi. Ba người nhìn mà kinh ngạc, nhớ lại tình hình hôm qua trong lòng vẫn còn thảng thốt. Vào trong quan ải rồi, Uông bang chủ đi tìm một gã lái ngựa thường qua lại Thượng Kinh nước Liêu buôn bán, y có biết chữ Khất Đan, đưa tấm vải cho y xem, nhờ dịch ra chữ Hán rồi viết lên giấy.”
Trí Quang thuật đến đó, ngẩng đầu nhìn trời, thở dài một tiếng rồi tiếp tục kể: “Ba người chúng ta đọc xong bản dịch rồi, người nọ nhìn người kia không sao tin nổi. Gã Khất Đan kia lúc đó đã quyết ý tự tận, lẽ nào còn dối trá? Bọn ta lại đi tìm một người khác cũng hiểu tiếng Khất Đan nhờ y dịch miệng lại từng câu, thì ý tứ cũng đúng như bản dịch trước. Than ôi! Nếu sự thực là vậy thì mười bảy huynh đệ chết oan, bọn võ sĩ không tội vạ gì mà bị liên lụy, còn đối với vợ chồng người Khất Đan thì chúng ta thật có lỗi không thể kể xiết.”
Mọi người đang nóng lòng muốn nghe những hàng chữ Khất Đan trên vách núi kia có ý nghĩa gì, Trí Quang lại ngần ngừ không nói nữa. Có người nóng tính liền giục: “Những dòng chữ đó viết gì?” “Sao lại có lỗi với y?” “Tại sao lại oan cho vợ chồng người đó?” Trí Quang nói: “Các vị bằng hữu, không phải là ta có ý giấu giếm không chịu tiết lộ ý nghĩa của những chữ Khất Đan kia. Nếu như bản văn trên vách đá là sự thực thi hành vi của thủ lĩnh đại ca, Uông bang chủ và cả ta đều hết sức sai trái, không còn mặt mũi nào mà nhìn ai. Trí Quang này trong võ lâm chỉ là một tên vô danh tiểu tốt, có sai lầm thì cũng chẳng đáng gì. Thế nhưng thủ lĩnh đại ca và Uông bang chủ ở vào địa vị cao đến thế nào? Huống chi Uông bang chủ đã qui tiên rồi, ta đâu dám nói năng càn rỡ để làm tổn hại đến thanh danh hai vị? Xin anh em tha lỗi, ta không thể nói rõ ra.”
Tiền bang chủ của Cái Bang là Uông Kiếm Thông oai danh lừng lẫy. Trên từ Kiều Phong và các trưởng lão, dưới đến các đệ tử ai ai cũng đều chịu ơn ông. Bang chúng Cái Bang tuy hiếu kỳ thật nhưng nghe nói chuyện này có liên quan đến thanh danh Uông bang chủ, không một ai dám hỏi thêm.
Trí Quang lại kế tiếp: “Ba người chúng ta thương nghị một hồi, trong lòng ai nấy đều bán tín bán nghi nên quyết định tạm tha mạng cho đứa hài nhi Khất Đan, trước hết đến chùa Thiếu Lâm nghe ngóng động tĩnh đã, nếu như võ sĩ Khất Đan có đến tấn công thực bấy giờ sẽ giết đứa trẻ cũng chưa muộn. Bọn ta chạy suốt ngày đêm ngựa không ngừng vó, đến chùa Thiếu Lâm rồi thấy các lộ anh hùng đến đây tiếp tay cũng không ít. Việc này liên quan đến an nguy sống chết của hàng nghìn hàng vạn bách tính Thần Châu, chỉ cần tin tức loan ra là ai ai cũng muốn đóng góp chút công lao.”
Trí Quang chậm rãi đưa mắt từ trái sang phải nhìn khắp mọi người nói tiếp: “Cuộc tụ hội ở chùa Thiếu Lâm năm đó qui tụ vô số võ lâm tiền bối, chẳng cần phải tường thuật chi tiết làm gì. Tất cả cẩn thận phòng bị, canh gác chặt chẽ, anh hùng các nơi đến tiếp viện mỗi lúc một đông. Cứ như thế từ tiết Trùng Dương tháng chín đến tháng chạp, hơn ba tháng trời chẳng thấy tăm hơi gì, mới định đi kiếm kẻ đưa tin kia để chất vấn thì không sao tìm thấy y được nữa. Bọn ta lúc ấy mới nghĩ rằng tin kia là giả, bị người ta đánh lừa. Trận chiến ở ngoài Nhạn Môn Quan hai bên chết uổng không ít.”
“Thế nhưng chẳng bao lâu, quân thiết kỵ Khất Đan lại xâm phạm, tấn công Hà Bắc nên việc võ sĩ Khất Đan có đến tấn công chùa Thiếu Lâm nữa hay không chẳng ai còn để ý nữa. Bọn chúng đến hay không đến cũng chẳng sao, dù gì thì người Khất Đan cũng là kẻ tử thù của Đại Tống.”
“Thủ lĩnh đại ca, Uông bang chủ và ta ba người đối với chuyện ngoài ải Nhạn Môn có phần hổ thẹn nên chỉ kể lại với phương trượng chùa Thiếu Lâm và báo tin cho thân nhân những anh em tử nạn, ngoài ra không hé răng với một ai. Đứa bé Khất Đan thì đem gửi nuôi tại nhà một nông dân dưới chân núi Thiếu Thất. Việc đã lỡ rồi, xử trí đứa hài nhi đó thế nào cũng thật là nan giải. Bọn ta đối với cha mẹ nó quả là tàn nhẫn nên không đành lòng giết nó. Thế nhưng nếu nuôi nó lớn khôn mà người Khất Đan đã thành kẻ tử thù của chúng ta thì phỏng có khác gì dưỡng hổ di hoạn? Về sau thủ lĩnh đại ca giao cho nhà nông đó một trăm lạng bạc, nhờ họ nhận thằng bé Khất Đan làm con, khi nó lớn lên tuyệt đối không cho nó biết gốc gác của nó. Vợ chồng họ vốn không có con, lập tức vui mừng nhận lời ngay. Hai người đó cũng chẳng biết đứa trẻ là nòi giống Khất Đan, vì khi chúng ta đem nó tới núi Thiếu Thất, trên đường đã thay quần áo như trẻ con người Hán rồi. Người dân Đại Tống thù hận Liêu cẩu tới xương tủy, nếu thấy hài nhi mặc y phục Khất Đan thể nào cũng làm hại nó…”
Kiều Phong nghe đến đây đã đoán ra được tám chín phần, run run hỏi: “Trí Quang đại sư, thế… thế người nhà nông dưới chân núi Thiếu Thất ấy, y… y… họ gì?”
Trí Quang đáp: “Chắc bang chủ cũng đoán được rồi, ta chẳng giấu làm chi. Người đó họ Kiều, tên là Tam Hòe.”
Kiều Phong bàng hoàng kêu lên: “Không? Không! Đại sư chớ có nói láo, dựng chuyện ra để vu hãm cho ta. Ta đường đường là người Hán, sao lại là quân mọi rợ Khất Đan được? Tam Hòe công là… là… gia gia thân sinh ra ta, đại sư chớ có nói bậy…” Đột nhiên chàng nhảy xổ đến trước mặt Trí Quang, tay trái chộp luôn ngực ông ta.
Đơn Chính và Từ trưởng lão cùng xông vào cứu, miệng la lên: “Không được!” Kiều Phong thân thủ cực nhanh, tay vẫn xách nhà sư nhảy tránh sang một bên.
Con trai Đơn Chính là Đơn Trọng Sơn, Đơn Thúc Sơn, Đơn Qui Sơn ba người cùng xông lên phía sau Kiều Phong. Chàng chỉ dùng tay phải lần lượt chộp được Đơn Thúc Sơn rồi Đơn Trọng Sơn vứt ra ngoài xa, còn lần thứ ba thì nắm lấy Đơn Quí Sơn quảng xuống đất, giơ chân đạp lên cổ y.
Đơn Thị Ngũ Hổ tiếng tăm lừng lẫy một dải Sơn Đông, năm anh em thành danh cũng đã lâu chứ nào phải hạng công tử nhà giàu ỷ thế cha, thế mà Kiều Phong tay trái cầm Trí Quang, tay phải liên tiếp chộp người, quăng ba đại hán nhà họ Đơn như liệng bù nhìn rơm, chẳng ai chống cự được mảy may. Mọi người trông thấy đều hết hồn, miệng há hốc ra.
Đơn Chính và Đơn Bá Sơn, Đơn Tiểu Sơn cốt nhục tình thâm cũng muốn xông lên cứu viện nhưng thấy Kiều Phong đạp chân lên đầu Đơn Quí Sơn, biết rõ thần lực của chàng ghê gớm, chỉ ấn một cái là y vỡ sọ mất mạng. Vì thế mà ba cha con Đơn Chính phải dừng chân không dám tiến lại gần. Đơn Chính kêu lên: “Kiều bang chủ, có gì thì nói chuyện phải trái với nhau, không nên mạnh tay. Nhà họ Đơn chúng tôi với bang chủ không thù không oán, xin tha cho con tôi.” Đến như Thiết Diện Phán Quan mà cũng phải ngỏ lời van xin Kiều Phong!
Từ trưởng lão nói: “Kiều bang chủ, Trí Quang đại sư được mọi người trên giang hồ kính ngưỡng, chớ nên hại mạng ông ta.”
Bầu máu nóng của Kiều Phong sôi lên, lớn tiếng nói: “Đúng lắm, Kiều Phong này cùng nhà họ Đơn không thì không oán, lại hằng kính ngưỡng Trí Quang đại sư, Các ngươi… các ngươi muốn phế bỏ chức vị bang chủ của ta thì ta bưng hai tay trao lại, việc gì phải bịa chuyện khinh miệt ta? Kiều mỗ… đã làm chuyện gì xấu xa mà các ngươi phải bức bách ta đến thế?” Mấy câu sau chàng nói giọng nghẹn ngào, làm người nghe ai cũng đồng tình.
Tiếng xương cốt trong người Trí Quang bỗng kêu răng rắc, mọi người biết tính mạng đại sư chỉ trong đường tơ kẽ tóc, sống chết tùy thuộc vào ý niệm của Kiều Phong. Ngoài tiếng gió thổi ngọn cây rì rào, tiếng giun dế sột soạt trong đám cỏ, tiếng thở của mọi người, không một ai dám lên tiếng.
Một hồi sau, Triệu Tiền Tôn đột nhiên cười khẩy, nói: “Tức cười ơi là tức cười! Người Hán thì đã hơn gì ai, mà người Khất Đan thì cũng đâu phải là heo chó? Hiển nhiên là người Khất Đan, sao lại cố mạo nhận mình là người Hán, có gì đáng tự hào dâu? Đến cha mẹ thân sinh cũng không thèm nhận, thật uổng cái danh nam tử hán đại trượng phu.”
Kiều Phong trợn mắt, hầm hầm hỏi lại: “Phải chăng tiền bối bảo Kiều mỗ là người Khất Đan?” Triệu Tiền Tôn đáp: “Ta làm sao chắc được. Có điều trong trận chiến ngoài Nhạn Môn Quan, gã võ sĩ Khất Đan kia hình dáng mặt mày giống hệt ngươi. Hôm đó Triệu Tiền Tôn này sợ đến xiêu hồn bạt vía, vỡ mật vỡ gan cho nên một trăm năm nữa ta vẫn nhớ rõ tướng mạo kẻ đối đầu. Trí Quang đại sư ôm đứa trẻ Khất Đan về, chính mắt ta trông thấy. Triệu Tiền Tôn ta có khác gì xác chết biết đi, trên thế gian này ngoài Tiểu Quyên ra chẳng còn nhớ tới một ai, cũng chẳng còn nhớ chuyện gì. Ngươi làm hay không làm bang chủ Cái Bang có liên quan đếch gì tới ta, việc quái gì ta phải vu hãm cho ngươi? Giả tỷ ta bịa ra chuyện năm xưa có tham dự việc giết hại cha mẹ ngươi thì được cái mẹ gì? Kiều bang chủ, võ công Triệu Tiền Tôn này so với ngươi thì kém xa, nếu như ta không muốn sống thì chẳng lẽ đến tự sát cũng không biết hay sao?”
Kiều Phong chầm chậm buông Trí Quang đại sư xuống, đầu ngón chân hất một cái, thân thể to lớn của Đơn Quí Sơn văng ra, rơi xuống đất nghe đánh bịch. Đơn Quí Sơn nhún một cái đã đứng dậy ngay được, không bị thương tích gì. ,
Kiều Phong chằm chặp nhìn Trí Quang, thấy ông thần sắc thản nhiên, tuyệt không có vẻ gì giả vờ hay gian dối, bèn hỏi: “Thế rồi sao nữa?” Trí Quang đáp: “Về sau thì các hạ tự biết rồi. Năm lên bảy tuổi các hạ đi hái hạt dẻ trong núi bị một con chó sói rượt, được một nhà sư chùa Thiếu Lâm cứu thoát, giết con ác thú rồi trị thương cho, sau đó ngày ngày đến dạy võ, có đúng thế không?”
Kiều Phong đáp: “Đúng vậy! Thì ra chuyện này đại sư cũng biết.” Khi Huyền Khổ đại sư của chùa Thiếu Lâm truyền thụ võ công cho Kiều Phong có dặn chàng không được tiết lộ cho ai biết, trên giang hồ ai cũng tưởng Kiều Phong là đệ tử đích truyền của Uông bang chủ Cái Bang, có biết đâu ông ta và chùa Thiếu Lâm có liên hệ sâu xa.
Trí Quang nói: “Nhà sư Thiếu Lâm đó được thủ lĩnh đại ca ủy thác việc dạy dỗ các hạ từ bé cho khỏi lầm đường lạc lối. Vì việc này, ta và thủ lĩnh đại ca cùng Uông bang chủ ba người đã tranh luận sôi nổi. Ta bảo là cứ để cho các hạ sống bình thường, làm ruộng kiếm ăn, đừng học võ để khỏi bị lôi kéo vào ân oán giang hồ. Thủ lĩnh dại ca bảo nếu làm như vậy thì có điều hối hận với lệnh song đường, nên phải nuôi dưỡng giáo huấn để các hạ trở nên một vị đại anh hùng.”
Kiều Phong nói: “Các vị… các vị tiền bối sao lại có điều hối hận với song thân tại hạ? Người Hán và người Khất Đan giết hại lẫn nhau là chuyện bình thường, chả có gì mà phải hối hận.” Trí Quang thở dài, nói: “Di văn trên vách đá ngoài Nhạn Môn Quan đến nay chắc vẫn chưa mờ, sau này các hạ ra đó mà xem. Thủ lĩnh đại ca đã có chủ ý, Uông bang chủ cũng ngả theo, một mình ta không cãi lại được. Đến khi các hạ mười sáu tuổi mới được Uông bang chủ thu làm đồ đệ, rồi về sau biết bao nhiêu cơ duyên gặp gỡ. Dĩ nhiên là các hạ thiên tư trác tuyệt, người thường không sao theo kịp, thế nhưng nếu không có thủ lĩnh đại ca và Uông bang chủ đứng sau giúp đỡ e rằng cũng không dễ dàng đến thế.”.
Kiều Phong cúi đầu ngẫm nghĩ, nhớ lại cuộc đời mình gặp biết bao nguy nan song lần nào cũng đổi dữ ra lành, chưa gặp chuyện gì quá đau đớn nặng nề, lại biết bao cơ duyên đưa đẩy không cầu mà được. Trước đây chàng vẫn tưởng mình có phúc tinh chiếu mệnh, bây giờ nghe Trí Quang đại sư nói mới hiểu có người giấu mặt giúp đỡ mà mình tuyệt nhiên không hay biết gì. Trong lòng chàng lại bàng hoàng tự hỏi: “Nếu đại sư nói thật thì ta là người Khất Đan chứ đâu phải người Hán? Uông bang chủ không phải ân sư của ta mà là kẻ thù giết cha giết mẹ. Bậc tiền bối đứng sau lưng ám trợ ta cũng nào phải tốt lành gì, chẳng qua thẹn với lương tâm nên tìm cách chuộc tội đấy thôi. Không, không! Giống Khất Đan hung tàn bạo ngược là tử thù của người Hán chúng ta, ta làm sao có thể là quân mọi rợ được?”.
Lại nghe Trí Quang kể tiếp: “Uông huynh lúc đầu vẫn gia tâm đề phòng, nhưng về sau thấy các hạ học và tiến bộ thật nhanh, khẳng khái hào hiệp, đối với người thì nhân hậu, đối với ông ta thì kính cẩn tôn sùng, nên dần dần đem lòng yêu mến. Về sau các hạ công phu mỗi lúc một nhiều, uy danh mỗi lúc một lớn, trong Cái Bang ai nấy đều kính phục, ngay cả người ngoài bang cũng biết chắc chức vị bang chủ về ai. Thế nhưng Uông huynh vẫn dùng dằng chưa quyết, cũng chỉ vì các hạ dòng giống Khất Đan. Ông ta thử các hạ ba việc khó đều hoàn thành chu đáo, đến khi lập được bảy công lao mới đem Đả Cẩu Bổng pháp ra truyền thụ. Năm đó Thái Sơn đại hội, các hạ đánh bại chín kẻ cường địch, khiến cho Cái Bang uy chấn thiên hạ, ông ta mới hết do dự mà lập các hạ làm bang chủ. Cứ như lão nạp biết, trong mấy trăm năm qua, chưa có vị nào tiếp nhiệm bang chủ Cái Bang mà phải trải qua biết bao gian nan thử thách như các hạ.”
Kiều Phong cúi đầu đáp: “Tại hạ vẫn tưởng ân sư Uông bang chủ có ý rèn luyện, bắt tại hạ phải trải qua nhiều gian khổ để có thể đảm đương việc lớn, có ngờ đâu… Có ngờ đâu…” Lúc này trong lòng Kiều Phong mười phân đã tin đến tám.
Trí Quang nói: “Ta cũng chỉ biết tới đó mà thôi. Các hạ đứng ra làm bang chủ Cái Bang rồi, trên giang hồ ai cũng bảo bang chủ hành hiệp trượng nghĩa, tạo phúc cho lê dân, xử sự công chính, chỉnh đốn Cái Bang trở nên hưng vượng, ta trong lòng cũng mừng thầm. Lại nghe bang chủ mấy lần phá hỏng gian mưu, giết được vô số nhân vật anh hùng của Khất Đan, cái điều cố kỵ dưỡng hổ di hoạn năm xưa thành ra chuyện người nước Kỷ lo trời sập. Việc này kể ra vĩnh viễn chẳng nên nhắc tới nữa, mà không biết ai lại khuấy lên. Việc này có hay ho gì cho cả Cái Bang lẫn thân danh bang chủ đâu?” Nói tới đây ông thở dài một tiếng, sắc mặt buồn rười rượi.
Từ trưởng lão nói: “Đa tạ Trí Quang đại sư đã thuật lại vụ này một cách thật rành mạch, khiến cho ai nấy tưởng như chính mắt nhìn thấy. Còn phong thư này…” Trưởng lão đưa phong thư ra, nói tiếp: “… là do vị thủ lĩnh đại ca kia viết cho Uông bang chủ, trong thư hết sức ngăn trở Uông bang chủ không nên truyền ngôi vị cho Kiều Phong. Kiều bang chủ chắc không ngại xem qua cho biết.” Nói xong đưa lá thư ra cho chàng.
Trí Quang nói: “Để ta xem trước, có phải thư thật hay là thư giả?” Nói xong đại sư đưa tay đón lá thư đọc qua một lượt rồi nói: “Đúng vậy, quả nhiên là thủ bút của thủ lĩnh đại ca.” Ông ta vừa nói vừa dùng ngón tay xé ngay chỗ ký tên ở cuối lá thư bỏ vào mồm, lưỡi cuốn một cái nuốt chửng vào bụng.
Khi Trí Quang xé lá thư, ông đã tiến tới gần đống lửa thêm mấy bước cách Kiều Phong khá xa, lại vờ như không đủ ánh sáng nên đưa tờ giấy lên gần mắt, lá thư đã kề tới miệng. Kiều Phong không ngờ vị lão tăng đức cao vọng trong kia cũng biết giảo hoạt, giận dữ gầm lên một tiếng, tay trái cách không điểm ra trúng ngay huyệt đạo nhà sư, tay phải giật tờ giấy nhưng vẫn chậm mất một chút, chỗ ký tên ở cuối lá thư đã bị nuốt mất rồi. Kiều Phong đành giải huyệt cho ông ta, hậm hực hỏi: “Đại sư… đại sư làm gì vậy?”
Trí Quang mỉm cười nói: “Kiều bang chủ, một khi đã biết rõ thân thế mình rồi tất nhiên muốn báo thù cho cha mẹ. Uông bang chủ đã qua đời khỏi cần nói tới, còn tên tuổi vị thủ lĩnh đại ca này, lão nạp không muốn cho các hạ biết. Năm xưa lão nạp cũng có tham dự vụ phục kích lệnh tôn lệnh đường, bao nhiêu tội nghiệt xin một mình gánh chịu, thí chủ muốn lóc thịt lột da gì cũng được, xin cứ hạ thủ.”
Kiều Phong thấy ông ta lông mày rủ xuống, đứng cúi đầu, thần sắc thật trang nghiêm. Tuy chàng trong lòng bi phẫn nhưng cũng cảm thấy kính trọng, bèn nói: “Việc thực hay hư, lúc này Kiều mỗ chưa dám chắc. Muốn giết đại sư đâu phải chỉ một lúc này mà thôi.” Nói xong chàng đưa mắt nhìn sang Triệu Tiền Tôn.
Triệu Tiền Tôn nhún vai, dường như không coi vào đâu, nói: “Quả đúng như thế! Ta cũng dính líu vào vụ này, món nợ này ta cũng chịu một phần. Khi nào ngươi thích thì cứ ra tay giết ta.”
Đàm công lớn tiếng nói: “Kiều bang chủ, việc gì cũng nên suy nghĩ cho kỹ, hành sự không nên cẩu thả. Nếu bang chủ xét đến việc phân tranh Hồ Hán, hết thảy hào kiệt Trung Nguyên ai ai cũng là địch cả.” Triệu Tiền Tôn tuy là tình địch của ông ta nhưng bây giờ ông lại lên tiếng che chở.
Kiều Phong chỉ cười nhạt, ruột rối như tơ vò, không biết đáp thế nào cho phải. Ông cầm tờ giấy soi vào ánh lửa mà đọc:
Kiếm Nhiêm huynh đệ! |
Đàm luận mấy đêm, cái ý truyền ngôi của huynh đệ vẫn không thay đổi. Mấy bữa nay ta càng nghĩ kỹ, thấy rằng việc đó quả không nên. Kiều quân tài nghệ siêu quần, công lao vĩ đại, lại là người nhiệt huyết can đảm, không chỉ trong quí bang không ai bằng mà đến võ lâm đồng đạo khắp cõi Thần Châu cũng ít người sánh kịp.
Tài đức đó mà kế thừa chức vị của huynh đệ, rồi đây thanh danh Cái Bang ngày càng vang dội là điều không còn ngờ gì nữa.
Kiều Phong đọc đến đây thấy vị tiền bối này hết sức coi trọng mình, không khỏi trong lòng cảm kích, lại đọc tiếp đoạn dưới:
Thế nhưng trận huyết chiến ngoài Nhạn Môn Quan thật là kinh tâm động phách, ta vẫn ngày ngày canh cánh không quên. Đứa trẻ đó không phải cùng tộc loại với mình, cả cha lẫn mẹ đều chết dưới tay của chúng ta. Mai đây nếu y không biết gốc gác của mình thì không nói làm gì, còn không thì Cái Bang sẽ bị một tay y tiêu diệt, võ lâm Trung Nguyên sẽ gặp kiếp nạn to lớn. Đời nay kẻ có võ công ngang ngửa với đứa trẻ năm xưa, thực chẳng một ai. Việc nội bộ của quí bang, đáng lẽ người ngoài không nên xen vào, nhưng huynh đệ với ta giao tình chẳng phải bình thường, việc này lại liên quan quá lớn, mong suy nghĩ cho thật kỹ…
Cuối thư, chỗ người viết ký tên đã bị Trí Quang xé mất rồi.
Từ trưởng lão thấy Kiều Phong đọc xong đứng đờ đẫn không nói lời nào, bèn đưa thêm một tờ giấy khác mà nói: “Đây là thư của Uông bang chủ, chắc bang chủ nhận được bút tích.” Kiều Phong đón lấy thư xem. Trong thư nói:
Truyền cho Cái Bang Mã phó bang chủ, Truyền Công trưởng lão, Chấp Pháp trưởng lão cùng tất cả các trưởng lão. Kiều Phong mà có hành vi thân Liêu phản Hán, giúp Khất Đan chống lại nhà Đại Tống thì toàn bang phải lập tức hợp lực giết y ngay, không được bỏ lỡ. Hạ độc, hành thích tất cả đều dùng được, người hạ thủ có công chứ không có tội. Uông Kiếm Thông thủ bút.
Bên dưới có ghi rõ ngày tháng: Đại Tống Nguyên Phong năm thứ sáu, tháng năm, mồng bảy. Kiều Phong nhớ thật rõ ràng, đây chính là ngày mình tiếp nhiệm bang chủ Cái Bang.
Mấy hàng chữ này đích thị ân sư Kiếm Thông thủ bút, quả không còn hoài nghi gì nữa. Chàng nghĩ đến ân sư xem mình chẳng khác gì con ruột, dạy dỗ đã nghiêm mà cũng yêu thương tha thiết, ngờ đâu đúng ngày mình tiếp nhiệm bang chủ Cái Bang lại ngấm ngầm viết tờ di lệnh này. Chàng thấy trong lòng chua xót, nước mắt chảy ròng ròng, từng giọt từng giọt rơi xuống thủ dụ của Uông bang chủ đang cầm trên tay.
Từ trưởng lão chậm rãi nói: “Kiều bang chủ đừng trách chúng tôi vô lễ. Tờ thủ dụ này của Uông bang chủ vốn chỉ một mình Mã phó bang chủ biết được mà lại giấu thật kỹ, xưa nay chưa hề nói với ai. Trong những năm qua, bang chủ hành sự quang minh lỗi lạc, không hề có chuyện thông Liêu phản Tống, trợ Khất Đan để áp bức người Hán, thế thì di lệnh của Uông bang chủ không cần phải dùng đến. Đến khi Mã phó bang chủ đột nhiên chết thảm, Mã phu nhân mới tìm thấy tờ di lệnh này. Mọi người ai nấy đều nghi Mã phó bang chủ bị Cô Tô Mộ Dung giết hại, nếu bang chủ vì Đại Nguyên huynh đệ mà báo thù thì thân thế lai lịch của bang chủ quyết không ai nhắc đến. Lão hủ suy nghĩ đã nhiều, vì đại cục đã định đem lá thư này cùng di lệnh của Uông bang chủ mà hủy đi, có điều… có điều…” Lão nói đến đây đưa mắt nhìn Mã phu nhân nói: “Một là Mã phu nhân đau lòng muốn báo thù chồng, không thể để Đại Nguyên huynh đệ oan chìm đáy bể, chết không nhắm mắt. Hai là Kiều bang chủ lại bảo vệ cho người Hồ, việc làm xem ra nguy hại cho bản bang…”
Kiều Phong ngạc nhiên hỏi lại: “Kiều mỗ bảo vệ cho người Hồ ư? Chuyện đó ở đâu mà ra?”
Từ trưởng lão đáp: “Hai chữ Mộ Dung vốn là họ của người Hồ. Họ Mộ Dung là hậu duệ giống Tiên Ti, với Khất Đan cũng đều là Hồ Lỗ Di Địch ở ngoài quan ải cả.” Kiều Phong đáp: “Thì ra là thế. Tại hạ nào có biết?” Từ trưởng lão tiếp tục: “Thứ ba, việc Kiều bang chủ là người Khất Đan nhiều anh em trong bang đã biết rồi, biến loạn đã sinh, giấu giếm cũng không ích lợi gì nữa.”
Kiều Phong ngửa mặt lên trời thở dài một tiếng, những nghi nan nặng trĩu trong lòng từ chập tối đến bây giờ mới hiểu. Chàng quay sang hỏi Toàn Quan Thanh: “Phải chăng người biết ta là dòng dõi Khất Đan cho nên bội phản?” Toàn Quan Thanh đáp: “Đúng thế!” Kiều Phong hỏi thêm: “Tống Hề Trần Ngô bốn đại trưởng lão tin theo lời ngươi, muốn giết ta cũng vì thế phải không?” Toàn Quan Thanh đáp: “Không sai! Nhưng mấy vị đó còn bán tín bán nghi nên chủ ý chưa nhất quyết, lúc việc tới nơi lại rụt đầu rụt cổ.” Kiều Phong hỏi: “Về gốc gác thân thế ta, ngươi từ đâu mà biết được?” Toàn Quan Thanh đáp: “Việc này có liên quan đến người ngoài, xin tha thứ cho tại hạ không thể đáp lời. Bang chủ cũng nên hiểu rằng cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra, túi giấy không gói được lửa, dù bang chủ có kín đáo cách nào rồi cũng có người biết đến. Chấp Pháp trưởng lão cũng đã biết rồi.”
Trong đầu Kiều Phong lúc này biết bao ý niệm dâng lên chẳng khác gì những đợt thủy triều tiếp nối nhau, khi thì nghĩ rằng: “Bọn chúng nổi lòng đố kỵ, đặt ra những chuyện hoang đường vu hãm cho ta. Kiều Phong này dù thân cô thế cô nhưng cũng quyết chiến đấu tới cùng, không chịu khuất phục”. Thế rồi chàng lại nghĩ: “Thủ dụ của ân sư quả thực rõ ràng. Trí Quang đại sư đức cao vọng trọng, đối với ta không thù oán, việc gì phải bày quỉ kế? Từ trưởng lão là nguyên lão trọng thần của bản bang, lẽ nào lại có ý muốn khuynh loát bản bang? Thiết Diện Phán Quan, Đàm công, Đàm bà là những bậc tiền bối có tên tuổi trong võ lâm, gã Triệu Tiền Tôn kia tuy dở điên dở dại nhưng cũng không phải là hạng tầm thường. Tất cả bọn họ đều một lời nhất nhất như thế, lẽ nào còn giả được?”.
Quần cái nghe Trí Quang cùng Từ trưởng lão nói ra như thế, nhốn nháo cả lên. Nhiều người đã từng nghe nói Kiều Phong là dòng giống Khất Đan nhưng chỉ bán tín bán nghi, còn đa số bây giờ mới biết. Ai nấy đều thấy chứng cớ rõ ràng, ngay cả Kiều Phong dường như cũng đã tin là chuyện thật. Kiều Phong trước nay đối với thuộc hạ rất có ân nghĩa, tài đức võ công ai nấy đều khâm phục, có ai ngờ lại là con cháu giống Khất Đan. Liêu quốc và Đại Tống cừu oán thực sâu xa, bao nhiêu năm qua đệ tử Cái Bang chết về tay người Liêu không biết bao nhiêu mà kể. Để cho một người Khất Đan làm bang chủ Cái Bang thì không thể được. Thế nhưng công nhiên trục xuất chàng ra khỏi bang thì bất luận là ai cũng không dám nói ra miệng. Nhất thời khu rừng hạnh lặng như tờ, chỉ nghe tiếng thở nặng nề của mọi người.
Đột nhiên có tiếng đàn bà trong trẻo cất lên: “Các vị bá bá, thúc thúc! Tiên phu bất hạnh qua đời, kẻ nào hạ độc thủ đến bây giờ cũng chưa điều tra được rõ. Tiên phu bình nhật là người thành thực, trung hậu, ít nói, trên giang hồ thật chẳng thù oán với ai, thiếp không hiểu được vì cớ nào mà bị người ta giết chết. Phải chăng vì tiên phu nắm giữ một vật trọng yếu, người ta không lấy được thì không yên lòng? Người ta sợ tiên phu tiết lộ cơ mật, làm hỏng việc lớn nên mới giết đi để bịt miệng chăng?” Người vừa nói chính là quả phụ của Mã Đại Nguyên là Mã phu nhân. Mấy câu đó ý tứ thật rõ ràng, dường như trỏ vào mặt Kiều Phong bảo chàng chính là thủ phạm giết chồng của thị để che đậy những chứng cứ tỏ rõ họ Kiều kia là con cháu Khất Đan.
Kiều Phong chậm rãi quay đầu lại, nhìn thẳng vào người đàn bà mặc đồ toàn trắng, thân hình nhỏ nhắn, dáng điệu ẻo lả khép nép kia, hỏi lại: “Phải chăng phu nhân nghi ngờ Kiều mỗ sát hại Mã phó bang chủ?”
Mã phu nhân trước nay vẫn mắt nhìn xuống đất, lúc này đột nhiên ngừng đầu lên nhìn thẳng vào Kiều Phong. Đôi mắt nàng trong trẻo như ngọc, lấp loáng trong đêm tối khiến Kiều Phong cũng hơi bối rối, nghe nàng nói: “Thiếp là phận nữ lưu đâu có biết gì, phải xuất đầu lộ diện thế này đã là quá rồi, còn dám buộc tội cho ai? Có điều tiên phu chết thật oan uổng, chỉ mong các vị bá bá thúc thúc nghĩ đến chút tình xưa mà tra xét cho minh bạch để báo thù rửa hận cho tiên phu.” Nàng ta nói xong quì xuống hướng về Kiều Phong khấu đầu.
Nàng không bảo thẳng Kiều Phong là hung thủ mà câu nào cũng ngụ ý ám chỉ chàng. Kiều Phong thấy nàng ta lạy mình, tức uất người nhưng không tiện phát tác, đành quì xuống hoàn lễ đáp: “Xin tẩu tẩu đứng lên.”
Trong rừng hạnh đột nhiên có tiếng một thiếu nữ hỏi: “Mã phu nhân, trong lòng tiểu nữ có một điểm nghi ngờ, liệu có thể hỏi phu nhân một câu chăng?” Mọi người quay đầu nhìn lại thấy nữ lang mặc áo màu hồng nhạt, chính là A Châu.
Mã phu nhân hỏi lại: “Cô nương có chuyện gì muốn tra vấn ta?” A Châu đáp: “Tra vấn thì quả là không dám. Tiểu nữ nghe phu nhân nói là phong di thư này được Mã tiền bối niêm phong, trước khi Từ trưởng lão mở ra thì dấu niêm vẫn còn nguyên. Thế thì trước đó chưa một ai được đọc nội dung lá thư viết gì, phải chăng?” Mã phu nhân đáp: “Chính thế!” A Châu hỏi tiếp: “Như thế thì lá thư của vị thủ lĩnh đại ca và di lệnh của Uông bang chủ, ngoài Mã tiền bối ra không một ai biết đến. Sao phu nhân lại biết nó quan trọng mà bảo người ta sát nhân diệt khẩu?” Mọi người nghe vậy ai ai cũng cho là có lý.
Mã phu nhân hỏi lại: “Cô nương là ai? Sao lại đến can thiệp vào đại sự của bản bang?” A Châu đáp: “Đại sự trong quí bang, một kẻ hèn mọn như tiểu nữ đâu dám can dự. Ngặt là các vị có ý vu hãm công tử gia nên tiểu nữ đành phải đứng ra phân biện.” Mã phu nhân hỏi lại: “Thế công tử gia của cô nương là ai? Phải chăng là Kiều bang chủ?” A Châu mỉm cười lắc đầu: “Không phải, đó là Mộ Dung công tử.”
Mã phu nhân buột miệng: “Ồ, thì ra là thế!” Nàng ta không đáp lời A Châu, quay sang nói với Chấp Pháp trưởng lão: “Bạch trưởng lão! Luật lệ bản bang rất là nghiêm ngặt. Giả tỷ chính trưởng lão phạm tội thì xử trí ra sao?” Mặt Chấp Pháp trưởng lão Bạch Thế Kính hơi giật nhẹ, lão run run đáp: “Đã biết luật mà còn phạm pháp thì tội nặng thêm một bậc.” Mã phu nhân hỏi tiếp: “Thế còn người có địa vị cao hơn trưởng lão mà phạm bang qui thì sao?” Bạch Thế Kính biết bà ta ám chỉ ai, liếc mắt nhìn Kiều Phong một cái, đáp: “Bang qui của bản bang là do tổ tông qui định, không phân thứ bậc tôn ti. Ai cũng như ai, có công thì thưởng có tội thì phạt.”
Mã phu nhân lại nói: “Cô nương đây nghi ngờ chí phải, lúc đầu tiện thiếp cũng nghĩ như thế. Thế nhưng đêm hôm trước khi được tin buồn của tiên phu, có kẻ lẻn vào nhà ăn trộm.”
Ai nấy giật mình, có kẻ hỏi ngay: “Ăn trộm ư? Có mất gì không? Có chết ai không?” Mã phu nhân đáp: “Không chết ai cả. Kẻ trộm dùng hương mê xông cho tiện thiếp và hai tì nữ ngã lăn ra, mở rương lục tủ tìm hết khắp nơi, lấy mất độ mươi lạng bạc. Ngày hôm sau thiếp nghe tin tiên phu táng mạng, đâu còn tâm trí nào mà nhớ tới chuyện trộm đạo tiền tài? Cũng may tiên phu giấu phong thư này ở một nơi cực kỳ kín đáo, kẻ trộm mới không tìm thấy để xé bỏ đi.”
Mấy câu đó lại càng rõ ràng hơn, chỉ đích danh Kiều Phong tự mình đến hay sai người đến nhà Mã Đại Nguyên trộm lá thư. Nếu chàng đã định lấy thư ắt là đã biết nội dung lá thư nói gì, âm mưu sát nhân diệt khẩu hiển nhiên đã rõ ràng. Còn như làm sao chàng biết được nội dung lá thư, rất có thể vị thủ lĩnh đại ca, Uông bang chủ hay Mã phó bang chủ sơ ý vô tình nói lộ ra.
A Châu nhất định rửa oan cho Mộ Dung công tử, cũng không muốn Kiều Phong phải liên quan, nói tiếp: “Ăn trộm vặt vào nhà lấy mươi lạng bạc cũng là chuyện thường, chẳng qua lại ngẫu nhiên đúng lúc đó thôi.” Mã phu nhân đáp: “Cô nương nói phải lắm, lúc đầu ta cũng nghĩ như thế. Thế nhưng về sau tại chỗ cửa sổ kẻ trộm trèo vào, ta có nhặt được một vật của y đánh rơi dưới chân tường trong lúc vội vàng. Ta vừa nhìn thấy vật này trong lòng hoảng sợ, biết ngay vụ này quan hệ phi thường”
Tống trưởng lão hỏi: “Phu nhân nhặt được vật gì? Tại sao lại quan hệ phi thường?” Mã phu nhân từ từ mở bọc đeo sau lưng, lấy ra một vật dài chừng bảy tám tấc, đưa cho Từ trưởng lão, nói: “Xin các vị bá bá thúc thúc chủ trì cho.” Từ trưởng lão vừa đón lấy vật đó, nàng liền phục xuống đất khóc òa lên thật thảm thiết.
Mọi người quay sang Từ trưởng lão, thấy ông ta mở vật đó ra, thì ra là một cái quạt xếp. Từ trưởng lão trầm giọng đọc bài thơ đề trên chiếc quạt: Phiêu phiêu tuyết đổ Nhạn Môn Quan, Cỏ bồng bay loạn mặt cát vàng, Nam nhi chẳng phải tham công trạng, Quyết chém Lâu Lang báo quốc ân. (Sóc tuyết phiêu phiêu khai Nhạn Môn, Bình sa lịch loạn quyển bồng căn, Công danh sỉ kế cầm sinh số, Trực trảm Lâu Lang báo quốc ân.)
Kiều Phong vừa nghe bài thơ đó kinh hoảng không biết để đâu cho hết, chăm chú nhìn chiếc quạt thấy mặt bên kia vẽ bức tranh tráng sĩ ra biên tái giết giặc, chính là vật của mình. Bài thơ do ân sư Uông Kiếm Thông viết, còn bức họa là thủ bút Từ trưởng lão. Nét vẽ tuy không khéo lắm nhưng đầy vẻ hiệp nghĩa, lộ được cái chí khẳng khái hào hùng của người tráng sĩ trong cơn gió bấc, tuyết đổ mênh mang. Cái quạt đó là quà sinh nhật ân sư tặng năm chàng hai mươi lăm tuổi, trước nay chàng vẫn coi như báu vật cất kỹ một nơi, không hiểu sao lại lạc vào trong nhà Mã Đại Nguyên? Vả lại tính tình chàng thô hào khẳng khái, có bao giờ giắt quạt trong người như bọn công tử nho sinh?
Từ trưởng lão lật qua lật lại chiếc quạt, nhìn kỹ bức tranh chính là do tay mình vẽ nên, thở dài một tiếng rồi chép miệng: “Người ta đã không cùng chủng tộc với mình, tất nhiên tâm địa phải khác. Uông bang chủ ơi là Uông bang chủ, việc này ngươi đã nhầm lẫn lớn rồi.”
Kiều Phong từ khi nghe thấy mình là dòng giống Khất Đan, trong lòng ngổn ngang trăm mối. Hơn mười năm trời, ngày nào chàng cũng chăm chăm nghĩ kế làm sao tiêu diệt nước Liêu, giết kẻ Khất Đan Hồ Lỗ. Trong đời chàng đã từng vượt qua bao nhiêu sóng to gió cả, mà nay đột nhiên gặp phải chuyện này liền luống cuống không biết phải làm sao. Thế nhưng khi Mã phu nhân liên tiếp vu cáo chàng âm mưu giết Mã Đại Nguyên, rồi chiếc quạt đột nhiên xuất hiện, tâm trí chàng có chuyện để mà suy nghĩ, chỉ một thoáng, trong lòng đã hơi bình ổn: “Có kẻ ăn cắp chiếc quạt để giá họa cho mình, chuyện này đừng hòng mà đánh ngã được ta.” Chàng quay lại nói với Từ trưởng lão: “Từ trưởng lão, cái quạt đó là của ta.”
Những người vai vế tương đối cao trong Cái Bang khi nhìn thấy chiếc quạt, nghe Từ trưởng lão đọc bài thơ đã biết ngay là của Kiều Phong, còn bang chúng thì chưa ai hay, đến khi nghe Kiều Phong tự nhận ai nấy đều kinh ngạc.
Từ trưởng lão trong lòng cũng hết sức xúc động, hồi lâu mới lẩm bẩm: “Uông bang chủ coi ta là kẻ tâm phúc, vậy mà bí mật để lại di thư cũng chẳng cho ta biết.”
Mã phu nhân đứng thẳng người lên nói: “Từ trưởng lão, Uông bang chủ không nói cho trưởng lão biết thế là may đó!” Từ trưởng lão không hiểu, hỏi lại: “Sao thế?” Mã phu nhân buồn bã đáp: “Trong Cái Bang chỉ một mình Đại Nguyên biết nên mới chết thảm. Giả tỷ trưởng lão,.. cũng biết trước thì biết đâu khó tránh được kiếp nạn này.”
Kiều Phong dõng dạc hỏi: “Các vị có điều gì muốn nói nữa không?”. Chàng đảo mắt nhìn từ Mã phu nhân qua Từ trưởng lão rồi đến các trưởng lão Chấp Pháp, Truyền Công một lượt. Ai nấy đều lặng thinh không đáp.
Chờ một hồi không thấy ai lên tiếng, chàng liền nói: “Lai lịch thân thế Kiều mỗ thật đáng hổ thẹn, chính Kiều mỗ lại không hay biết. Nhưng đã có nhiều vị tiền bối đưa ra chứng cớ, Kiều mỗ không dám phủ nhận, sẽ hết sức tìm hiểu chân tướng thế nào. Kiều mô xin thoái vị bang chủ Cái bang để nhường lại cho bậc hiền tài khác.” Nói đến đây chàng đưa tay tháo chiếc túi dài đeo bên chân phải, lấy ra một cây gậy trúc xanh biếc bóng loáng như ngọc, chính là Đả Cẩu Bổng, tín vật của bang chủ Cái Bang. Kiều Phong hai tay nâng cây gậy lên cao, nói: “Cây bổng này Kiều mỗ được Uông bang chủ trao cho để chấp chưởng Cái Bang, tuy chẳng có công trạng gì nhưng cũng không phạm lỗi lớn. Nay Kiều mỗ thoái vị, bậc hiền tài nào muốn ra gánh lấy trách nhiệm thì xin nhận lấy cây bổng này!”
Qui củ của Cái Bang từ trước tới nay, người nào tiếp nhiệm chức vụ bang chủ phải được bang chủ tiền nhiệm trao Đả Cẩu Bổng cho, trước đó đã phải dạy Đả Cẩu Bống pháp. Cũng có khi cựu bang chủ đột ngột qua đời, nhưng người kế thừa đã dự lập rồi, Đả Cẩu Bổng pháp cũng đã truyền thụ thành thử chức vụ bang chủ chưa từng tranh chấp. Kiều Phong đang tuổi tráng niên, chắc cũng phải hai chục năm nữa mới tính tới việc tuyển chọn trong bang một kẻ thiếu niên anh hiệp mà truyền thụ bổng pháp. Bây giờ mọi người trong Cái Bang thấy Kiều Phong tay nâng cây bổng, khí khái hiên ngang đứng trước mọi người, chẳng ai dám bước ra nhận lấy.
Kiều Phong hỏi luôn ba câu, thủy chung không ai đáp, liền nói: “Kiều mỗ thân thế chưa minh bạch, chức vị bang chủ dù sao cũng không thể đảm đương được nữa. Từ trưởng lão cùng Truyền Công, Chấp Pháp hai vị trưởng lão, vật trấn bang chi bảo Đả Cẩu Bổng này xin ba vị tạm giữ. Về sau khi định được ngôi bang chủ, ba vị trao lại cũng không muộn.”
Từ trưởng lão nói: “Như vậy cũng phải. Còn Đả Cẩu Bổng pháp chúng ta sẽ bàn đến sau.” Lão tiến lên toan nhận lấy chiếc gậy. Tống trưởng lão đột nhiên lớn tiếng nói: “Hãy khoan!” Từ trưởng lão ngạc nhiên dừng lại hỏi: “Tống huynh đệ có chuyện gì muốn nói” Tống trưởng lão nói: “Mỗ thấy Kiều bang chủ không phải người Khất Đan.” Từ trưởng lão hỏi lại: “Sao vậy?” Tống trưởng lão đáp: “Mỗ xem ông ta không giống.” Từ trưởng lão ngạc nhiên: “Sao lại không giống?” Tống trưởng lão đáp: “Người Khất Đan cùng hung cực ác, tàn bạo âm độc. Kiều bang chủ là anh hùng hảo hán đại nhân đại nghĩa. Mới rồi bọn ta phản bang chủ, bang chủ lại tự đâm chảy máu để xá tội phản nghịch cho mọi người. Thử hỏi người Khất Đan có hành vi anh hùng như thế chăng?”.
Từ trưởng lão nói: “Y từ bé được cao tăng chùa Thiếu Lâm và Uông bang chủ dưỡng dục, nên đã biến cải được tập tính hung tàn của người Khất Đan rồi.”
Tống trưởng lão cãi: “Nếu tập tính đã thay đổi thì đâu còn là người xấu nữa, làm bang chủ của chúng ta có gì là không được? Tống mỗ thấy trong bang không có ai anh hùng như Kiều bang chủ. Nếu người khác làm bang chủ, họ Tống này không phục.”
Những người cùng chung suy nghĩ như Tống trưởng lão cũng khá đông. Kiều Phong ân đức thấm nhuần, nay chỉ bằng mấy lời nói, mấy tờ giấy đã bị truất ngôi bang chủ, rất nhiều bang chúng vẫn tận trung với chàng lấy làm bất phục. Tống trưởng lão đứng đầu nói ra chuyện đó, lập tức có mấy chục người nhao nhao lên: “Có kẻ âm mưu hãm hại Kiều bang chủ, chúng ta chớ nên nhẹ dạ tin người.” “Chuyện qua đã mấy chục năm, chỉ bằng mấy lời nói vu vơ của vài người, ai biết là thực hay giả?” “Việc thay đổi ngôi chúa tể bản bang đâu có thể dễ dàng như thế được?” “Ta nhất tâm theo Kiểu bang chủ, muốn thay bang chủ khác, ta có bị chặt đầu cũng không phục.”
Hề trưởng lão hô to: “Ai ủng hộ Kiều bang chủ thì theo ta đứng sang bên này.” Ông ta tay trái kéo Tống trưởng lão, tay phải kéo Ngô trưởng lão đi qua phía đông. Kế đó ba đà chủ Đại Nhân, Đại Tín, Đại Nghĩa phân đà cũng bước sang. Các đà chủ đã qua rồi, thuộc hạ bang chúng cũng ào ào đi theo. Toàn Quan Thanh, Trần trưởng lão, Truyền Công trưởng lão cùng Đại Trí, Đại Dũng hai đà chủ đứng nguyên tại chỗ không nhúc nhích. Thế là Cái Bang biến thành hai phe, phía bên đông phải đến năm phần, ba phần đứng yên, còn lại thì do dự không biết phải theo bên nào. Chấp Pháp trưởng lão Bạch Thế Kính trước nay hành sự chém đinh chặt sắt, nói một là một nói hai là hai, lúc này cũng phân vân không quyết định được.
Toàn Quan Thanh nói: “Hỡi các vị huynh đệ! Kiều bang chủ tài lực hơn người, anh hùng xuất chúng, ai cũng bội phục. Song chúng ta là người Đại Tống mà lại nghe lệnh một người Khất Đan được chăng? Tài nghệ Kiều Phong càng lớn lại càng nguy hiểm cho chúng ta.”
Hề trưởng lão kêu lên: “Thối lắm! Thối lắm! Quân chó đẻ! Ta coi cái bộ dạng ngươi mười phần giống Khất Đan đến chín.” Toàn Quan Thanh lớn tiếng đáp: “Chúng ta đều là hảo hán tận trung báo quốc, lẽ nào cam tâm đi làm nô lệ, làm chó săn cho người khác giống hay sao?” Mấy câu đó của y quả là hiệu lực, trong số những người chạy sang phía đông có mươi người muốn chạy trở lại phía tây. Bang chúng ở phía đông người thì mắng nhiếc, kẻ thì lôi kéo, rối loạn cả lên. Có người lên chân xuống tay, có người cầm binh khí, mấy chục người quay ra đánh nhau túi bụi. Các trưởng lão lớn tiếng can gián anh em nhưng người nào cũng cho phần phải về mình, Ngô trưởng lão cùng Trần trưởng lão chỉ mặt nhau chửi rủa, tưởng như sắp động thủ đến nơi.
Kiều Phong bèn lên tiếng: “Anh em dừng tay nghe ta nói đây!” Giọng Kiều Phong đầy vẻ uy nghiêm, mọi người đang đánh mắng nhau lập tức đình chỉ quay lại nhìn chàng.
Kiều Phong lại dõng dạc nói: “Chức vụ bang chủ Cái Bang, ta quyết không đảm đương được nữa…” Tống trưởng lão vội ngắt lời: “Bang chủ! Bang chủ chớ có nản lòng…” Kiều Phong lắc đầu: “Không phải Kiều mỗ nản lòng. Chuyện khác thì hoặc giả có người âm mưu vu hãm, nhưng thủ bút của ân sư Kiều mỗ là Uông bang chủ thì bất luận ai cũng không thể ngụy tạo ra được.” Chàng cao giọng nói lớn: “Cái Bang là đại bang lớn nhất trên giang hồ, uy danh lừng lẫy võ lâm, có ai là không kính trọng? Nếu tự mình tàn sát lẫn nhau há chẳng khiến người ngoài phải cười đến trẹo quai hàm? Kiều mỗ trước khi chia tay xin nói một câu nữa: Nếu ai còn phóng một quyền, đá một cước vào anh em trong bang, ấy là tội nhân của bản bang đó.”
Cái Bang xưa nay vẫn coi trọng nghĩa khí, nghe chàng nói mấy câu đó không khỏi hổ thẹn. Bỗng có tiếng đàn bà cất lên: “Nếu ai giết hại anh em trong bang thì sao?” Người nói câu đó chính là Mã phu nhân. Kiều Phong đáp: “Giết người thì đền mạng, tàn hại anh em thì người đời thống mạ!” Mã phu nhân nói: “Vậy thì hay lắm!”.
Kiều Phong nói: “Mã phó bang chủ quả thực bị ai giết, kẻ nào ăn cắp cái quạt để hãm hại vu cáo, thể nào Kiều mỗ cũng phải tra xét cho tới ngọn tới ngành. Mã phu nhân! Thân thủ như họ Kiều này, nếu như muốn đến quí phủ lấy gì thì chẳng bao giờ phải về không, lại đánh rơi cả vật trong người. Đừng nói trong nhà chỉ có ba người đàn bà, dẫu là hoàng cung nội điện, trướng phủ tướng soái, trong chốn thiên quân vạn mã mà Kiều mỗ muốn lấy vật gì, vị tất đã không làm nổi?”
Mấy câu nói đó nghe thật hào hùng. Cái Bang ai cũng biết tài nghệ của chàng, đều cảm thấy thật là hữu lý, không ai dám bảo là chàng khoác lác. Mã phu nhân chỉ cúi đầu không nói gì nữa.
Kiều Phong chắp tay thi lễ với tất cả mọi người rồi nói: “Non xanh vẫn đó, nước biếc còn đây. Kiều mỗ xin tạm biệt, chúng ta còn có ngày hội ngộ. Kiều mỗ là người Hán cũng thế, mà người Khất Đan cũng thế, còn sống ngày nào quyết không tàn hại người Hán. Nếu trái lời thề thì như lưỡi dao này.” Nói xong ông quay sang phía Đơn Chính vẫy một cái trên không.
Đơn Chính chỉ thấy cổ tay tê buốt, ngón tay lỏng ra, đơn đao đã bị Kiều Phong cướp mất rồi. Chàng lấy ngón tay cái bên phải bấm vào ngón tay giữa, búng mạnh đánh “keng” một cái, thanh đao gãy đôi, mũi đao văng ra mấy thước, chuôi đao vẫn còn trong tay. Kiều Phong quay qua xin lỗi Đơn Chính, ném cán đao xuống đất, quay mình đi thẳng.
Mọi người ai nấy ngạc nhiên, có người gọi với theo: “Bang chủ khoan đi dã!” “Cái Bang trông cậy vào bang chủ chủ trương đại cuộc.” “Bang chủ mau trở lại đi!”
Nghe vù một tiếng, một chiếc gậy trúc từ trên không bay xuống, chính là Kiều Phong ném Đả Cẩu Bổng trở lại. Từ trưởng lão giơ tay đón lấy, tay phải vừa cầm vào cây bổng, tự nhiên một luồng kình lực từ bàn tay chạy lên cánh tay, lại từ cánh tay lan ra toàn thân khiến lão bị chấn động mạnh chẳng khác gì điện giật. Lão vội buông ra, dư lực của cây bổng vẫn còn, cắm sâu xuống đất.
Bang chúng Cái Bang cùng kinh hoảng kêu lên, nhìn vào bảo vật tối quan trọng của bản bang, trong lòng ngổn ngang trăm mối. Mặt trời lúc ấy vừa nhô lên, từng luồng ánh sáng rung động xuyên qua kẽ lá, rọi vào Đả Cẩu Bổng nhấp nhánh như thoa dầu.
Đoàn Dự kêu lên: “Đại ca, đại ca! Cho tiểu đệ theo với!” Chàng toan chạy theo Kiều Phong nhưng chỉ được ba bước bỗng quay lại nhìn Vương Ngữ Yên một cái. Vừa nhìn thấy mặt nàng, chân chàng đã như có nghìn vạn sợi dây tơ níu kéo không bước được nữa. Chàng quay trở lại, đến bên Vương Ngữ Yên, hỏi: “Vương cô nương! Các cô định đi đâu bây giờ?” Vương Ngữ Yên đáp: “Biểu ca bị người ta vu oan, xem chừng chính chàng cũng chưa biết, bọn ta định đi báo cho chàng hay.” Đoàn Dự tê tái trong lòng mà chẳng biết làm sao hơn, đành nói: “Ồ! Mấy cô nương nhỏ tuổi đi đường xa sao tiện, để tại hạ đưa đi.” Chàng lại thêm một câu như tự biện hộ cho mình: “Tại hạ nghe danh Mộ Dung công tử đã nhiều, cũng mong được gặp công tử một lần.”
Bỗng nghe Từ trưởng lão sang sảng nói: “Việc báo thù rửa hận cho Mã phó bang chủ chúng ta có thể để về sau sẽ bàn tính cho kỹ càng. Nhưng bản bang không thể một ngày vô chủ, Kiều… Kiều Phong đi rồi, việc kế nhiệm bang chủ không thể trì hoãn được. Nhân lúc ở đây đông đủ, ta bàn tính luôn cho được việc.”
Tống trưởng lão nói: “Cứ như ý mỗ, tất cả bọn ta đi tìm Kiều bang chủ trở về, xin bang chủ hồi tâm nghĩ lại mà đừng thoái vị…” Lão nói chưa dứt câu, bên phía tây đã có người kêu lớn: “Kiều Phong là Khất Đan Hồ Lỗ sao có thể làm thủ lĩnh bọn ta được? Hôm nay còn nghĩ tới tình cũ nghĩa xưa, lần tới gặp lại đã thành cừu địch, phải đánh nhau chí mạng mới xong.” Ngô trưởng lão cười khẩy hỏi lại: “Ngươi thử xem có đánh nhau chí mạng với Kiều bang chủ được không?” Người kia giận dữ đáp: “Mình ta không đánh được thì mười người cùng đánh, mười người không đánh được thì trăm người cùng đánh. Nghĩa sĩ ở Cái Bang tận trung báo quốc, chẳng lẽ thấy địch là rụt cổ vào?” Mấy câu của y quả là khẳng khái hiên ngang, trong đám phía tây không ít kẻ hò reo tán thưởng.
Tiếng reo hò chưa dứt bỗng phía tây bắc có tiếng người the thé nói: “Bọn Cái Bang hẹn người ta đến Huệ Sơn, bội ước không đến, thì ra thập thò ẩn nấp nơi đây. Ha ha! Buồn cười, thật là buồn cười đến nẻ ruột!” Giọng đó phát âm không rõ, tựa hồ như đầu lưỡi to quá hay là do nghẹt mũi khiến người nghe phải khó chịu.
Đại Nghĩa, Đại Dũng hai phân đà đà chủ cùng kêu “chao ôi” một tiếng, nói: “Từ trưởng lão, bọn ta lỡ lời ước hội, bọn đối đầu đã tìm đến đây rồi.”
Đoàn Dự bỗng nhớ ra, lúc ban ngày cùng Kiều Phong gặp mặt lần đầu ở quán rượu đã thấy có hai người vào báo, ước định đến sáng sớm ngày mai sẽ gặp người của Nhất Phẩm Đường nước Tây Hạ tại Huệ Sơn. Khi đó Kiều Phong xem chừng gấp quá nhưng cũng bằng lòng. Bây giờ đã qua giờ Mão, đa số người trong Cái Bang không biết có cuộc hẹn này, mà nếu có biết thì cũng đang lo việc đại sự trong bang, không còn đầu óc nào nghĩ tới ước hội nữa, bây giờ nghe đối phương mỉa mai mới giật mình nhớ lại.
Từ trưởng lão hỏi dồn: “Ước hội gì thế? Đối đầu với mình là ai?” Lão đã lâu không nghe gì đến sự vụ trong bang nên không hay biết gì cả. Chấp Pháp trưởng lão hỏi nhỏ Tưởng là chủ: “Phải chăng Kiều bang chủ đã ước hẹn với họ?” Tưởng đà chủ đáp: “Đúng thế, có điều thuộc hạ đã phụng mệnh Kiều bang chủ phái người đến Huệ Sơn yêu cầu đối phương hoãn lại bảy ngày.”
Người nói giọng khó nghe kia quả là thính tai, Tưởng đà chủ chỉ nói nhỏ mấy câu y đã nghe được, nói: “Đã hẹn là phải tới, không có lui lại bảy ngày tám ngày gì hết. Muốn hoãn lại nửa giờ ta cũng không cho.”
Bạch Thế Kính giận dữ nói: “Cái Bang chúng ta đường đường là một bang hội của Đại Tống, há sợ bọn giặc Hồ Lỗ Tây Hạ hay sao? Chỉ vì bản bang đang có việc khẩn yếu nên không thể chu toàn với bọn chuột nhắt các ngươi. Thay đổi ước hội cũng là chuyện thường, có gì mà phải la ó?”
Đột nhiên từ trong rừng hạnh có một người bay ra nằm thẳng cẳng dưới đất không cục cựa. Người đó mặt mũi máu me bê bết, cổ họng đã bị cắt đứt, tắt hơi từ bao giờ. Bang chúng Cái Bang nhận ra chính là Tạ phó đà chủ của Đại Nghĩa phân đà.
Tưởng đà chủ vừa kinh hoàng vừa tức tối nói: “Tạ huynh đệ đây mà! Tại hạ vừa được lệnh Kiều bang chủ phái y đi để thay đổi kỳ hẹn.” Chấp Pháp trưởng lão nói: “Từ trưởng lão, bang chủ không có ở đây, xin trưởng lão tạm nắm quyền bang chủ.” Ông ta không muốn tiết lộ chuyện bản bang vô chủ để khỏi bị đối phương coi nhẹ. Từ trưởng lão hiểu ý, nghĩ thầm: “Lúc này mình không đứng ra thì không có ai chủ trì đại cục”, bèn dõng dạc nói: “Người ta thường nói hai nước đang giao tranh thì không chém sứ giả. Tệ bang phái người lại xin đổi hẹn kỳ, sao lại giết y?”.
Giọng the thé kia trả lời: “Tên này kiêu ngạo phách lối lại nói năng vô lễ, vào yết kiến tướng quân bên ta không biết đường quỳ lạy, không giết còn để làm gì?”. Bang chúng nghe thế đều nổi nóng, lắm người cất tiếng la ó chửi rủa ồn cả lên.
Từ trưởng lão đến lúc này vẫn chưa biết đối phương là hạng người nào, nghe Bạch Thế Kính gọi là “Tây Hạ Hồ Lỗ”, người kia lại nói “tướng quân bên ta” khiến ông càng không biết đâu mà mò, bèn hỏi: “Ngươi đang chui rúc ở xó nào, sao không ló mặt ra đây? Cứ thập thò để nói nhăng nói cuội, đâu phải là hảo hán.” Người kia cười sằng sặc, nói: “Không biết đứa nào mới là thập thò lấp ló nơi rừng hạnh.”
Bỗng nghe đằng xa có tiếng tù và nổi lên, tiếp theo là tiếng vó ngựa từ ngoài mấy dặm vọng lại. Từ trưởng lão ghé tai hỏi nhỏ Bạch Thế Kính: “Bọn này là bọn nào? Có chuyện gì thế?” Bạch Thế Kính cũng thì thầm: “Nước Tây Hạ có một võ quán gọi là Nhất Phẩm Đường do quốc vương lập ra, chiêu nạp những tay cao thủ trong võ lâm, tiếp đãi rất trọng vọng để truyền dạy võ nghệ cho quan quân trong nước.” Từ trưởng lão gật đầu nói: “Nước Tây Hạ chỉnh đốn binh mã, luyện tập võ nghệ, chẳng phải có ý dòm ngó giang sơn nhà Đại Tống hay sao?” Bạch Thế Kính nói nhỏ: “Chính là thế đó. Những người đã vào được Nhất Phẩm Đường đều phải là võ công bậc nhất. Người cai quản Nhất Phẩm Đường là một vị vương gia, được phong tới chức Chinh Đông đại tướng quân, tên là Hách Liên Thiết Thụ gì gì đó. Bản bang có cử Dịch Đại Hổ huynh đệ qua Tây Hạ do thám tin tức, được biết gần đây Hách Liên Thiết Thụ thống lãnh dũng sĩ trong Nhất Phẩm Đường qua Biện Lương triều kiến thái hậu và hoàng thượng nhà Đại Tống chúng ta. Thế nhưng triều kiến chỉ là giả vờ, thực ra là đi do thám quân tình hư thực ra sao. Bọn chúng biết bản bang là một cột trụ của võ lâm Đại Tống nên định ra tay tiêu diệt, trước là để gây uy thế, sau là khi đưa binh xâm phạm biên giới sẽ nắm chắc phần thắng hơn.” Từ trưởng lão ngấm ngầm kinh hãi, khẽ nói: “Cái kế đó quả nhiên ác độc.”
Bạch Thế Kính lại nói: “Gã Hách Liên Thiết Thụ kia rời Biện Lương liền đến tổng đà của chúng ta ở Lạc Dương. Khi đó Kiều bang chủ dẫn tất cả anh em đi Giang Nam để báo thù cho Mã phó bang chủ nên bọn Tây Hạ phải một phen mất công không. Nhưng chúng chưa chịu thôi, lại theo xuống Giang Nam ước hẹn cùng Kiều bang chủ.”
Từ trưởng lão trầm ngâm rồi nói: “Nếu như vậy bọn chúng tính toán trước là tiêu diệt Cái Bang, không chừng sau đó sẽ tấn công chùa Thiếu Lâm rồi đánh cho các môn phái Trung Nguyên một trận tan tành.” Bạch Thế Kính nói: “Nói thì nói vậy nhưng bọn võ sĩ Tây Hạ có thực hiện được ý đồ hay không lại là chuyện khác. Kiều bang chủ có thể liệu được, tiếc rằng giữa lúc nguy cấp này…” Đang nói dở câu, lão hiểu rằng nói hết không tiện nên ngừng lại không nói nữa.
Khi đó tiếng vó ngựa đã gần, bỗng ba tiếng kèn nổi lên, tám con tuấn mã chia ra hai hàng chạy thẳng vào rừng hạnh. Tám người ngồi trên lưng ngựa đều cầm giáo dài, mũi giáo lấp lánh. Trên đầu giáo có treo một lá cờ nhỏ, bốn lá cờ bên trái có thêu hai chữ “Tây Hạ” bằng chỉ trắng, còn bên phải lại thêu hai chữ “Hách Liên”, ngoài ra còn những chữ Tây Vực ngoằn ngoèo. Kế đó lại có tám con ngựa khác chia thành hai hàng chạy vào, trên lưng ngựa bốn người thổi kèn, bốn người đánh trống.
Người của Cái Bang ai nấy cau mày, nói: “Bọn này dàn trận chẳng khác gì hai nước giao tranh, đâu có phải lề lối anh hùng hảo hán võ lâm gặp gỡ.” Theo sau đoàn kèn trống là tám võ sĩ Tây Hạ. Từ trưởng lão nhìn thoáng đã biết tám gã này đều mang võ công thượng thừa, nghĩ bụng: “Xem ra đây là những nhân vật trong Nhất Phẩm Đường”. Tám tên võ sĩ đó chia ra đứng hai bên, kế đó một người cưỡi ngựa chậm rãi đi vào. Người đó mặc cẩm bào màu đỏ, tuổi chừng ba mươi tư, ba mươi nhăm, mũi khoằm khoằm như mũi chim ưng, bộ râu mép chĩa sang hai bên. Theo sau y là một đại hán người cao lênh khênh, đặc biệt có cái mũi rất lớn. Gã mũi to vừa vào tới rừng đã quát lớn: “Chinh Đông đại tướng quân của Tây Hạ giá lâm, bang chủ Cái Bang mau ra nghênh tiếp!” Giọng nói nghe quái đản, chính là người hồi nãy mới nói chuyện.
Từ trưởng lão đáp: “Bang chủ bản bang không có đây, công việc bản bang do lão phu xử lý. Anh em Cái Bang toàn là giang hồ thảo dã, nếu tướng quân nước Tây Hạ dùng danh nghĩa quan trên để gặp gỡ thì anh em chúng tôi không dám với cao. Xin mời tướng quân đi hội diện vương công nhà Đại Tống chứ đừng đến gặp bọn ăn mày xin cơm thừa canh cặn này làm gì. Còn nếu dùng thân phận đồng đạo võ lâm gặp nhau thì tướng quân là khách phương xa, xin xuống ngựa vào đây theo lễ tân chủ.” Mấy câu nói đó không hạ mình mà cũng không ngạo mạn, không đắc tội với đối phương mà lại giữ được địa vị của mình. Bang chúng đều nghĩ thầm: “Đúng là gừng càng già càng cay, Từ trưởng lão ngoại giao thật đúng phép tắc.”
Gã mũi to lại nói: “Nếu như bang chủ không có nơi đây thì tướng quân chúng ta không thể dùng lễ đãi các ngươi được.” Y liếc qua nhìn thấy cây Đả Cẩu Bổng còn cắm dưới đất, biết đó là vật rất quan trọng của Cái Bang bèn nói: “Ồ, cái gậy tre này nhẵn bóng đẹp gớm! Ta lấy về làm cán chổi thì tốt quá.”Y vung tay một cái, chiếc roi ngựa liền tung ra cuốn vào Đả Cẩu Bổng.
Người trong Cái Bang cùng quát tháo: “Cút mau!” “Con bà ngươi!” “Đồ mọi rợ chó đẻ!” Đầu roi ngựa của gã mũi to sắp cuốn vào cây bổng, đột nhiên thấp thoáng có một bóng người phóng xéo ra, chắn ngay trước Đả Cẩu Bổng, vươn cánh tay cho chiếc roi ngựa cuốn lấy. Người đó co tay một cái, gã mũi to không ngồi vững trên yên được nữa phải tung mình nhảy xuống đất. Hai người cùng vận kình, nghe “rắc” một tiếng, chiếc roi đứt ra làm hai. Người đó vòng tay cầm lấy cây bổng, không nói không rằng quay trở về chỗ cũ.
*****
Nguồn: truyenkimdung


