Một lát sau có tiếng chân người, rồi từ trong nhà đi ra một gã tuổi trạc ngũ tuần, người ốm o, nước da vàng vọt, dưới cằm có một túm râu ngắn như râu dê, vẻ mặt tinh lanh, cách phục sức rõ ra một tên quản gia trong phủ Mộ Dung. Gã gầy nhom quay mặt về phía Cưu Ma Trí cùng mọi người thi lễ nói: “Tiểu nhân Tôn Tam bái kiến các vị. Đại sư phụ, nay người có thịnh ý đến tế mộ Mộ Dung lão gia chúng tôi cảm kích vô cùng. Song công tử chúng tôi vắng nhà, không ai hoàn lễ, thật không phải đạo kính khách. Vậy chờ công tử về, tiểu nhân sẽ đem thịnh ý của đại sư phụ trình lại công tử là đủ…”
Gã vừa nói đến đây thì mũi Đoàn Dự bỗng thoáng ngửi thấy một mùi hương thoang thoảng, trong lòng chợt động: “Lạ thật! Lạ thật!”. Nguyên lúc nãy người lão bộc họ Hoàng đến, Đoàn Dự cũng đã ngửi thấy một mùi hương u nhã. Mùi hương này cũng phảng phất như mùi hương trong người Mộc Uyển Thanh tiết ra, tuy có chỗ khác nhau song vẫn là mùi hương của thiếu nữ. Thoạt tiên thì chàng cho là mùi hương ở mình A Bích tiết ra nên không để ý. Thế rồi sau khi lão bộc ra khỏi nhà khách, mùi hương đó tự nhiên đâu mất. Bây giờ gã gầy nhom tự xưng là Tôn Tam này vừa vào, Đoàn Dự lại ngửi thấy mùi hương kia. Chàng liền hiểu ra, việc mình thắc mắc chính là vì một lão già tám chín mươi lại có mùi con gái mười tám đôi mươi. Chàng nghĩ thầm: “Không lẽ sau nhà có trồng kỳ hoa dị thảo gì, nên ai từ đó bước ra thân thể cũng có mùi hương thoang thoảng? Nếu không thì cả lão bộc già nua kia lẫn quản gia gầy nhom này đều do một thiếu nữ đóng vai.”
Mùi hương đó tuy làm Đoàn Dự sinh nghi nhưng thực ra rất nhẹ, Cưu Ma Trí và hai người kia không nhận ra được. Đoàn Dự sở dĩ ngửi thấy được vì chàng đã bị giam cầm trong thạch thất với Mộc Uyển Thanh một thời gian, mùi hương thiếu nữ kia chàng đã ghi lòng tạc dạ, so với xạ hương, đàn hương, hoa hương còn đậm đà hơn nhiều. Cưu Ma Trí tuy nội công thâm hậu nhưng cả đời nghiêm thủ sắc giới, dưới mắt y má hồng tóc xanh cũng chẳng khác gì khô lâu bạch cốt, phấn dịu son thơm cũng không khác gì máu mủ tanh hôi, không phân biệt mùi con trai với con gái.
Đoàn Dự tuy nghi Tôn Tam là thiếu nữ hóa trang, song chàng ngó lui ngó tới mà không thấy chút sơ hở nào. Gã Tôn Tam này thật thần tình, từ tướng mạo cho đến cử chỉ nói năng hoàn toàn ra vẻ đàn ông, không có kẽ hở mảy may nào để lộ chân tướng. Chàng đột nhiên nghĩ ra: “Đàn bà nếu giả làm đàn ông thì chỗ dưới yết hầu không thể nào giả được”. Chàng chăm chú nhìn vào cổ Tôn Tam, nhưng chòm râu đề của y phủ xuống không nhìn thấy được cổ họng. Chàng liền đứng dậy, giả vờ thưởng ngoạn các bức thiếp và tranh vẽ treo trên tường, đi đến ngang bên Tôn Tam liếc qua nhìn lén một cái, thấy yết hầu y quả không có trái khế gồ lên, lại nhìn xuống thấy bộ ngực đầy đặn. Tuy chưa chắc đã là ngực đàn bà, nhưng gã đàn ông gầy đét quyết nhiên ngực không thể đầy thế được, Đoàn Dự phát hiện ra cái bí mật này lấy làm thú vị, nghĩ thầm: “Bọn họ thật là lắm trò. Để xem cô ả định làm gì nữa đây?”.
Cưu Ma Trí thở dài: “Bần tăng cùng quý chủ nhân năm xưa gặp nhau ở Tứ Xuyên, đàm luận võ công rồi cùng nhau ý hợp tâm đầu, kết bạn tâm giao. Ngờ đâu con tạo ghen kẻ kỳ tài, cái kẻ tầm thường như bần tăng thì trời còn cho sống, còn quý chủ nhân lại sớm về tây phương cực lạc. Bần tăng lặn lội từ Thổ Phồn xuống đến Trung Nguyên chẳng qua vì mối thâm tình với người bạn cũ, cốt sao được lạy trước mộ một lạy, có người đáp lễ hay không phỏng có chi là quan trọng, phiền quản gia dẫn đường cho.” Tôn Tam chau mày ra chiều suy nghĩ, gã ngập ngừng: “Việc này… việc này…” Cưu Ma Trí ngắt lời: “Nếu có điều chi nan giải, xin nói rõ cho biết!”
Tôn Tam nói: “Nếu đại sư phụ quả là chỗ thâm giao với lão gia tiểu nhân, hẳn biết rõ tính người lúc sanh thời. Lão gia ghét nhất là có người đến thăm, Người thường bảo rằng phàm kẻ đến nhà nếu không tầm cừu sinh sự thì cũng xin bái sư học nghệ, hay tệ nữa là đến xin xỏ tiền bạc, không chừng lại thò tay mặt đặt tay trái, nhân lúc lộn xộn cuỗm món gì rồi lỉnh mất. Lão gia nói bọn thầy chùa lại càng đáng đề phòng, ấy chết… xin lỗi…” Y nói đến đó làm bộ biết mình lỡ lời xúc phạm đến Cưu Ma Trí, vội vàng đưa tay bịt miệng.
Cử chỉ đó càng rõ ra vẻ con gái, đôi mắt đen láy như hai hạt châu ranh mãnh giương lên nhìn, tuy lập tức khép ngay mi lại nhưng Đoàn Dự vốn đã lưu tâm, tự nhiên trong lòng thấy thích thú : “Gã Tôn Tam này không những là đàn bà mà lại còn là một cô gái trẻ tuổi.” Chàng liếc qua A Bích thấy mắt nàng ta nở một nụ cười ranh mãnh, trong bụng không còn hoài nghi gì nữa, nghĩ thầm: “Gã Tôn Tam và lão Hoàng kia hai người là một, chưa biết chừng chính là A Châu tỉ tỉ.”
Cưu Ma Trí thở dài than rằng: “Người đời gian trá thì nhiều mà thật thà thì ít, Mộ Dung tiên sinh không muốn giao kết với bọn phàm phu là phải lắm.” Tôn Tam nói tiếp: “Quả vậy! Lão gia tiểu nhân có di ngôn rằng bất luận kẻ nào đến xin tế phần tảo mộ, nhất thiết không cho vào. Thậm chí người còn bảo: mấy tên lừa trọc thường không phải vì hảo tâm mà đến, chúng chỉ muốn quật mả ta lên mà thôi. Trời ơi! Đại sư phụ đừng phiền, lão gia tiểu nhân thóa mạ bọn trọc đầu là thóa mạ người khác kia, không phải có ý nói ngài đâu.”
Đoàn Dự nghe nói phải cười thầm: “Ai đời lại trước mặt nhà sư mà thóa mạ thằng trọc bao giờ? Rồi chàng lại nghĩ: “Lão Cưu Ma Trí này bị thóa mạ đến thế mà vẫn bình tĩnh, tuyệt không lộ vẻ cáu giận chút nào, phải là con người đại gian đại ác bản lãnh phi thường mới giữ được thái độ này.”
Cưu Ma Trí đáp: “Quý chủ nhân di ngôn lại mấy câu đó rất có lý. Hồi sinh thời uy danh tiên sinh lừng lẫy khắp thiên hạ, thành thử có rất nhiều kẻ thù. Tiên sinh còn sống họ không làm gì được, nên khi chết rồi tất họ cố tình tìm đến động chạm vào di thể để trả thù, đó là một điều dĩ nhiên.” Tôn Tam khẳng định: “Muốn đụng đến di thể của lão gia chúng tôi, ha ha, cái đó thì đừng hòng.” Cưu Ma Trí nói: “Ta và Mộ Dung tiên sinh vốn là chỗ tri giao, chỉ muốn đến trước mộ cố nhân lạy một lạy, ngoài ra không có ý gì khác, quản gia bất tất phải đa nghi.” Tôn Tam đáp: “Nói gần nói xa chẳng qua nói thực, tiểu nhân quả là không dám làm trái với di ngôn của lão gia. Nếu như công tử trở về tra hỏi biết được sẽ đánh tiểu nhân đến què giò. Thôi thì để tiểu nhân hỏi ý kiến lão thái thái xem sao, rồi sẽ trả lời.” Cưu Ma Trí hỏi lại: “Lão thái thái ư? Còn vị lão thái thái nào nữa?” Tôn Tam đáp: “ Mộ Dung lão thái thái là thúc mẫu của lão gia tiểu nhân, các bằng hữu của lão gia mỗi khi đến chơi đều phải khấu đầu hành lễ. Khi công tử vắng nhà thì mọi việc đều phải lĩnh ý lão thái thái.” Cưu Ma Trí đáp: “Như thế càng hay! Nhờ quản gia vào bẩm với lão thái thái là có Cưu Ma Trí ở nước Thổ Phồn tới vấn an.” Tôn Tam nói: “Đại sư phụ khách khí quá, chúng tôi không dám.” Nói xong liền quay vào nội đường.
Đoàn Dự nghĩ thầm: “Vị cô nương này thật là tinh quái. Không hiểu cô ta trêu cợt Cưu Ma Trí với dụng ý gì?”
Qua một lúc nghe có tiếng vòng đeo leng keng, một bà già từ nội đường đi ra, người chưa tới mà mùi hương đã thoang thoảng đưa vào mũi. Đoàn Dự không khỏi mỉm cười, nghĩ thầm: “Lần này cô ả lại biến thành một lão phu nhân”. Chỉ thấy bà lão mặc áo quần bằng đoạn màu cổ đồng, tay đeo vòng ngọc, đầu đầy châu thủy, trông thật là sang trọng, mặt thật nhiều vết nhăn, đôi mắt hấp him dường như nhìn không rõ. Đoàn Dự không khỏi khen thầm: “Cô bé này hóa trang giỏi tuyệt, trá hình ai ra người ấy, khó mà phát hiện được. Tài nhất là chỉ trong khoảnh khắc nàng đã cải trang xong, chân tay mau lẹ đến cực điểm.”
Bà già tay chống gậy, người run lẩy bẩy tiến ra tới nhà ngoài liền hỏi: “A Bích, có bạn của lão gia ngươi đến chơi đấy ư? Sao không thấy khấu đầu bài kiến ta?” Mụ nghiêng đầu nhìn bên đông lại ngoẹo cổ ngó bên tây, hai mắt như bị quáng lòa không nhận ra người nào ở chỗ nào. A Bích quay sang Cưu Ma Trí khoa tay làm hiệu, nói nhỏ: “Mau khấu đầu bái kiến đi, lão thái thái mà vừa lòng thì yêu cầu việc gì cũng được hết.” Bà lão nghiêng đầu, giơ bàn tay khum khum che tai như muốn nghe cho rõ, lớn tiếng hỏi lại: “Con ranh con! Mi nói cái gì vậy? Người ta đã khấu đầu chưa?”.
Cưu Ma Trí bèn lên tiếng: “Lão phu nhân mạnh giỏi chứ? Tiểu tăng xin thi lễ.” Đoạn lão chắp tay xá dài, kình lực từ hai bàn tay phát ra, đập xuống thềm gạch kêu binh binh nghe như là tiếng dập đầu xuống đất. Thôi Bách Tuyền và Quá Ngạn Chi đưa mắt nhìn nhau kinh hãi: “Lão này nội kình quả là ghê gớm, mình e rằng không chịu nổi một đòn.”
Bà lão gật gù nói: “Tốt lắm, tốt lắm! Thời nay kẻ gian thì nhiều, người ngay thì ít, đến như khấu đầu cũng lắm đứa giở trò ma mãnh, làm bộ đóng kịch, tưởng lão thái thái này thong manh không thấy. Thằng bé này ngoan lắm, dập đầu nghe rõ kêu.”
Đoàn Dự không nhịn được, phì ra một tiếng cười. Bà già từ từ quay đầu lại hỏi: “A Bích, hình như có ai đánh rắm phải không?”, vừa nói vừa đưa tay lên bịt mũi. A Bích cố nhịn cười đáp: “Lão thái thái, không phải đâu. Đó là vị Đoàn công tử này cười đó.” Bà lão hỏi lại: “Đòn à? Sao lại phải đánh đòn?” A Bích đáp: “Không phải đòn, người ta họ Đoàn, công tử họ Đoàn.” Bà lão gật đầu: “Chà! Công tử gì mà lắm thế? Mi nhớ công tử của mi lắm nhỉ!” A Bích thẹn thùng nói: “Lão thái thái nghễnh ngãng, nói năng chuyện nọ xọ chuyện kia chẳng ra chi hết.”
Bà lão quay sang nói với Đoàn Dự: “Thằng bé kia, sao thấy thái thái mà chưa khấu đầu?” Đoàn Dự đáp: “Lão thái thái, tiểu sinh có câu chuyện muốn kể cho thái thái nghe.” Bà lão hỏi lại: “Ngươi muốn kể chuyện gì?” Đoàn Dự đáp: “Tiểu sinh có một đứa cháu gái thật là thông minh lanh lợi nhưng hay nghịch ngợm quậy phá. Con bé đó thích hoá trang thành người này người khác, nay giả dạng đàn ông, mai lại giả dạng đàn bà để trêu chọc thiên hạ. Lão thái thái gặp nó chắc là thích lắm. Tiếc rằng lần này không đem nó đến khấu đầu trước lão nhân gia”
Lão phu nhân đó chính là cô tì nữ A Châu trong phủ Mộ Dung giả trang. Thuật hóa trang của cô ta quả là khéo léo, chẳng những về dung mạo, mà cả ngôn ngữ cử chỉ, giọng nói điệu cười nhất nhất giống như in. Chả thế mà thông minh tuyệt đỉnh như Cưu Ma Trí, lão luyện giang hồ như Thôi Bạch Tuyền cũng không mảy may nghi ngờ. Chẳng dè Đoàn Dự nhờ có mùi hương thoang thoảng trên mình cô ta mà nhận ra.
A Châu nghe nói thế giật mình nhưng vẫn tỉnh bơ như không, giả vờ làm như người già cả lẩm cẩm, mắt mờ tai điếc nói: “Mi ngoan lắm, lại thật thông minh, ta chưa thấy đứa nhỏ nào tinh khôn được đến thế. Mi phải khôn ngoan giữ mồm giữ miệng, lão thái thái sẽ thưởng cho nghe chưa?” Đoàn Dự nghĩ thầm: “Ý cô ta muốn mình đừng lật chân tướng ra. Cô ta ra tay đối phó với gã trọc Cưu Ma Trí, là bạn chứ nào phải là thù.” Nghĩ thế nên chàng đáp: “Xin lão thái thái cứ yên tâm! Tại hạ đã tới tôn phủ thì nhất thiết mọi điều đều do lão phu nhân sai bảo.” A Châu nói: “Mi có biết nghe lời ta mới là đứa trẻ ngoan ngoãn. Trước hết hãy cúi đầu lạy ta ba lạy đi đã! Ta thế nào cũng tử tế với ngươi.” Đoàn Dự ngẩn người ra, thầm nghĩ: “Ta đường đường là một vị thế tử con hoàng thái đệ nước Đại Lý, lẽ nào lại lạy một ả nữ tỳ?”. A Châu thấy chàng có vẻ lúng túng, cười khẩy mấy tiếng, nói: “Thằng nhỏ ngoan! Ta bảo mi đó, mi khấu đầu chào bà vài cái xem nào.”
Đoàn Dự quay sang nhìn thấy A Bích đang dẩu môi liếc mắt cười mủm mỉm, da trắng như lăng tươi vừa mới bóc, bên mép lại có một nốt ruồi nho nhỏ càng thêm duyên dáng, trong lòng không khỏi rung động, bèn cất tiếng hỏi: “A Bích tỉ tỉ, nghe nói trong tôn phủ còn một vị A Châu tỉ tỉ, cô ta… cô ta có xinh đẹp được như tỉ tỉ chăng?” A Bích mỉm cười đáp: “Ối chao! Tiểu nữ xấu xí thế này có chi đáng kể. A Châu tỉ tỉ mà nghe thấy công tử hỏi thế tất giận lắm đó. Tiểu nữ có đáng vào đâu, A Châu tỉ tỉ mỹ lệ gấp mười.” Đoàn Dự hỏi lại: “Thật vậy sao?” A Bích cười đáp: “Tiểu nữ nói dối công tử làm chi.” Đoàn Dự nói: “Đẹp gấp mười tỉ tỉ ư? Trên đời này làm gì có người như vậy? Trừ phi là… là nàng tiên ở trong thạch động kia thôi, còn người đẹp xuýt xoát như tỉ tỉ cũng đã là hiếm có lắm rồi.” A Bích hai má ửng hồng có vẻ thẹn thùng, nàng nói: “Lão phu nhân bảo công tử khấu đầu chứ có bảo công tử mồm năm miệng mười khen nịnh tôi đâu.”
Đoàn Dự đáp: “Lão phu nhân chắc vốn cũng là một bậc quốc sắc thiên hương đấy nhỉ? Nói thật với tỉ tỉ, dẫu có cho cái gì tại hạ cũng không màng, nhưng tại hạ đã từng lạy cho ngọc tượng trong động hàng nghìn lạy còn được, nay có lạy người đẹp đất Giang Nam ba lạy đã ăn thua gì?” Thế rồi chàng dập đầu xuống đất kêu “kịch kịch kịch” ba tiếng.
A Châu rất hài lòng nghĩ thầm: “Vị công tử này biết mình chỉ là một đứa a hoàn vậy mà vẫn chịu khấu đầu, quả thực khó biết bao!”. Nàng bèn nói: “Thằng nhỏ ngoan lắm! Tốt lắm! Tiếc rằng ta không mang theo tiền kiến diện để thưởng cho mi.” A Bích vội xen vào: “Lão thái thái đừng quên là được rồi. Lần sau sẽ bù cho người ta cũng được.”
A Châu đưa mắt nguýt cô ta, quay sang Thôi Bách Tuyền và Quá Ngạn Chi nói: “Hai vị khách này sao không khấu đầu ra mắt lão bà?” Quá Ngạn Chi hừ một tiếng, xẵng giọng hỏi: “Mụ có biết võ nghệ hay không?” A Châu đáp: “Ngươi nói gì thế?” Quá Ngạn Chi lập lại:“Ta hỏi mụ có biết võ nghệ không? Nếu là người võ công cao cường thì Quá Ngạn Chi này tình nguyện chết dưới tay Mộ Dung lão thái thái, còn nếu mụ không phải là nhân vật võ lâm thì ta bất tất nhiều lời.” A Châu vờ nhãng tai nghe “Võ công cao cường” ra “ngô công bách cước”, lắc đầu: “Cái gì mà lại ngô công bách cước? Con rết trăm chân thì đâu mà chẳng có, nó cắn người đau lắm đấy.” Nàng lại quay sang hỏi Cưu Ma Trí: “Đại hòa thượng, nghe nói hòa thượng muốn quật mả Mộ Dung tiên sinh lên, định lấy trộm cái gì đấy?”
Cưu Ma Trí tuy không ngờ mụ là một thiếu nữ giả trang, nhưng cũng đoán chừng mụ giả điếc giả ngây, quyết không phải là một bà già đã đến mức lẫn lộn như thế, trong bụng càng thêm đề phòng, nghĩ bụng: “Mộ Dung tiên sinh đã ghê gớm như thế thì bậc trưởng bối trong nhà tất nhiên không phải hạng bản lãnh tầm thường.” Lảo liền vờ như không nghe mấy chữ “quật mả, lấy trộm” bèn đáp: “Tiểu tăng với Mộ Dung tiên sinh vốn là bạn tri giao, nghe tin buồn tiên sinh tạ thế nên từ nước Thổ Phồn qua đây, muốn đến trước mộ lạy một lạy. Tiểu tăng có một điều ước hẹn với tiên sinh từ lúc sinh tiền là đem kiếm phổ Lục Mạch Thần Kiếm nước Đại Lý qua cho tiên sinh xem. Lời ước đó không thực hiện được, tiểu tăng trong lòng thật là hổ thẹn.”
A Châu và A Bích hai người nhìn nhau cùng nghĩ thầm: “Gã hòa thượng này bây giờ mới nói vào chính đề.” A Châu hỏi: “Lấy được kiếm phổ Lục Mạch Thần Kiếm thì sao? Mà không lấy được thì sao?” Cưu Ma Trí đáp: “Năm xưa Mộ Dung tiên sinh có ước định với tiểu tăng, nếu tiểu tăng lấy được kiếm phổ Lục Mạch Thần Kiếm cho mượn vài hôm thì sẽ cho tiểu tăng vào xem mấy quyển thiên thư ở Hoàn Thi Thủy Các trong tôn phủ.” A Châu giật mình: “Lão sư này biết được bốn chữ Hoàn Thi Thủy Các, có lẽ lão nói thực cũng chưa biết chừng.” Nàng bèn giả như nghe nhầm hỏi lại: “Cái gì mà hi phạn thủy giả? Ngươi muốn ăn cháo gà với bánh trôi ư? Cái đó dễ lắm nhưng ngươi đã xuất gia làm sao ăn được món mặn?”
Cưu Ma Trí quay sang nói với A Bích: “Lão thái thái đây không hiểu là lẫn lộn thực hay giả vờ. Song thái độ thế này là cự tuyệt người từ nghìn dặm xa xôi đến đây, chẳng khiến người ta nguội lạnh tấm lòng lắm hay sao?” A Châu đáp: “Sao, ngươi lạnh bụng à? A Bích, ngươi mau đi múc một tô cháo tiết gà nóng để đại sư ăn cho ấm ruột gan lại.” A Bích nhịn cười đáp: “Đại sư phụ có ăn mặn được đâu?” A Châu gật gù : “Thế thì đừng dùng gà vịt thật mà dùng gà vịt chay vậy!” A Bích nói: “Lão thái thái lẫn rồi, gà vịt chay thì làm gì có tiết?” A Châu phều phào: “Mình lẩn thẩn thực, thế thì biết làm sao bây giờ?”
Hai cô gái đối thoại, kẻ tung người hứng nghe thật là ăn nhịp. Người đất Tô Châu phần đông mồm miệng béo léo, nói năng hoạt bát, đời sau nơi đây kịch nghệ nổi tiếng thiên hạ cũng từ truyền thống này mà ra. Hai cô thị tì này bình thời vẫn hay tinh nghịch đùa cợt với nhau, bây giờ đem ra quấy phá khiến Cưu Ma Trí bực mình mà không làm gì được.
Lần này y tới Cô Tô vốn định khi gặp Mộ Dung công tử sẽ thương lượng một chuyện quan trọng, ngờ đâu không gặp chủ nhà lại gặp những người chẳng đâu ra đâu, cách đón tiếp hư hư thực thực khiến lão không biết đối phó thế nào cho phải. Y ngẫm nghĩ một chút đã biết ngay Mộ Dung lão phu nhân, Tôn Tam, Hoàng lão bộc, A Bích ai nấy đều có ý thoái thác không cho mình viếng mộ, dĩ nhiên không cho mình vào xem sách trong Hoàn Thi Thủy Các. Lão quyết định bất chấp đối phương nói gì thì nói, cứ đem chuyện ra trình bày minh bạch rồi sau đó nếu được thì dùng lễ mà nhân nhượng, không được thì phải cậy võ lực mà cương quyết, đằng nào mình cũng ở tay trên. Nghĩ thế y ôn tồn nói: “Kiếm phổ Lục Mạch Thần Kiếm tiểu tăng đã có đem theo đây, vì thế mới nhắc lại lời hẹn năm xưa được vào Hoàn Thi Thủy Các trong quí phủ xem sách vở.”
A Bích nói: “Mộ Dung tiên sinh đã qua đời, hòa thượng nói sao chúng tôi hay vậy chứ khẩu thuyết vô bằng biết đâu mà tin. Hơn nữa giả tỷ đại sư có mang đồ hình tới đây, chúng tôi xem có ai hiểu được đâu. Thế thì trước kia hai bên có lời giao ước với nhau thế nào, bây giờ cũng không còn thi hành được nữa.” A Châu nói: “Kiếm phổ gì thế? Ở đâu vậy? Đưa ta coi trước xem giả hay thực nào?”
Cưu Ma Trí chỉ vào Đoàn Dự đáp: “Đoàn công tử đây đã thuộc lòng kiếm phổ Lục Mạch Thần Kiếm, tiểu tăng đem y đến đây cũng như mang kiếm phổ đến.” A Bích mỉm cười nói: “Tôi lại tưởng có kiếm phổ thật, té ra đại sư nói đùa.” Cưu Ma Trí đáp: “Tiểu tăng đâu dám nói đùa? Nguyên bản kiếm phổ Lục Mạch Thần Kiếm đã bị Khô Vinh đại sư ở chùa Thiên Long nước Đại Lý đốt mất rồi, cũng may mà Đoàn công tử còn nhớ được rành mạch cả.” A Bích nói: “Đoàn công tử nhớ được là chuyện của Đoàn công tử, người được vào Hoàn Thị Thủy Các coi sách thì cũng phải là Đoàn công tử, có can dự gì đến đại sư?” Cưu Ma Trí đáp: “Tiểu tăng muốn được thực hiện lời ước ngày trước, đem Đoàn công tử thiêu sống trước mộ phần Mộ Dung tiên sinh.”.
Mọi người nghe nói đều thất kinh, thấy y thần sắc trấn tĩnh, xem ra nói thực chứ không phải thuận miệng nói đùa, lại càng ghê rợn. A Bích nói: “Đại sư phụ có nói đùa không đấy? Người đang sống hẳn hòi chứ có phải mớ củi đâu mà muốn đốt lúc nào thì tốt?” Cưu Ma Trí thản nhiên nói: “Tiểu tăng mà định đốt thì chắc rằng y không chống cự lại được.” A Bích mỉm cười: “Đại sư phụ bảo, là Đoàn công tử nhớ được toàn bộ kiếm phổ Lục Mạch Thần Kiếm, cũng chỉ là bịa đặt thôi. Nếu như Lục Mạch Thần Kiếm là một công phu lợi hại, mà Đoàn công tử biết kiếm pháp đó thì khi nào lại chịu khuất phục dưới tay đại sư?” Cưu Ma Trí gật gù: “Cô nương biết một mà không biết hai. Đoàn công tử đã bị tiểu tăng điểm huyệt, không vận kình được.”
A Châu vẫn lắc đầu lia lịa nói: “Ta không thể tin ngươi được. Ngươi giải huyệt cho Đoàn công tử để y thi triển Lục Mạch Thần Kiếm cho ta xem. Xem ra chín phần mười là ngươi nói dối.” Cưu Ma Trí gật đầu nói: “Được rồi! Để tiểu tăng thử cho lão thái thái coi.”
Đoàn Dự ca ngợi A Bích xinh đẹp, mê mẩn tiếng hát tiếng đàn của nàng khiến cho nàng thật đẹp ý; chàng tuy biết được A Châu cải trang vậy mà vẫn dập đầu lạy ba cái khiến cho nàng cũng vui lòng, bây giờ hai cô nghe nói Đoàn Dự bị điểm huyệt nên tìm cách bịp lão để lão chịu giải huyệt đạo cho chàng. Ngờ đâu vừa nói ra là Cưu Ma Trí bằng lòng ngay. Chỉ thấy y giơ tay vỗ hờ trên các chỗ huyệt đạo ở lưng, ngực và đùi Đoàn Dự mấy cái. Lập tức các huyệt đạo bị đóng liền thông, Đoàn Dự chỉ hơi vận khí nội tức liền chuyển động dễ dàng. Chàng lại thử theo phương pháp vận khí của Trung Xung kiếm pháp đưa chân khí vào huyệt Trung Xung, tức khắc cảm thấy ngón tay giữa nóng ran, chàng biết chỉ duỗi ngón tay là kiếm khí liền bắn ra ngay.
Cưu Ma Trí nói: “Đoàn công tử! Mộ Dung lão thái thái không tin công tử đã luyện được Lục Mạch Thần Kiếm. Xin công tử ra tay chặt đứt một cành hoa quế như tiểu tăng đây.” Y vừa nói vừa chém xéo ra, bàn tay súc tích chân lực, xuất một chiều Hỏa Diệm Đao. Bỗng nghe rắc một tiếng, một cành hoa quế trong sân không gió mà gãy ngay xuống đất, chẳng khác gì dùng đao kiếm sắc bén chặt ngang.
Thôi Bách Tuyền và Quá Ngạn Chi cùng thất thanh kêu lên một tiếng. Hai người tuy biết gã Phiên tăng này võ công hết sức ghê gớm, song chỉ cho là loại tà thuật bàng môn tả đạo mà thôi, bây giờ nhìn thấy lão dùng vô hình đao pháp chặt đứt cành cây mới biết nội lực lão thâm hậu hiếm thấy trên đời. .
Đoàn Dự lắc đầu: “Ta không hiểu võ công, cũng chẳng biết Lục Mạch Thần Kiếm hay Bát Mạch Thần Đao nào cả. Một cành hoa quế đẹp đẽ như thế của người ta, sao người lại chặt đi?” Cưu Ma Trí nói: “Đoàn công tử chẳng nên quá khiêm nhường, võ nghệ công tử vào bậc nhất trong họ Đoàn nước Đại Lý. Hiện nay ngoại trừ Mộ Dung công tử và tại hạ ra thì e rằng không ai địch nổi công tử. Phủ Cô Tô Mộ Dung đây là một kho tàng về võ học, công tử hãy thi thử vài chiêu để lão thái thái chỉ điểm thêm cho! Đó là một điều rất hay chứ sao?” Đoàn Dự đáp: “Suốt dọc đường người đối với ta cực kỳ vô lễ, xách lên vứt xuống, lôi kéo đến Giang Nam. Chính ta không muốn nói gì với người nữa. Nhưng ta đến đất Cô Tô thấy phong cảnh hữu tình, lại gặp mấy cô nương đẹp như tiên, oán hờn chứa chất trong lòng đã tiêu tan hết. Ta và người từ nay một đao cắt đứt quan hệ, đường ai nấy đi.” A Châu và A Bích nghe chàng nói năng như gã đồ gàn, không khỏi tức cười, nhưng chàng lại ca tụng mình hết lời nên trong bụng vẫn thầm sung sướng.
Cưu Ma Trí lại nói: “Công tử không chịu biểu diễn Lục Mạch Thần Kiếm, tức là cố ý bảo bần tăng ăn nói đặt điều hay sao?” Đoàn Dự đáp: “Chính ngươi vẫn quen ăn nói đặt điều. Nếu thực có ước hẹn với Mộ Dung tiên sinh thì sao ngươi không sớm đến Đại Lý lấy kiếm kinh mà lại đợi Mộ Dung tiên sinh quy tiên rồi, không còn người đối chứng mới đến phủ Mộ Dung nói thiên hô bách sát? Ta xem chừng ngươi hâm mộ Cô Tô Mộ Dung võ công cao cường nên bịa chuyện ra đánh lừa lão thái thái cho ngươi vào tàng thư các, xem trộm quyền kinh kiếm phổ của nhà Mộ Dung, học lấy thuật gậy ông đập lưng ông. Người ta đã là nhân vật lừng danh trong võ lâm chẳng lẽ lại không hiểu cái mánh khóe trẻ con của ngươi hay sao? Nếu chỉ đem cái mồm trơn như mỡ đến nói vài câu là đánh lừa lấy cắp được bí quyết võ công của nhà Mộ Dung thì trên đời này vô khối những tên bịp bợm, đứa nào chẳng đến đây lẻo mép, còn đâu đến lượt ngươi?”
Cưu Ma Trí lắc đầu nói: “Đoàn công tử suy đoán sai rồi. Tiểu tăng và Mộ Dung tiên sinh tuy đính ước với nhau đã lâu, song tiểu tăng còn phải đóng cửa luyện chín năm không ra khỏi ngõ, vì thế mà chưa đến nước Đại Lý. Giả tỷ tiểu tăng chưa thấu đáo được môn Hỏa Diệm Đao thì lần này đâu có yên thân mà ra khỏi chùa Thiên Long?” Đoàn Dự đáp: “Đại hòa thượng ơi, ngươi tiếng tăm đã vang dội, võ công lại cao cường như thế, sao không ung dung ở yên nước Thổ Phồn làm Hộ Quốc Pháp Vương có tốt hay không? Việc gì còn phải đến tận Giang Nam đánh lừa người ta? Ta khuyên người nên quay về sớm đi là hơn!”
Cưu Ma Trí đáp: “Nếu công tử không chịu thi triển Lục Mạch Thần Kiếm thì đừng trách tiểu tăng vô lễ.” Đoàn Dự nói: “Ngươi đã vô lễ lắm rồi, chẳng lẽ lại còn cách nào vô lễ hơn thế nữa? Cùng lắm người chém ta một đao giết đi là cùng chứ gì?” Cưu Ma Trí nói: “Được lắm, coi đao đây.” Y dựng bàn tay trái lên, một luồng kình phong liền ùa tới mặt Đoàn Dự.
Đoàn Dự đã có chủ ý từ trước, biết võ công mình kém xa y, có giao đấu hay không giao đấu kết quả cũng như nhau mà thôi. Lão đã muốn chàng phải chứng minh là có biết Lục Mạch Thần Kiếm, đã thế chàng làm ngược hẳn lại. Chàng thấy đao của lão chém tới, cứ để mặc, chẳng tránh né mà cũng không đỡ gạt. Cưu Ma Trí kinh hoảng, kiếm phổ Lục Mạch Thần Kiếm chưa nắm thì bộ sách sống này không thể giết được, tay liền nghiêng qua, một luồng gió lạnh vèo qua, xén đứt hẳn một mớ tóc trên đầu Đoàn Dự.
Thôi Bách Tuyền và Quá Ngạn Chi nhìn nhau hoảng vía, A Châu A Bích hai cô cũng đều tái mặt. Cưu Ma Trí lầm lì hỏi lại: “Đoàn công tử đành chịu chết chứ không chịu ra tay sao?” Đoàn Dự vốn đã sớm không coi chết sống vào đâu, bèn khanh khách cười đáp: “Đại hòa thượng đủ cả: tham, sân, ái, dục, si mà còn dám khoe mình là cao tăng cửa Phật, quả là chỉ có hư danh.”
Cưu Ma Trí đột nhiên vung tay chém xéo qua A Bích, miệng nói: “Dùng lời tử tế không xong thì trước hết ta phải ra oai giết một con tiểu a đầu trong phủ Mộ Dung trước đã.” Chiêu đó y đánh ra thật đột ngột, A Bích kinh hãi vội nghiêng người tránh, nghe chát một tiếng, chiếc ghế dựa sau lưng cô bị chém đứt đôi. Tay phải Cưu Ma Trí liền chém tiếp một đạo nữa khiến A Bích phải nằm phục xuống lăn dưới đất, thân pháp tuy mau lẹ nhưng thật là luống cuống. Cưu Ma Trí quát to lên một tiếng đánh luôn chiêu thứ ba ra. A Bích sợ tái mặt, không biết phải đối phó với những chiêu số vô hình vô ảnh này cách nào cho đúng. A Châu không suy nghĩ gì nữa, liền vung gậy điểm vào sau lưng Cưu Ma Trí. Lúc nàng đứng nói chuyện, hay là lúc lụm cụm bước đi trông giống như một bà già bảy tám mươi không sai một mảy, nhưng lúc nguy cấp liều mạng thì thân pháp lại cực kỳ mau lẹ.
Cưu Ma Trí thoáng nhìn đã khám phá ra chỗ giả trá, lão mỉm cười nói: “Thiên hạ lại có bà già mười bảy mười tám tuổi, ngươi định lừa bịp hòa thượng này đến bao giờ?” Nói xong lão quay lại đánh luôn một chưởng, chấn cây gậy trúc của A Châu gãy làm ba đoạn, kế đó lại phóng một đao chém bổ vào A Bích. A Bích hoảng hốt quờ tay vớ một cái bàn, nghiêng mặt bàn ra đỡ. Bỗng nghe “chát chát” mấy tiếng, chiếc bàn bằng gỗ tử đàn gãy vụn, chỉ còn trơ lại hai chân trong tay A Bích.
Đoàn Dự thấy A Bích lưng tựa vào vách, không còn đất lùi mà Cưu Ma Trí lại vung tay đánh tiếp. Lúc đó chàng chỉ nghĩ đến việc cứu người là khẩn cấp, quên rằng mình không phải là địch thủ của gã Phiên tăng, liền búng ngón tay giữa ra, kình lực từ huyệt Trung Xung bắn vụt ra kèm những tiếng kêu “vo vo”. Đó chính là Trung Xung kiếm pháp. Thực ra Cưu Ma Trí đâu có định giết A Bích, lão chỉ muốn bức bách Đoàn Dự xuất thủ, nếu không A Bích làm sao có thể tránh được những chiêu số thần diệu của Hỏa Diệm Đao? Y thấy Đoàn Dự cuối cùng phải ra tay, lại trở tay đánh luôn A Châu một chưởng. Chưởng phong vút qua làm cho A Châu lảo đảo cả người, vai áo rách toạc, nàng kinh hoàng rú lên. Thiếu Trạch Kiếm từ tay trái Đoàn Dự liền phóng ra, chặn ngay Hỏa Diệm Đao của y lại.
Hai đao của Cưu Ma Trí đều bị Lục Mạch Thần Kiếm của Đoàn Dự chặn đón, chàng đã bảo vệ cho hai nàng A Châu, A Bích cùng thoát hiểm. Cưu Ma Trí chỉ cốt cho mọi người thấy Đoàn Dự biết Lục Mạch Thần Kiếm thật, cố ý để nội kình hai người chạm vào nhau, nghe vu vu không ngớt. Đoàn Dự nhờ có công lực của mấy cao thủ trong người, xem ra còn mạnh hơn cả Cưu Ma Trí. Chỉ có điều chàng không có căn bản võ công, tuy ở chùa Thiên Long nhớ hết các đường kiếm pháp nhưng không biết cách biến hóa sử dụng.
Cưu Ma Trí dẫn luồng nội lực hùng hậu của chàng chạy đông chạy tây khiến cửa sổ và vách tường bị đâm thủng lỗ chỗ khắp nơi, miệng liên tiếp khen ngợi: “Lục Mạch Thần Kiếm quả nhiên lợi hại, trách nào năm xưa Mộ Dung tiên sinh đem lòng hâm mộ.”
Thôi Bách Tuyền cũng rất lấy làm kinh ngạc, lẩm bẩm: “Ta vẫn tưởng Đoàn công tử chẳng biết võ công, nào ngờ lại có bản lĩnh đến thế. Họ Đoàn Đại Lý đúng là danh bất hư truyền. Cũng may mà mình khi ở phủ Trấn Nam vương chưa làm việc gì xằng bậy, nếu không thì cái mạng già này đâu còn được đến hôm nay.” Y càng nghĩ càng rùng mình, mồ hôi toát ra lạnh cả người.
Hai người giao đấu một hồi lâu, kỳ thực thì chiêu nào Cưu Ma Trí cũng có thể đẩy Đoàn Dự vào tử địa được. Có điều lão cố ý kéo dài cuộc đấu để đùa giỡn và phô trương tài năng. Ngờ đâu đùa giỡn càng lâu thì càng không dám coi thường, xem ra chàng nội kình cực kỳ hùng hậu không kém gì mình, nhưng không hiểu vì sao lại không biết phát huy ra, chẳng khác gì đứa trẻ lên ba trong tay có hàng vạn quan tiền mà không biết tiêu xài. Cưu Ma Trí chiết giải thêm mấy chiêu nữa bỗng dưng nghĩ khác: “Nếu lỡ ra lát nữa y phúc chí tâm linh, lãnh ngộ được võ công yếu quyết, với nội công đó và kiếm pháp đó, e rằng sẽ là một kình địch cực kỳ lợi hại”.
Đoàn Dự cũng biết là chàng sống hay chết hoàn toàn do tay Cưu Ma Trí, kêu lên: “A Châu, A Bích hai vị tỉ tỉ mau mau đào tẩu. Không thì không kịp đâu.” A Châu hỏi: “Đoàn công tử! Tại sao công tử lại cứu chúng tôi?” Đoàn Dự đáp: “Vì tôi ghét tên hòa thượng này ỷ mình võ công cao cường, hoành hành bá đạo, khinh khi người khác. Đáng tiếc tôi không hiểu võ công, khó lòng địch lại lão. Các cô chạy mau đi thôi!”
Cưu Ma Trí mỉm cười nói: “Không kịp nữa rồi.” Y tiến lên một bước, ngón tay trái đâm ra, điểm vào đùi Đoàn Dự. Đoàn Dự kêu lên một tiếng toan né tránh, nhưng tránh làm sao được? Ba yếu huyệt của chàng đã bị Cưu Ma Trí điểm trúng, tức thời hai chân bị tê bại, té nhào xuống đất. Chàng gọi ầm lên: “A Châu, A Bích! Chạy mau đi! Chạy mau đi!”
Cưu Ma Trí bật cười nói: “Chết đến cổ họng, thân không giữ nổi lại còn thương hoa tiếc ngọc.” Đoạn lão ung dung quay lại chỗ ngồi, nói với A Châu: “Cô nương cũng bất tất phải giở trò quỷ quái làm gì nữa. Ai là người quyết định mọi việc trong phủ này? Đoàn công tử đã thuộc lòng kiếm phổ Lục Mạch Thần Kiếm, có điều y không hiểu võ công nên không biết sử dụng đó thôi. Ngày mai ta sẽ đem hắn ra thiêu sống trước mồ Mộ Dung tiên sinh, nếu tiên sinh dưới suối vàng có linh thiêng, chắc cũng rõ người bạn cũ không lỗi lời hẹn ước năm xưa.”.
A Châu cũng hiểu rằng hiện tình trong Cầm Vận Tiểu Trúc này không có ai địch lại Cưu Ma Trí. Nàng chau đôi mày liễu, gượng cười nói: “Được rồi! Đại hòa thượng nói sao chúng tôi tin vậy. Phần mộ của lão gia cách đây chừng một ngày đường thủy. Hôm nay thì trời đã tối rồi, sáng sớm mai tỉ muội chúng tôi xin thân hành dẫn hòa thượng cùng Đoàn công tử đi tảo mộ. Xin các vị hãy nghỉ ngơi một chút để đợi dùng cơm chiều.” Nói dứt lời A Châu đứng dậy kéo tay A Bích cùng đi vào trong nhà.
Sau độ nửa giờ thì thấy một tên tớ trai ra nói: “Hai cô nương có lời mời bốn vị đến Thính Vũ Cư dùng cơm chiều.” Cưu Ma Trí cám ơn rồi nắm tay Đoàn Dự, dẫn đi theo tên đầy tớ. Đường đi trải đá trứng ngỗng quanh co độ mấy chục trượng, vòng qua mấy tòa giả sơn cùng mấy khu vườn thì đến bên bờ hồ. Dưới một gốc liễu có buộc chiếc thuyền nhỏ. Tên đầy tớ chỉ một căn nhà nho nhỏ ở giữa hồ, bốn mặt đều có cửa sổ, nói: “Ở bên kia.” Cưu Ma Trí, Đoàn Dự, Thôi Bách Tuyền, Quá Ngạn Chi bốn người xuống thuyền để cho tên đầy tớ chèo qua, chỉ giây lát đã tới.
Đoàn Dự theo cầu thang đóng trên cây tùng trèo lên Thính Vũ Cư, thấy A Bích đã đứng sẵn chờ khách. Toàn thân nàng mặc áo dài màu xanh nhạt, bên cạnh là một nữ lang mặc áo lụa hồng xinh tươi mơn mởn, tuổi chừng mười sáu mười bảy, nhìn Đoàn Dự tựa như cười mà không phải cười, nét mặt đầy vẻ khôn ngoan lanh lợi. Mặt A Bích thì thanh nhã tú lệ, còn người con gái kia khuôn mặt trái xoan, đôi mắt linh động dễ làm người ta quyến luyến.
Đoàn Dự tới gần liền ngửi thấy mùi hương phảng phất quen thuộc, chàng mỉm cười hỏi: “A Châu tỉ tỉ! Cô là một vị tiểu cô nương xinh đẹp như thế này mà sao cải trang thành một bà lão lại giống đến thế?” Nữ lang này chính là A Châu. Nàng liếc mắt mỉm cười hỏi Đoàn Dự: “Công tử phải khấu đầu lạy tôi ba cái chắc bực mình lắm phải không?” Đoàn Dự lắc đầu quầy quậy nói: “Ba lạy đó rất có ý nghĩa. Có điều tôi đoán không được trúng lắm thôi.” A Châu hỏi: “Công tử đoán thế nào mà không trúng?” Đoàn Dự đáp: “Trước tôi đã đoán cô nương và A Bích cũng như nhau, đều là mỹ nhân hiếm có ở đời. Tôi đinh ninh là hai cô chẳng khác nhau mấy, nào ngờ tới khi gặp mặt mới hay… mới hay…” A Châu cướp lời: “Phải chăng tôi còn kém A Bích xa?” Đồng thời A Bích cũng chen vào: “Công tử thấy chị ấy đẹp gấp mười tôi, nhìn thấy phải giật mình chứ gì?”
Đoàn Dự lắc đầu: “Trật hết. Tôi bấy giờ mới hay trời xanh kia quả thật tài tình, khiến cho người ta phục sát đất. Ông đã dốc tâm trí ra tạo nên một trang tuyệt sắc giai nhân là A Bích tỉ tỉ, tưởng rằng bao nhiêu linh tú ở Giang Nam đã dùng hết nhẵn rồi, nào ngờ ông lại còn tạo thêm được một vị A Châu tỉ tỉ nữa. Hai dung mạo khác nhau nhưng mỗi người đều có một vẻ ưa nhìn riêng, tôi nghĩ mãi mà chưa tìm được câu nào để diễn tả được cái vẻ diễm lệ của hai cô.” A Châu cười khúc khích: “Gớm, công tử thật là mồm mép trơn như mỡ, đã tán dương một tràng dài lại còn bảo là không tìm được câu nào.”
A Bích mỉm cười quay sang nói với Cưu Ma Trí và hai người Thôi, Quá: “Bốn vị giá lâm tệ xứ, chúng tôi đơn bạc chẳng có gì để thết, xin các vị tạm dùng ly rượu nhạt và mấy thứ món ăn ở địa phương Giang Nam có sẵn trong nhà thôi.” Nói rồi mời bốn người vào bàn, còn nàng và A Châu ngồi bên dưới tiếp khách.
Đoàn Dự thấy Thính Vũ Cư bốn mặt đều là nước, từ cửa sổ nhìn ra chung quanh mặt hồ khói sóng mờ mờ tới tận chân trời, quay đầu nhìn lại thấy chén bát trên bàn đều là đồ sứ tinh xảo, trong bụng tấm tắc khen thầm.
Một lát sau đầy tớ đem lên mấy món điểm tâm, riêng Cưu Ma Trí có bốn đĩa đồ chay, kế đó mấy món nóng sốt như lăng xào tôm, lá sen nấu măng, thịt quay nấu anh đào, thịt gà hấp trà Long Tỉnh… món nào cũng thật là đặc biệt. Các món cá tôm đều nhồi cánh hoa, trái cây càng thêm màu mè nhưng vẫn đượm mùi hương thiên nhiên. Món nào Đoàn Dự cũng gắp thử vài đũa, món nào cũng tươi ngon hợp khẩu, chàng tán dương luôn miệng: “Non sông gấm vóc thì phải có tuyệt thế giai nhân, không những thông minh lanh lợi mà còn thanh nhã khôn cùng để chế tạo những món ăn mỹ vị thanh cao.”
A Châu hỏi: “Công tử thử đoán xem các món ăn đây do tiểu nữ làm hay do A Bích làm?” Đoàn Dự đáp: “Món thịt quay anh đào, vịt ướp hoa mai, bánh dẻo bảy màu hẳn là do tỉ tỉ làm. Còn món canh măng nấu ngó sen, cá viên phỉ thúy thanh tân mượt mà kia chắc phải do tay A Bích tỉ tỉ?”
A Châu vỗ tay cười nói: “Không ngờ thầy đồ gàn đoán đúng thế. A Bích, người xem mình phải thưởng cho thầy cái gì đây.” A Bích tủm tỉm cười đáp: “Đoàn công tử sai bảo điều gì chúng ta sẽ hết sức tuân theo, chứ bọn kẻ ăn người ở như mình có gì mà thưởng?” A Châu đáp: “Chao ôi, ngươi quả là lanh mồm lanh miệng khéo nói cho vừa lòng người, thảo nào ai ai cũng bảo ngươi tốt, còn ta chẳng ra gì.” Đoàn Dự cười: “Một bên thùy mị ôn hòa, một bên hoạt bát lanh lợi, mỗi cô một vẻ riêng. A Bích tỉ tỉ, lúc ngồi thuyền tại hạ có được nghe tỉ tỉ gẩy một khúc đàn bằng cây nhuyễn tiên, dư âm hãy còn văng vẳng bên tai. Vậy dám cả gan xin tỉ tỉ cho nghe một khúc bằng nhạc khí thực. Được thế thì dù ngày mai có bị vị hòa thượng này đốt thành tro cũng không uổng một đời.”
A Bích nhẹ nhàng đứng dậy nói: “Nếu như công tử không hiềm bẩn tai, tiểu nữ xin phô chút tài mọn để vui lòng quý khách.” Nói xong nàng đi ra đằng sau bức bình phong lấy một chiếc dao cầm. A Bích ngồi ngay ngắn trên chiếc cẩm đôn, để cây đàn lên chiếc bàn nhỏ trước mặt, giơ tay vẫy Đoàn Dự cười nói: “Đoàn công tử thử lại đây xem cây đàn của tôi là loại đàn gì?”
Đoàn Dự đi đến trước mặt nàng, thấy chiếc đàn đó so với thất huyền cầm thông thường thì ngắn hơn chừng một thước nhưng lại có đến chín dây, mỗi dây một màu, liền ngẫm nghĩ rồi đáp: “Loại cửu huyền cầm này tại hạ mới nhìn thấy lần đầu.” A Châu đi đến giơ ngón tay bật vào một sợi dây, nghe tưng một tiếng thật to, thì ra dây này làm bằng kim loại. Đoàn Dự ấp úng: “Tỉ tỉ, đàn này…”
Mới nói đến đó, bỗng dưng chàng thấy dưới chân hụt hẫng, nhịn không nổi kêu “Ối” một tiếng, thân hình rơi tọt ngay xuống, rớt vào vật gì mềm nhũn như bông, đồng thời tai nghe tiếng kêu “Ối chết!”, “Hỏng rồi!” liên tiếp, tiếng người rơi xuống nước lõm bõm, rồi thấy thân hình bị ai đó kéo lên. Biến cố đó đã kỳ quái lại đột ngột, chàng gượng ngồi dậy thấy mình ở trong một con thuyền nhỏ, A Châu, A Bích ngồi hai đầu, tay cầm mái giầm đang ra sức chèo. Chàng quay đầu nhìn lại thấy Cưu Ma Trí, Thôi Bách Tuyền, Quá Ngạn Chi ba người đang chới với cố ngoi lên mặt nước. A Châu, A Bích chỉ chèo mấy cái chiếc thuyền đã cách Thính Vũ Cư mấy trượng.
Bỗng từ dưới nước một người ướt sũng vọt lên, chính là Cưu Ma Trí. Y vừa lên được Thính Vũ Cư, lập tức giơ tay chặt đứt một cây cột gỗ, nghe vù một tiếng đã cầm ném thẳng vào A Bích ngồi phía sau con thuyền, A Bích kêu lên: “Đoàn Công tử, hụp xuống mau.” Đoàn Dự cùng hai cô gái cùng nằm mọp xuống, nửa cây cột gỗ vụt qua đầu, gió mạnh đến nỗi nghe rát cả cổ.
A Châu khom người chèo mạnh mấy cái, chiếc thuyền lại vọt lên thêm cả trượng. Bỗng dưng nghe tiếng ầm ầm, bình bình vang dội, con thuyền chao đảo nhấp nhô, nước tạt vào làm cho cả ba người đều ướt sũng. Đoàn Dự quay đầu lại thấy Cưu Ma Trí đã đánh vỡ một bên vách Thính Vũ Cư, tay cầm đôn đá, đỉnh hương liên tiếp ném ra. A Bích nhắm chừng những vật nặng đó mà lách thuyền tránh né, còn A Châu vẫn cắm cúi chèo tới trước, mỗi lần vung tay, chiếc thuyền con lại vọt xa thêm mấy thước. Tuy Cưu Ma Trí vẫn liên tiếp ném theo nhưng cự ly mỗi lúc một xa, xem ra y kình lực mạnh mẽ đến đâu cũng ném không tới. Hai cô gái liên tiếp chèo chống, Đoàn Dự quay đầu lại nhìn quanh, thấy Thôi Bách Tuyền và Quá Ngạn Chi cũng đã bám được thang trèo trở lại lên Thính Vũ Cư. Chàng trong bụng mừng thầm nhưng lại kêu “Chao ôi” một tiếng, thấy Cưu Ma Trí vừa nhảy xuống một chiếc thuyền khác.
A Châu kêu lên: “Ác hòa thượng đuổi theo kìa!” Nàng gắng sức chèo luôn mấy cái, quay đầu nhìn lại bỗng dưng bật cười ha hả khiến Đoàn Dự cũng tò mò quay lại, thấy chiếc thuyền của Cưu Ma Trí chạy vòng tròn trên mặt nước. Thì ra tuy y võ công cao cường nhưng lại chưa biết lái thuyền.
Ba người thở phào một cái nhưng chẳng bao lâu thấy Cưu Ma Tú đã hơi biết điều khiển, cố gắng chèo thuyền đuổi theo. A Bích thở dài: “Nhà sư này quả là thông minh, việc gì cũng để ý một lát là làm được ngay.” A Châu nói: “Mình phải để y không mò ra được lối đi.” Nàng chèo mấy cái đưa con thuyền vào trong đám lá lăng um tùm. Trong Thái Hồ có hàng ngàn hàng vạn lối mòn, chiếc thuyền nhỏ chỉ cần vòng qua mấy khúc là đã chui tọt vào trong một con lạch nhỏ, Cưu Ma Trí không thể nào đuổi theo được.
Đoàn Dự nói: “Tiếc rằng huyệt đạo trên thân thể tôi chưa được giải, thành thử không thể chèo thuyền giúp hai vị tỉ tỉ được.” A Bích an ủi: “Đoàn công tử chở có lo, nhà sư kia không đuổi kịp đâu.”
Đoàn Dự nói: “Cơ quan trong Thính Vũ Cư kể cũng hay thật. Có ai mà ngờ được chiếc thuyền lại nằm ngay dưới cái ghế tỉ tỉ đánh đàn.” A Bích mỉm cười: “Đúng vậy, khi tôi mời công tử lại xem đàn, A Châu tỉ tỉ búng vào sợi dây một tiếng làm hiệu, người bên ngoài nghe thấy mở cửa hầm ra, tất cả đều rơi xuống hết.” Ba người cùng cười ha hả, A Bích vội bịt miệng lại nói: “Đừng để lão ác tăng nghe thấy.”
Bỗng nghe từ xa có tiếng văng vẳng vọng tới: “A Châu cô nương, A Bích cô nương, hai cô bơi thuyền trở lại mau! Bần tăng đã là bạn với công tử Mộ Dung có lý đâu lại làm khó dễ các cô?” Chính là tiếng của Cưu Ma Trí, giọng điệu dịu dàng thân thiết khiến người ta bất giác không tự chủ được nữa, muốn làm theo ý lão.
A Châu bần thần nói: “Đại hòa thượng gọi chúng ta trở lại, tất không gia hại đâu.” Đoạn nàng dừng chèo không bơi nữa, trong lòng dường như có vẻ xao xuyến. A Bích cũng nói: “Vậy chúng ta quay lại thôi.” Đoàn Dự nội công vô cùng hùng mạnh nên không bị thanh âm của Cưu Ma Trí mê hoặc, vội nói: “Lão bịp đấy! Tin thế nào được?” Lại nghe giọng ôn hòa trìu mến của Cưu Ma Trí chậm rãi lọt vào tai: “Hai vị tiểu cô nương ơi! Công tử nhà các cô đã về tới, cần gặp các cô ngay, các cô mau mau bơi thuyền trở lại.” A Châu đáp: “Vâng!” rồi lái thuyền quay đầu lại.
Đoàn Dự nghĩ thầm: “Nếu quả công tử Mộ Dung trở về thì chính y lên tiếng gọi A Châu A Bích, hà tất phải mượn lão gọi hộ? Đúng là lão giở phép thu hồn phách cực kỳ lợi hại ra đây.” Chàng chợt nghĩ ra, giơ tay ra ngoài thuyền, hái mấy lá lăng trên mặt nước, vo lại thành một cục nhét vào tai A Bích, sau đó lại bịt vào tai A Châu.
A Châu vừa định thần, thất thanh kêu lên: “Chao ôi! Nguy hiểm thực!” A Bích cũng kinh hoàng nói: “Gã hòa thượng đó biết phép nhiếp hồn. Ta bị lão lung lạc mất rồi.” A Châu quay đầu thuyền lại hết sức chèo, kêu lên: “A Bích, chèo mau lên, mau lên!”
Hai người ra sức chèo chiếc thuyền con đi sâu vào bãi lăng. Một hồi sau, tiếng gọi của Cưu Ma Trí nhỏ dần, sau cùng không còn nghe thấy nữa. Đoàn Dự ra hiệu cho hai cô gái bỏ lá lăng đang bịt lỗ tai ra.
A Bích xoa ngực, thở hắt ra nói: “Sợ quá mất thôi. A Châu tỉ tỉ, mình phải làm sao bây giờ?” A Châu đáp:”Mình cứ lênh đênh trên mặt hồ này, đói thì bóc hồng lăng hoặc móc ngó sen lên mà ăn, dù có ở đây mười ngày hoặc nửa tháng cũng chẳng hề gì.” A Bích mỉm cười nói: “Phương cách đó kể cũng hay, không biết ý Đoàn công tử ra sao?” Đoàn Dự vỗ tay cười đáp: “Phong cảnh trên hồ tại hạ hận không có bốn mắt mà ngắm, huống chi có hai cô làm bạn, ở đây ngao du mươi ngày, thật sướng hơn tiên.” A Bích dẩu môi cười: “Mình đi về hướng đông nam thì dưới đó sông lạch thật nhiều, trừ bọn chài lưới địa phương ra, không ai tìm được đường lối. Nếu như mình vào tới Bách Khúc Hồ, quyết nhiên gã hòa thượng kia không thể đuổi tới nơi được.
Hai cô gái thư thả chèo thuyền, Đoàn Dự nằm nhìn lên những vì sao lấp lánh trên cao, ngoài tiếng mái chèo khuấy nước và tiếng lá lăng chạm vào thành thuyền kêu loạt soạt thì bốn bề tĩnh mịch không một tiếng động, gió mát trên mặt hồ như ướp mùi hoa thơm dìu dịu, nghĩ thầm: “Nếu cứ được thế này mãi thì thật sướng biết bao”. Chàng lại nghĩ “A Châu, A Bích hai vị tỉ tỉ tốt bụng như thế, xem ra Mộ Dung công tử cũng không phải là hạng người hung ác. Huyền Bi đại sư chùa Thiếu Lâm và sư huynh của Hoắc tiên sinh không biết đã bị ai giết? Ôi, trong nhà ta biết bao nhiêu tì nữ phục dịch nhưng có ai sánh được với A Châu, A Bích hai vị tỉ tỉ?”.
Một lúc lâu sau, chàng đang nhắm mắt sắp thiu thiu ngủ bỗng nghe A Bích cười khúc khích nói: “A Châu tỉ tỉ, chị lại đây.” A Châu cũng hạ giọng hỏi nhỏ: “Gì thế?” A Bích giục: “Chị cứ lại đây rồi em nói cho nghe.” A Châu gác mái giầm, đi đến cuối thuyền ngồi xuống. A Bích ôm lấy vai nàng, ghé tai mỉm cười nói nhỏ: “Hai chị em mình làm cách nào cho khỏi mắc cỡ đây.” A Châu cười hỏi: “Chuyện gì vậy?” A Bích nói: “Nói nhỏ thôi. Đoàn công tử đã ngủ chưa?” A Châu đáp: “Không biết nữa, ngươi hỏi thử xem.” A Bích nói: “Hỏi không được. A Châu tỉ tỉ, em… em… em muốn tiểu tiện.”
Hai người nói nhỏ như muỗi kêu nhưng Đoàn Dự nội công cực kỳ hùng hậu nên nghe rõ mồn một, nhưng chàng không dám động đậy, giả vờ ngáy nhè nhẹ để hai nàng khỏi thẹn.
Chỉ nghe A Châu hạ giọng cười nói: “Đoàn công tử ngủ rồi. Ngươi cứ việc đi tiểu đi.” A Bích ngượng nghịu đáp: “Em không dám đâu, lỡ nửa chừng Đoàn công tử tỉnh dậy thì biết làm thế nào?” A Châu nhịn không nổi cười rúc rích, vội vàng đưa tay bịt miệng nói nhỏ: “Có gì mà ngượng? Ai chẳng phải đại tiểu tiện, có gì lạ đâu?” A Bích cầm tay A Châu lắc lắc, năn nỉ: “Chị ơi, nghĩ giùm em xem làm cách nào đây?” A Châu đáp: “Để ta che cho ngươi, nếu như Đoàn công tử tỉnh dậy cũng không nhìn thấy được.” A Bích nói: “Thế nhưng có tiếng động, nghe chảy xuống nước, em… em…” A Châu cười đáp: “Thế thì làm cách nào được bây giờ? Ngươi cứ đi đi, Đoàn công tử không nghe thấy đâu.” A Bích nói: “Không được đâu, có người bên cạnh, em không đi được.” A Châu đáp: “Không đi được thì càng tốt.” A Bích bí quá dường như muốn khóc, chỉ rên rỉ: “Làm sao bây giờ? Làm sao bây giờ?”
A Châu lại cười khúc khích nói: “Cũng tại ngươi hết, ngươi không nói ra, ta cũng quên khuấy đi, bây giờ ngươi nói tới nói lui, làm ta cũng mắc đi đại tiện. Thôi đành tới phủ nhà mợ Vương chỉ cách chừng nửa quãng chín, mình chèo tới đó đi ngoài luôn cũng được.” A Bích nói: “Vương thái thái không cho chúng mình léo hánh đến đâu, Bà ấy dữ như chằn, không chừng vừa gặp đã cho mỗi đứa mấy cái tát tai.” A Châu đáp: “Có chi đâu mà sợ. Vương thái thái với lão thái thái hay cãi nhau, nhưng bà lão nay đã mất rồi. Ta với ngươi bất quá chỉ là kẻ ăn người ở, mình có làm gì đâu mà bị tát tai? Mình len lén lên bờ, đi xong lại xuống thuyền, thái thái làm sao biết được?” A Bích đáp: “Vậy cũng được.” Nàng hơi trầm ngâm bỗng nói: “Hay mình kêu Đoàn công tử lên bờ đi ngoài luôn, nếu không… nếu không anh ta tỉnh dậy cười mình thì thẹn chết.”
A Châu cười khẩy nói: “Sao người chăm sóc chàng kỹ quá vậy? Không sợ công tử biết mà ghen hay sao?” A Bích thở dài nói: “Những chuyện nhỏ nhặt công tử đâu có để tâm đến làm chi. Mình chỉ là hai con tiểu a đầu, công tử có bao giờ nghĩ tới.” A Châu nói: “Nhưng ta cứ nghĩ đến thì sao? A Bích muội tử, ngươi tối ngày sáng đêm nghĩ đến công tử, việc gì phải giấu.” A Bích thở hắt ra, không trả lời. A Châu vỗ nhẹ lên vai nàng, nói nhỏ: “Ngươi vừa mắc tiểu tiện lại vừa nhớ đến công tử, hai chuyện nói chung thật tức cười quá.” A Bích cũng cười khúc khích nói: “Chị cứ nói giỡn chẳng đâu vào đâu.”
A Châu quay trở lại đầu thuyền cầm mái chèo bơi tiếp. Hai cô gái bơi một hồi thì trời bắt đầu hửng sáng.
Đoàn Dự nội công thâm hậu, huyệt đạo không bị bế lâu, trước đây cứ độ vài giờ Cưu Ma Trí phải điểm thêm mấy cái. Đến lúc này chàng cảm thấy nội tức bắt đầu thông, các huyệt bị điểm từ từ mở ra. Chàng vươn vai ngồi dậy nói: “Tại hạ ngủ được một giấc dài, còn hai vị tỉ tỉ thật là mệt nhọc. Có một việc không tiện nói, xin hai vị đừng trách, ta… ta muốn đi tiểu tiện.” Chàng nghĩ thầm mình tự ý nói ra cho hai cô gái khỏi ngượng ngập.
A Châu, A Bích hai cô cùng bật cười. A Châu nói: “Cũng chẳng còn xa, chúng ta sẽ đến nhà một người họ Vương, lúc đó công tử lên bờ cho thoải mái.” Đoàn Dự đáp: “Thế thì tiện quá.” A Châu bỗng dưng nghiêm mặt nói: “Có điều Vương thái thái tính tình rất là khó chịu, không cho đàn ông lạ lên nhà. Công tử lên bờ rồi lập tức quay trở lại thuyền ngay, đừng ở lại lâu cho khỏi phiền phức.” Đoàn Dự đáp: “Được, tại hạ hiểu rồi”.
Chiếc thuyền đi tới một rặng liễu, xa xa nhìn thấy trên bờ hồ hoa trà rực rỡ, phản chiếu xuống nước đỏ rực một vùng. Đoàn Dự buột miệng khẽ reo lên một tiếng: “Ô kìa”, A Châu hỏi: “Cái gì thế?” Đoàn Dự chỉ vào bụi hoa nói: “Đây là cây sơn trà ở nước Đại Lý chúng tôi. Làm sao ở Thái Hồ cũng trồng được thứ Điền trà này nhỉ?” Nên biết rằng thứ sơn trà ở Vân Nam có danh tiếng hơn cả nên người ta gọi là Điền trà, Điền là tên thường gọi của Vân Nam. A Châu nói: “Đúng thế! Gia trang này có tên là Mạn Đà Sơn Trang, trồng toàn là hoa sơn trà.” Đoàn Dự nghĩ thầm: “Sơn trà còn có tên là hoa Mạn Đà La. Trong việc này lấy tên là Mạn Đà, để xem có những loại danh chủng nào”.
A Châu khua mái chèo đưa con thuyền tới bên bờ nước dưới mấy cây sơn trà. Chàng đưa mắt nhìn qua thấy trên bờ toàn những hoa trà đỏ trắng xen nhau, không có nhà cửa chi hết. Đoàn Dự sinh trưởng ở Đại Lý, hoa trà đối với chàng chẳng có chi là lạ, nghĩ thầm: “Nơi đây sơn trà tuy nhiều nhưng xem chừng chẳng có giai phẩm, có lẽ những loại quí trồng bên trong trang viện”.
A Châu ghé thuyền vào sát bờ, mỉm cười nói: “Đoàn công tử, mình lên một lát rồi xuống ngay” Nàng nắm tay A Bích toan nhảy lên bờ, bỗng nghe tiếng chân bước sột soạt trong rừng hoa rồi một ả tiểu hoàn áo xanh đi ra, trong tay cầm một bó hoa.
Ả này nhìn thấy A Châu, A Bích vội chạy ra bờ hồ, tươi cười nói: “A Châu, A Bích! Các ngươi thật là lớn mật, dám lẻn tới đây. Phu nhân xuống lệnh: Lấy dao rạch ngang rạch dọc mặt hai đứa a đầu cho chúng nó hết còn đẹp như hoa như ngọc nữa.” A Châu cười đáp: “U Thảo tỉ tỉ này, thái thái đi vắng phải không?” U Thảo liếc nhìn Đoàn Dự rồi quay sang nhìn A Châu, A Bích cười nói: “Phu nhân còn bảo: Hai con nhãi đó còn đem cả đàn ông đến Mạn Đà Sơn Trang, phải chặt luôn hai chân gã.” Nàng chưa dứt lời đã cười khúc khích.
A Bích vuốt ngực nói: “U Thảo tỉ tỉ đừng có dọa, chị nói thật hay nói chơi đó?” A Châu cũng cười nói: “Ngươi đừng sợ, nếu như thái thái có nhà thì đời nào cô ả dám cười cợt như vậy? U Thảo muội tử ơi, thái thái đi đâu vậy?” U Thảo cười nói: “Ối giời, ngươi mấy tuổi mà đòi làm chị ta? Sao người đoán được là phu nhân không có nhà?” Rồi ả lại thở dài nói tiếp: “Hai em A Châu, A Bích ơi, mấy khi qua tới đây, ta muốn hai đứa ở chơi vài ngày, có điều…” Nói rồi nàng ta lắc đầu. A Bích nói: “Bộ ta không muốn ở lại đây chơi với ngươi ít lâu hay sao? U Thảo nè, chừng nào ngươi sang chơi bên ta, ta sẽ tiếp chuyện ngươi ba ngày ba đêm, chịu không?”. Hai cô gái vừa nói vừa nhảy lên bờ, A Bích ghé tai U Thảo nói mấy câu, U Thảo cười rộ lên, liếc nhìn Đoàn Dự, A Bích mặt bỗng đỏ bừng. U Thảo một tay nắm A Châu, một tay nắm A Bích nói: “Thôi mình vào nhà chứ?” A Bích quay lại nói: “Đoàn công tử, xin công tử ở nơi đây chờ một lát, bọn muội vào rồi ra ngay.” Đoàn Dự đáp: “Được rồi!” Chàng nhìn theo ba cô a hoàn dắt tay nhau cười cười nói nói đi vào rừng hoa.
Đoàn Dự lên bờ, nhìn quanh quất không thấy ai liền đi ra sau một cây to tiểu tiện. Chàng xuống thuyền ngồi một hồi, không biết làm gì lại đứng lên nghĩ thầm: “Mình thử xem nơi đây hoa Mạn Đà La có giống nào hiếm lạ không.” Thuận chân vừa đi vừa xem hoa, chàng thấy ngoài sơn trà ra không còn một giống gì khác, ngay cả những loại hoa dại thông thường như Khiến Ngưu, Nguyệt Nguyệt Hồng, Tường Vi cũng không thấy. Sơn trà thì nhiều thật nhưng toàn những thứ bình thường, không có giống nào quý cả. Chàng đi được độ mươi trượng mới thấy nhiều loại khá hơn, thỉnh thoảng cũng có một vài bụi xem ra không phải thứ xoàng, có điều vun trồng không đúng cách nên nghĩ bụng: “Trang viện này không đáng gọi là Mạn Đà Sơn Trang, bao nhiêu giống quý bị trồng hỏng kiểu cả.”
Đến đây chàng chợt nghĩ: “Thôi mình quay lại đi thôi, kẻo A Châu và A Bích trở ra không thấy lại nóng ruột.” Đoàn Dự trở gót đi được mấy bước, bỗng kêu lên: “Thôi hỏng rồi”. Thì ra chàng tản bộ trong rừng, chỉ mải xem hoa trà mà quên để ý đường đi nước bước, bây giờ mới giật mình thấy đông một nẻo, tây một lối không biết đâu là đường về, quay trở lại chỗ buộc thuyền không phải dễ, đành nghĩ thầm: “Thôi mình cứ lần ra bờ hồ sẽ hay, bất luận là chỗ nào.”
Thế nhưng chàng càng đi càng lạc lối, chung quanh toàn những cảnh chưa từng qua, trong bụng hoảng thầm. Bất thình lình Đoàn Dự nghe thấy văng vẳng tiếng người nói chuyện, đúng là giọng A Châu. Chàng mừng quá nghĩ thầm: “Thôi mình ở đây chờ nàng ta, đợi nói chuyện xong rồi cùng về một lượt.”
Giọng A Châu nói: “Công tử vẫn mạnh khỏe, ăn uống cũng bình thường. Hai tháng nay công tử luyện môn Đả Cẩu Bổng, chắc là định tỷ thí với các nhân vật Cái Bang.” Đoàn Dự nghĩ thầm: “A Châu đang nói về Mộ Dung công tử. Mình chẳng nên nghe lỏm chuyện của người khác, nên đi xa xa một chút là hơn. Thế nhưng cũng chẳng nên đi xa quá, nếu không họ nói chuyện xong mình cũng không biết được”. Giữa lúc đó bỗng nghe tiếng một cô gái thở dài.
Tiếng thở dài này lọt vào tai Đoàn Dự làm cho chàng bất giác toàn thân run bần bật, trái tim nhảy loạn lên, hai má nóng bừng bừng. Chàng tự hỏi thầm: “Sao trên đời này lại có người mới thở dài đã nghe êm tai đến thế?”. Rồi một giọng u buồn cất tiếng hỏi: “Chuyến này chàng đi đâu?” Đoàn Dự mới nghe tiếng thở dài đã thấy choáng váng, giờ lại nghe nàng ta nói một câu, toàn thân chàng máu như sôi lên sùng sục. Trong lòng vừa cay đắng vừa đau khổ, phần vì ngưỡng mộ, phần vì ghen tuông nói sao cho hết. Chàng lẩm bẩm: “Rõ ràng nàng hỏi chuyện Mộ Dung công tử. Nàng đối với gã thân thiết là thế, nhớ mong là thế, Mộ Dung công tử ơi, nhà ngươi sao mà may mắn đến vậy?
Lại nghe A Châu đáp: “Lúc công tử ra đi có nói là đến Lạc Dương, có cả Đặng đại ca đi theo. Xin cô nướng cứ yên lòng.”
Người con gái kia chậm rãi nói: “Hai đại thần kỹ Đả Cẩu Bổng Pháp và Hàng Long Thập Bát Chưởng của Cái Bang là bí mật của họ không truyền ra ngoài. Tàng phổ của bổng pháp và chưởng pháp ghi trong Hoàn Thi Thủy Các bên đó và Lang Hoàn Ngọc Động ở đây đều khiếm khuyết không đầy đủ. Phương pháp vận công hoàn toàn không có, công tử nhà mi làm sao mà luyện được?” A Châu đáp: “Công tử bảo rằng: Tâm pháp của Đả Cẩu Bổng Pháp cũng do con người sáng tạo nên, tại sao ta lại không nghĩ ra được? Có được bổng pháp rồi, mình suy nghĩ để thêm tâm pháp vào hẳn là không khó.”.
Đoàn Dự nghĩ thầm: “Lời của Mộ Dung Công tử quả là hữu lý, xem ra y không những thông minh mà còn đầy chí khí.” Thế nhưng lại nghe người con gái kia thở dài một tiếng rồi nói: “Dẫu có sáng tác được đi chăng nữa, cũng phải mười năm tám năm, chứ ngày một ngày hai làm sao xong được? Các ngươi có xem công tử luyện bổng pháp không? Có thấy chỗ nào khó khăn trì trệ không?” A Châu đáp: “Bổng pháp này công tử đã luyện thành thục lắm rồi, từ đầu chí cuối tựa hồ nước chảy mây trôi…” Cô gái kia thất thanh kêu lên một tiếng nói: “Thế là hỏng rồi! Có thực…chàng sử bổng mau lẹ lắm không?” A Châu đáp: “Vâng! Có gì chưa được hay sao?” Người con gái kia nói: “Dĩ nhiên là sai rồi. Tuy ta không biết tâm pháp của Đả Cẩu Bổng Pháp nhưng từ bổng pháp mà suy, có một số đường phải càng chậm càng hay, có đường thì phải lúc nhanh lúc chậm, trong chậm có nhanh, trong nhanh có chậm, không còn nghi ngờ gì nữa. Chàng… chàng chỉ cố cho nhanh, đến khi động thủ với người của Cái Bang, e rằng… e rằng.., các ngươi… có cách gì đưa tin được đến chỗ công tử không?”
A Châu “Ồ” lên một tiếng nói: “Bọn tiểu tỳ không biết công tử lúc này đang ở đâu, cũng không biết đã gặp các trưởng lão của Cái Bang chưa. Khi ra đi công tử có nói là Cái Bang nghi oan cho chúng ta giết Mã phó bang chủ của họ, công tử đến Lạc Dương sẽ phân trần một phen, chưa chắc đã phải động thủ. Nếu không thì công tử với Đặng đại ca hai người làm sao địch được số đông? Chỉ ngại hai bên ngôn ngữ bất đồng… nói năng chưa kịp rõ ràng…”
A Bích hỏi lại: “Cô nương, môn Đả Cẩu Bổng Pháp nếu đánh nhanh thì thực là không ổn hay sao?” Thiếu nữ đáp: “Dĩ nhiên là không ổn, còn thực giả gì nữa? Sao lúc chàng… chàng ra đi, không đến đây gặp ta?” Nàng ta vừa nói vừa dậm chân nhè nhẹ, tỏ ra bực bội, lại có vẻ lo lắng, tiếng dậm chân quả là dịu dàng dễ nghe.
Đoàn Dự rất lấy làm kỳ, nghĩ thầm: “Ta ở Đại Lý nghe người ta nói đến Cô Tô Mộ Dung là vừa sợ hãi vừa kính trọng. Thế nhưng nghe cô nương này nói, dường như võ nghệ của Mộ Dung công tử còn phải nhờ nàng chỉ điểm. Không lẽ một cô thiếu nữ nhỏ tuổi như vậy lại có bản lãnh ghê gớm đến thế ư?” Chàng còn đang nghĩ ngợi xuất thần, đầu đụng ngay vào một cành cây đưa ngang, buột miệng kêu lên một tiếng, vội đưa tay lên bịt miệng thì đã không kịp nữa rồi.
Cô gái kia hỏi: “Ai đó?” Đoàn Dự biết không còn trốn tránh được nữa, liền tằng hắng một tiếng, từ sau bụi cây nói: “Tại hạ Đoàn Dự, mải mê thưởng ngoạn kỳ hoa dị thảo trong quí trang vô tình lỡ bước tới đây, xin được thứ tội.” Cô gái kia hỏi nhỏ: “A Châu! Phải chăng đây là vị tướng công cùng tới đây với các ngươi?” A Châu vội đáp: “Thưa phải! Xin cô nương đừng để tâm, chúng tôi đi ngay bây giờ.” Thiếu nữ kia đáp: “Hãy khoan! Ta muốn viết một phong thư cho chàng, dặn là nếu như bất đắc dĩ phải động thủ với người của Cái Bang thì nhất quyết chớ có dùng Đả Cẩu Bổng Pháp, chỉ nên dùng võ công của mình thôi. Không thể nào gậy ông đập lưng ông được đâu! Các ngươi liệu cách mà đưa đến cho công tử.” A Châu tỏ vẻ ngần ngại đáp: “Cái đó… thái thái từng dặn là…” Thiếu nữ hỏi: “Sao? Bọn mi chỉ nghe lời phu nhân, không nghe lời ta chăng?” Trong giọng nàng dường như có vẻ hơi giận. A Châu vội đáp: “Chỉ cần cô nương không để cho thái thái hay, tì tử dĩ nhiên là tuân lệnh, huống chi đây là vì công tử.” Cô gái nói: “Hai đứa theo ta đến thư phòng để lấy thư.” A Châu dường như hơi miễn cưỡng, một hồi sau mới đáp: “Vâng!”
Đoàn Dự từ khi nghe cô gái thở dài, về sau càng nghe nàng nói càng thấy mê man. Giờ thấy nàng toan trở gót về phòng, chàng nghĩ bụng: “Nàng đi rồi, e rằng không còn dịp nào được gặp mặt nữa thì thật là thắc mắc suốt đời. Ta đành mạo phạm nhìn cho thấy mặt rồi bị trách mắng gì cũng chịu”. Chàng thu hết cản đảm nói: “A Bích tỉ tỉ, cô ở lại đây với tôi được không?” Chàng vừa gọi vừa bước tới. Thiếu nữ nghe thấy chàng đi tới vội la lên một tiếng “Ô hay” rồi quay đi.
Đoàn Dự ở trong bụi cây bước ra, chỉ thấy một nữ lang mặc áo tơ màu cánh sen đang nhìn lên những bông hoa, thân hình mảnh dẻ, tóc dài buông xõa xuống lưng, chỉ buộc hờ bằng một dải lụa màu bạc, Đoàn Dự mới trông thấy bóng dáng sau lưng nàng, bên mình như có khói mây vương tỏa, cốt cách ra vẻ thần tiên, dường như không phải người trần tục. Chàng liền vái dài nói: “Tại hạ Đoàn Dự xin bái kiến cô nương.”
Cô gái dậm chân nhè nhẹ, phụng phịu nói: “A Châu, A Bích! Các ngươi thật là rắc rối! Ta có gặp mặt nam giới bên ngoài bao giờ đâu?” Nói rồi, nàng đi thẳng về phía trước, qua mấy khúc quanh đã khuất vào trong bụi hoa mất rồi.
A Bích nhìn Đoàn Dự mỉm cười nói: “Đoàn công tử, vị cô nương đây rất khó tính khó nết. Thôi mình mau mau đi ra.” A Châu cũng mỉm cười nói: “May nhờ có Đoàn công tử đến giải vây, không thì thế nào cũng bị Vương cô nương bắt đưa thư rất là phiền phức. Hai cái mạng nhỏ xíu của chị em chúng tôi e rằng nguy mất.”
Đoàn Dự lật đật chạy ra bị nữ lang nói mấy câu làm cụt hứng, tưởng còn bị A Châu, A Bích oán ghét nữa là khác, nào ngờ lại được cảm ơn thật là ngoài dự tính. Chàng nhìn người con gái tuy đã đi xa nhưng hình bóng vẫn còn vấn vương trước mắt, cảm thấy bâng khuâng, lại ngẩn ngơ nhìn theo bóng nàng lẫn sau những lùm hoa.
A Bích giật nhẹ tay áo chàng, Đoàn Dự cũng không hay biết. A Châu cười nói: “Đoàn công tử, thôi mình đi.” Đoàn Dự chân như đóng đinh xuống đất, phải mất một chốc mới như choàng tỉnh hỏi lại: “Mình phải đi ngay hay sao?” Chàng thấy A Châu, A Bích đã cất bước đi trước nên đành lẽo đẽo theo sau, đi một bước lại ngoái đầu, quyến luyến mãi không thôi.
Ba người về đến thuyền, A Châu và A Bích liền cầm mái giầm chèo ngay. Đoàn Dự vẫn ngẩn ngơ nhìn những đóa hoa trà trên bờ, nghĩ bụng: “Đoàn Dự ta nếu như vô phúc, sao lại được nghe cô nương đó thở dài một tiếng thỏ thẻ mấy câu, rồi lại được thấy phong thái thần tiên kia? Mà nếu như có phúc, sao đến mặt nàng cũng chưa được ngó qua?” Chàng thấy những bụi hoa trà xa dần, trong lòng dâng lên một nỗi u hoài man mác. Bỗng ngay lúc đó, A Châu kêu lên một tiếng kinh hoàng, lắp bắp: “Thái thái… thái thái về kìa.”
Đoàn Dự quay đầu nhìn thấy trên mặt hồ một chiếc thuyền đang lướt tới như bay, trong chớp mắt đã đến gần. Trên đầu thuyền vẽ đầy các loại hoa sặc sỡ, đến gần mới thấy toàn là hoa trà. A Châu, A Bích vội đứng dậy khép nép cúi đầu, vẻ mặt cực kỳ nghiêm cẩn. A Bích luôn tay ra hiệu cho Đoàn Dự, bảo chàng cũng đứng lên. Đoàn Dự mỉm cười lắc đầu nói: “Bao giờ phu nhân bước ra đầu thuyền lên tiếng, ta sẽ đứng lên để tỏ lòng kính cẩn. Nam tử hán đại trượng phu không thể quá khúm núm hạ mình như thế.”
Bỗng từ trong khoái thuyền có tiếng đàn bà quát vọng ra: “Tên đàn ông nào dám to gan bén mảng đến Mạn Đà Sơn Trang đó? Mi không biết bất luận gã đàn ông nào đã vào đây đều bị chặt chân hay sao?” Giọng nói trong trẻo dễ nghe nhưng cực kỳ oai nghiêm. Đoàn Dự đáp: “Tại hạ Đoàn Dự trên đường lánh nạn đi ngang qua quí trang, thực không có ý đường đột chút nào, xin nghiêng mình tạ lỗi.” Người đàn bà kia hỏi: “Ngươi họ Đoàn ư?” Trong âm thanh có chiều ngạc nhiên, Đoàn Dự đáp: “Chính thế.”
Người kia lại nói tiếp: “A Châu, A Bích hai con nhãi kia đi quàng đi xiên phải chăng? Thằng lỏi Mộ Dung Phục điều hay không học, chỉ chuyên giở chuyện tầm phào.” A Châu đáp: “Khải bẩm thái thái, tiểu tì bị địch nhân đuổi gắt quá nên phải chạy tới Mạn Đà Sơn Trang. Công tử tiểu tì ra đi rồi. Việc tiểu tì đến đây, công tử quả không biết tí gì.” Người đàn bà trên thuyền cười khẩy: “Hứ, các ngươi chỉ được dẻo mồm cãi lý là hay. Không được đi đâu hết, mau theo ta.” A Châu, A Bích cùng đáp: “Dạ.” Hai nàng liền chèo chiếc thuyền con đi theo đằng sau, lúc này cách Mạn Đà Sơn Trang không xa mấy nên chỉ chốc lát đã nhìn thấy bờ.
Tiếng ngọc đeo loảng xoảng vang lên, trong thuyền thị nữ áo xanh xếp hàng đôi cầm trường kiếm đi ra, lưỡi kiếm sáng loáng, ánh kiếm lập lòe tựa hoa bay. Mười tám người xếp thành hai hàng, kiếm giữ ngang hông, lưỡi chĩa lên trời. Sau khi họ đã an vị, từ trong khoang lại bước ra một vị nữ lang. Đoàn Dự vừa nhìn thấy tướng mạo nữ lang, nhịn không nổi kêu lên một tiếng thất thanh, mồm há hốc tưởng như đang nằm mộng. Thì ra người đàn bà đó mặc áo dài màu vàng nhạt, từ y phục cho đến đồ trang sức hệt như pho ngọc tượng trong thạch động bên nước Đại Lý. Có điều nữ lang này tuy xinh đẹp nhưng đã đứng tuổi, trạc độ tứ tuần, còn pho tượng kia là một thiếu nữ chừng mười tám mười chín tuổi. Đoàn Dự sau cơn kinh hoàng nhìn kỹ lại tướng mạo mỹ phụ kia mới nhận ra là so với pho tượng ngọc thì mắt mũi miệng đều không bằng mà cũng nhiều tuổi hơn nên vẻ mặt dầy dạn phong trần, nhưng cũng giống đến năm sáu phần mười, A Châu, A Bích thấy Đoàn Dự cứ giương mắt nhìn phu nhân trừng trừng có vẻ cực kỳ vô lễ, trong bụng kêu khổ liên hồi, liên tiếp ra hiệu bảo chàng quay đi nơi khác nhưng đôi mắt Đoàn Dự vẫn dán chặt vào mặt bà ta. Vương phu nhân liếc mắt nhìn Đoàn Dự nói: “Gã này vô lễ. Trước hết chặt chân gã rồi mới móc mắt và cắt lưỡi.” Một ả thị nữ khom lưng đáp: “Xin vâng!” .
Đoàn Dự thót cả ruột, nghĩ thầm: “Giá như họ giết mình đi còn hơn. Đằng này họ chặt chân, móc mắt, cắt lưỡi, sống không sống được, chết chẳng chết cho, tội gì đâu mà to thế?” Đến bây giờ chàng mới thấy trong lòng sợ hãi, quay đầu lại nhìn A Châu, A Bích thì thấy hai cô mặt xám như gà cắt tiết, người đứng đờ ra như tượng gỗ.
Vương phu nhân lên bờ rồi, trên thuyền lại đi ra thêm hai tên thị nữ áo xanh nữa, kéo theo sau hai người đàn ông mặt mày ủ rũ tay bị xích sắt khóa chặt. Một người mi thanh mục tú, trông ra dáng con nhà giàu có, còn một người Đoàn Dự nhận ra được là một đệ tử phái Vô Lượng tên là Đường Quang Hùng. Đoàn Dự lạ quá: “Tên này ở tận Đại Lý sao lại bị Vương phu nhân bắt đem tới Giang Nam làm gì?”
Bỗng nghe Vương phu nhân quay sang hỏi Đường Quang Hùng: “Rõ ràng mi là người nước Đại Lý, sao không chịu nhận đi?” Đường Quang Hùng đáp: “Tại hạ ở Vân Nam, quê quán không thuộc về nước Đại Lý.” Vương phu nhân lại hỏi: “Thế quê mi cách Đại Lý bao xa?” Đường Quang Hùng đáp: “Hơn bốn trăm dặm.” Vương phu nhân nói: “Chưa tới năm trăm dặm thì cũng coi như người Đại Lý rồi. Đem y chôn sống dưới gốc Mạn Đà La để bón cho cây.” Đường Quang Hùng hoảng hốt kêu lên: “Nhưng tại hạ phạm tội gì mới được chứ? Nếu không rõ thì chết cũng không nhắm mắt.” Vương phu nhân cười khẩy: “Cứ là người Đại Lý hoặc người họ Đoàn mà gặp ta là bị chôn sống, chỉ có thế thôi. Mi đến Tô Châu làm chi? Đã dám đến Tô Châu lại dám mở mồm nói giọng Đại Lý, ba la bộ lô nơi quán rượu là sao? Tuy mi không phải ở Đại Lý, nhưng là người lân cận nước Đại Lý thì cũng thi hành một luật.”
Đoàn Dự nghĩ thầm: “Ối trời, phải chăng mụ ta tính nói xỏ mình? Ta chẳng cần chờ mụ hỏi, cứ nhận trước đi cho rồi.” Chàng bèn lớn tiếng nói: “Ta là người nước Đại Lý, lại chính trong họ Đoàn. Ngươi muốn chôn sống ta thì hạ thủ ngay đi!” Vương phu nhân lạnh lùng đáp: “Ngươi đã báo danh rồi. Tên là Đoàn Dự chứ gì? Được lắm! Người họ Đoàn nước Đại Lý đâu có được chết dễ dàng như thế?”
Phu nhân vẫy tay một cái, tên thị nữ lôi ngay Đường Quang Hùng đi. Không biết y bị điểm huyệt hay bị trọng thương mà không thấy kháng cự chút nào, chỉ kêu ầm lên: “Thế gian sao lại có cái luật lệ kỳ dị như vậy? Mấy trăm vạn người nước Đại Lý liệu mụ có giết hết được không?” Thế nhưng y bị kéo vào trong rừng hoa mỗi lúc một xa, tiếng kêu cũng nhỏ dần.
Vương phu nhân nghiêng đầu đi một chút nhìn chàng thanh niên mày thanh mắt sáng hỏi: “Mi có điều chi muốn nói nữa chăng?” Chàng thanh niên vội quỳ rạp xuống đất, dập đầu lạy luôn mấy cái nói: “Gia phụ làm quan tại triều, dưới gối chỉ có mình tiểu nhân là con. Xin phu nhân tha mạng cho. Dù phu nhân muốn điều chi, gia phụ cũng nhất định vâng theo.” Vương phu nhân lạnh lùng đáp: “Cha mi làm quan lớn trong triều, lẽ nào ta không biết? Ngươi muốn sống cũng chẳng khó gì, hôm nay về nhà giết vợ đi, rồi sáng mai làm cho đủ lễ nghi mà cưới Miêu thị, kẻ tư tình với mi. Mi có bằng lòng không?” Chàng thanh niên ấp úng: “Về việc đang tay… giết vợ, tiểu nhân không dám làm. Còn việc mối lái cưới xin đàng hoàng để lấy Miêu thị thì song thân tiểu nhân nhất định không chịu. Không phải là tiểu nhân…”. Y chưa dứt lời phu nhân đã ra lệnh: “Đem chôn sống đi!” Tên thị nữ đang dắt y chỉ “vâng” một tiếng rồi lôi xệch đi. Chàng thanh niên sợ run bắn người, vội nói: “Tiểu nhân xin… xin tuân mệnh.” Vương phủ nhận nói: “Tiểu Thúy! Mi áp giải gã về thành Cô Tô, phải chính mắt nhìn thấy gã ra tay giết vợ, cùng Miêu cô nương thành thân rồi hãy về đây phục mệnh.” Tiểu Thúy đáp lời: “Dạ!” Ả lôi gã công tử kia lên bờ đi về phía bến đò, xuống một con thuyền nhỏ.
Gã kia miệng vẫn năn nỉ: “Xin phu nhân mở lượng từ bi, vợ chồng tiểu nhân không thù không oán, phu nhân lại không quen biết Miêu cô nương. Tiểu nhân cũng chưa từng quen biết phu nhân, hà tất phu nhân bắt tiểu nhân giết vợ để lấy người khác làm chi? Từ nay tiểu nhân quyết không dám làm điều gì đắc tội nữa.” Vương phu nhân nói: “Mi đã có vợ rồi, sao còn đi dùng lời ngon ngọt để tán tỉnh các cô gái khác? Ta không biết thì thôi, một khi đã biết ra đều xử theo đường lối này. Vả lại mi có phải mới phạm lần đầu đâu, còn oán trách nỗi gì? Tiểu Thúy, vụ này là vụ thứ mấy rồi?” Tiểu Thúy đáp: “Những chỗ tiểu tì nghe Thường Thục, Đan Dương, Vô Tích, Gia Hưng cả thảy bảy vụ. Còn những vụ ở chỗ khác thì phu nhân hỏi Tiểu Lan, Tiểu Thi sẽ rõ.” Gã công tử kia nghe cô ta liệt kê ra như thế, bủn rủn cả người, luôn miệng kêu than, Tiểu Thúy quạt mái chèo, bơi thuyền đi luôn.
Đoàn Dự thấy Vương phu nhân hành động cực kỳ ngang ngược, không đếm xỉa đến lý lẽ thì miệng há hốc ra đứng chết trân, trong bụng chỉ nghĩ được bốn chữ: “Lý nào lại thế?”, tự nhiên buột miệng: “Lý nào lại thế? Lý nào lại thế?” Vương phu nhân hừ một tiếng rồi nói: “Trên đời chẳng có việc chi ta phải đợi có lý mới làm.”
Đoàn Dự vừa thất vọng lại vừa khó chịu. Chàng nhớ lại bữa trước vào thạch động núi Vô Lượng, được thấy pho tượng thần tiên liền xiết bao ngưỡng mộ. Bây giờ con người trước mắt tuy hình dáng tương tự nhưng lời ăn tiếng nói, cử chỉ hành vi lại chẳng khác gì yêu ma quỉ quái.
Chàng còn đang cúi đầu ngơ ngẩn thì thấy bốn đứa nữ tì quay vào khoang thuyền bưng ra bốn chậu hoa. Chàng vừa trông thấy, tự nhiên tinh thần lại thấy phấn khởi. Nguyên bốn chậu hoa này đều là những giống sơn trà rất hiếm. Trong thiên hạ nói về sơn trà thì Đại Lý đứng đầu, mà phủ Trấn Nam vương thì phải nói là số một trong nước Đại Lý. Đoàn Dự từ bé đã quen ngắm hoa trà, mỗi khi nhàn rỗi vẫn thường ngồi cùng bọn trồng hoa bàn bạc phê bình, nên dở hay xấu tốt chàng thuộc nằm lòng chẳng cần học cũng biết, chẳng khác nào con nhà nông phân biệt lúa má hay con cháu ngư ông sành sỏi các loại cá tôm. Chàng đi lang thang từ sáng chưa thấy gốc hoa nào được gọi là giai phẩm, không khỏi thấy bốn chữ Mạn Đà Sơn Trang danh cao hơn thực, bây giờ nhìn thấy bốn chậu hoa này liền tấm tắc: “Quả nhiên cũng có được ít nhiều”.
Bỗng nghe Vương phu nhân gọi: “Tiểu Trà! Bốn chậu Mãn Nguyệt này khó kiếm lắm đấy! Mi phải trông nom chăm chút nghe!” Ả thị nữ tên gọi Tiểu Trà đáp: “Vâng!” Đoàn Dự nghe bà ta nói sai bét liền bật ra một tiếng cười khẩy. Vương phu nhân lại tiếp: “Đi trên mặt hồ gió to, bốn chậu trà để luôn trong thuyền mấy ngày, thiếu ánh mặt trời chiếu vào, mi phải đem ra phơi nắng rồi bón thêm phân cho nó.” Tiểu Trà lại “vâng” một tiếng. Đoàn Dự không còn nhịn thêm được nữa, lớn tiếng cười ha hả.
Vương phu nhân nghe tiếng cười có vẻ khác lạ, bèn hỏi: “Mi cười gì?” Đoàn Dự đáp: “Ta buồn cười cho bà đã chẳng biết tí gì về sơn trà mà lại học đòi trồng trà. Những loại giai phẩm như thế này vào tay bà thật có khác gì hồng cho chuột vọc, ngọc để ngâu vầy, đem đàn chụm lửa, bắt hạc nấu canh, thật là uổng phí. Tiếc thay, tiếc thay! Đau lòng, đau lòng!”
*****
Nguồn: truyenkimdung


