Dương Quá ậm ừ, óc vẫn nghĩ đến sự vận hành kinh mạch của nội công bản môn. Nội công nói trong “Ngọc nữ tâm kinh” hoàn toàn dựa vào khí thuần âm đả thông kinh mạch, bên trong cơ thể cực lạnh, mặt ngoài cơ thể lại tỏa khí nóng, đến nỗi khi luyện tập phải cởi quần áo cho khí nóng tỏa ra hết, không được ứ trệ chút nào, nếu bị khí lạnh của cái giường hàn ngọc dồn ngược vào trong, thì sẽ bị nội thương trí mạng. Chàng nghĩ: “Tại sao Trùng Dương tổ sư nói rằng hàn ngọc trị được các chứng bệnh trầm kha, vô phương cứu chữa? Cái diệu lý tương sinh tương khắc bên trong, mình phải hiểu cho rõ mới được”. Chàng thấy Tiểu Long Nữ nhắm mắt có vẻ mệt mỏi, bèn nói:
– Nàng ngủ đi, ta sẽ ngồi hầu bên nàng!
Tiểu Long Nữ vội mở mắt, nói:
– Không, thiếp không mệt đâu. Đêm nay đôi ta đừng ngủ.
Nàng rất sợ mình bị thương nặng, ngủ rồi sẽ không thức dậy được nữa, vĩnh viễn không còn thấy mặt Dương Quá, nên nói:
– Chàng nói chuyện với thiếp đi. Này, chàng có mệt không?
Dương Quá lắc đầu, mỉm cười, nói:
– Nàng không muốn ngủ thì đừng ngủ, nhưng cứ nhắm mắt lại mà dưỡng thần!
Tiểu Long Nữ nói:
– Vâng!
Nàng từ từ nhắm mắt lại, nói nhỏ:
– Sư phụ từng nói có một điều đến lúc chết cũng không hiểu nổi. Quá nhi rất thông minh, thử nghĩ hộ xem.
Dương Quá hỏi:
– Là việc gì?
Tiểu Long Nữ nói:
– Sư phụ đã điểm huyệt tên ác nhân nọ, không hiểu tại sao sư tỷ lại đi giải huyệt cho hắn?
Dương Quá nghĩ một lát, cảm thấy Tiểu Long Nữ ngả hẳn người vào mình, hơi thở rất yếu, đã ngủ thiếp đi.
Dương Quá ngắm khuôn mặt nàng, trong đầu dồn dập bao ý nghĩ, lát sau, một ngọn nến bừng lên rồi tắt vì đã cháy hết. Chàng bỗng nhớ ở đảo Đào Hoa, trong một trai phòng có đôi liễn: “Xuân tàm đáo tử ti phương tận, Lạp cự thành khôi lệ thủy can”°( °春蠶到死絲方盡,蠟炬成灰淚始乾–Con tằm đến thác tơ đành dứt, nến sáp thành tro lệ mới thâu – Vô đề, Lý Thương Ẩn).
Đó là hai câu Đường thi, Hoàng Dược Sư thương nhớ người vợ đã khuất nên viết treo ở nơi ngày ngày ngồi đọc sách. Dương Quá hồi nhỏ nhìn thấy không để ý, bây giờ chính chàng lâm vào tình cảnh tương tự, mới ngẫm ra ý vị của hai câu ấy, đang đau lòng thì đột nhiên trước mắt tối sầm, ngọn nến còn lại cũng tắt nốt. Chàng nghĩ: “Hai ngọn nến kia giống như ta và Long nhi, một ngọn cháy hết, ngọn thứ hai cũng tắt theo”.
Chàng ngồi xuất thần, bỗng nghe Tiểu Long Nữ thở dài nói, giọng rầu rầu:
– Thiếp không muốn chết, Quá nhi, thiếp không muốn chết đâu, đôi ta phải được sống với nhau nhiều năm.
Dương Quá nói:
– Phải, Long nhi sẽ không chết, dưỡng thương một thời gian, nàng sẽ khỏi thôi. Hiện giờ ngực nàng cảm thấy thế nào?
Tiểu Long Nữ không trả lời, câu vừa nói chỉ là lời trong mơ.
Dương Quá sờ tay lên trán nàng, thấy nóng rực.
Chàng vừa luống cuống vừa đau đớn nghĩ: “Lý Mạc Sầu tác ác đa đoan, lúc này vẫn sống yên lành. Long nhi suốt đời chưa từng làm một việc gì hại người, sao lại phải chết yểu? Trời kia có mắt hay không vậy?”
Chàng vốn không biết sợ trời sợ đất gì hết, thích gì làm nấy, nhưng hiện tại lâm vào cảnh tuyệt vọng, bàng hoàng vô kế khả thi. Chàng nhẹ nhàng đặt Tiểu Long Nữ nằm xuống giường, rồi quì xuống đất, lầm rầm khấn:
– Lạy trời từ bi, phù hộ độ trì cho Long nhi khỏe lại con xin… con nguyện làm…
Để Tiểu Long Nữ được sống, có việc gì mà chàng không sẵn sàng làm kia chứ.
Chàng đang khấn, thì nghe Tiểu Long Nữ nói:
– Là Âu Dương Phong, Tôn bà bà bảo nhất định là Âu Dương Phong! … Quá nhi, Quá nhi, chàng đâu rồi?
Nàng đột nhiên hoảng hốt gọi to và ngồi bật dậy.
Dương Quá vội ngồi lên mép giường, cầm tay nàng, nói:
– Quá nhi đây!
Trong giấc mơ, Tiểu Long Nữ cảm thấy thân mình không có chỗ dựa, choàng tỉnh, thấy Dương Quá vẫn ngồi bên cạnh, thì rất mừng.
Dương Quá nói:
– Nàng yên tâm, suốt đời ta sẽ không xa nàng. Sau này nếu ra khỏi cổ mộ, ta cũng sẽ không rời nàng nửa bước.
Tiểu Long Nữ nói:
– Thế giới bên ngoài quả nhiên có nhiều thứ lạ hơn ở đây, nhưng ra ngoài đó thiếp sợ lắm.
Dương Quá nói:
– Hiện tại đôi ta chẳng có gì phải sợ. Vài tháng nữa, nàng khỏe lại rồi, đôi ta sẽ cùng đi xuống phương nam. Nghe đồn vùng Lĩnh Nam quanh năm ấm áp như mùa xuân, hoa nở không tàn, lá xanh không rụng, đôi ta cũng khỏi cần sử dụng quyền kiếm, chỉ việc làm ruộng, nuôi gà nuôi vịt, sinh một đàn con, nàng bảo như vậy có thích hay không?
Tiểu Long Nữ mơ màng nói nhỏ:
– Vĩnh viễn khỏi cần sử dụng quyền kiếm, thế thì hay quá! Không ai đến gây sự với đôi ta, đôi ta cũng không phải đánh nhau với ai, chỉ việc làm ruộng, nuôi gà nuôi vịt, ôi, nếu thiếp có thể sống…
Đột nhiên hai người cùng thả hồn bay xuống phương nam xa xôi đầy ánh nắng, tưởng chừng họ ngửi thấy mùi hoa thơm, nghe thấy tiếng gà con, tiếng vịt con kêu rộn…
Tiểu Long Nữ không thức thêm được nữa, lại mơ mơ màng màng thiếp đi, song nàng không muốn ngủ, nói:
– Thiếp không muốn ngủ, chàng nói chuyện với thiếp đi.
Dương Quá nói:
– Nàng vừa nói mớ, nhắc đến Âu Dương Phong, là chuyện gì thế?
Tiểu Long Nữ nói:
– Thiếp nhắc đến Âu Dương Phong ư? Thiếp bảo sao?
Dương Quá nói:
– Nàng bảo Tôn bà bà nói nhất định là Âu Dương Phong.
Tiểu Long Nữ nghe nhắc, liền nhớ lại, nói:
– Phải rồi, Tôn bà bà nói, kẻ đả thương sư phụ nhất định là Tây Độc Âu Dương Phong. Tôn bà bà nói, trên thế gian chỉ có vài kẻ có thể đả thương sư phụ, mà trong số đó, kẻ tệ hại nhất là Âu Dương Phong. Sư phụ thiếp đến chết cũng không chịu nói ra danh tính tên ác nhân kia. Tôn bà bà hỏi: Có phải là Âu Dương Phong? Sư phụ chỉ lắc đầu, mỉm cười rồi tắt thở. Cái lão Âu Dương Phong ấy là nghĩa phụ của chàng thì phải? Lão ta võ công cao cường, chẳng trách sư phụ không địch nổi lão ta.
Dương Quá thở dài:
– Nay nghĩa phụ ta đã chết, sư tổ và Tôn bà bà đã chết, Trùng Dương tổ sư và tổ sư bà bà cũng đã qua đời, mọi oán thù, ân ái, đều được ông trời xóa sạch. Sư tổ trước sau không chịu nói ra danh tính nghĩa phụ ta…
Đột nhiên chàng kêu to:
– Ồ, thì ra là vậy!
Tiểu Long Nữ hỏi:
– Chàng bảo sao?
Dương Quá nói:
– Nghĩa phụ ta bị sư tổ điểm huyệt, không phải được Lý Mạc Sầu giải huyệt, mà là sư tổ điểm không trúng huyệt!
Tiểu Long Nữ nói:
– Làm gì có chuyện điểm không trúng huyệt? Thủ pháp điểm huyệt của sư phụ cao minh vô cùng.
Dương Quá nói:
– Nghĩa phụ ta có một môn võ công kỳ diệu độc nhất vô nhị trong thiên hạ, ấy là có thể nghịch hành kinh mạch toàn thân. Một khi kinh mạch nghịch hành, mọi huyệt đạo đều thay đổi vị trí, điểm trúng cũng hóa thành điểm chệch.
Tiểu Long Nữ nói:
– Có chuyện kỳ quái thế ư?
Dương Quá nói:
– Ta làm thử cho nàng xem này.
Chàng đứng dậy, chống tay trái xuống đất, lộn ngược người theo kiểu trồng cây chuối, đi một vòng, hít thở vài cái, đột nhiên nhảy bật dậy, dùng đỉnh đầu húc thẳng vào góc nhọn cái bàn đá trước giường.
Tiểu Long Nữ hoảng sợ kêu:
– Ôi chao, cẩn thận!
Chỉ thấy huyệt Bách Hội ở đỉnh đầu chàng đã đụng mạnh vào góc nhọn cái bàn đá. Huyệt Bách Hội nằm trên đỉnh đầu, là giao điểm hai đường, một đường chạy từ mép tóc giữa trán ra mép tóc giữa gáy, đường kia từ chót tai phải qua đầu sang chót tai trái. Huyệt này còn là giao điểm của huyệt Thái Dương với mạch Đốc, y gia ví nó như sao Bắc Cực trên trời, nên có câu “Bách Hội ứng Thiên, Toàn Cơ (ở ngực) ứng Nhân, Dũng Tuyền (ở dưới bàn chân) ứng Địa”, tức “đại huyệt Tam Tài”, là đại yếu huyệt. Dương Quá húc thẳng huyệt Bách Hội vào góc nhọn bàn đá mà chàng chẳng bị sao cả, thản nhiên đứng lên, cười hì hì, nói:
– Nàng xem, nghịch hành kinh mạch, mọi huyệt đều thay đổi vị trí!
Tiểu Long Nữ lấy làm lạ, nói:
– Thật là cổ quái, thế mà chàng vẫn nghĩ ra được!
Dương Quá vừa húc đầu, tuy không gây tổn thương huyệt đạo, nhưng hao tốn sức lực, đầu óc không tránh khỏi mơ hồ, tưởng chừng vừa nghĩ ra một chuyện rất hệ trọng, nhưng đó là chuyện gì, thì không nói ra được. Tiểu Long Nữ thấy chàng ngơ ngơ ngẩn ngẩn, thì cười, nói:
– Chàng ngốc, thử nhẹ một chút cũng được, ai lại đi húc mạnh như thế, có đau lắm không?
Dương Quá không trả lời, xua tay bảo nàng đừng nói, toàn thần chăm chú suy nghĩ, nhưng trong đầu óc như có một cái gì mơ hồ, chưa nhìn rõ, giá mà có thể chộp lấy, lôi nó ra trước mắt để nhìn cho rõ.
Chàng nghĩ một hồi chưa ra, vò đầu bứt tai, nói:
– Long nhi, ta nghĩ đến một điều cực kỳ hệ trọng, song lại không biết là cái gì. Long nhi có biết hay không?
Một người nghĩ bao nhiêu chuyện, rối như tơ vò, tự mình không lần ra đầu mối, lại đi hỏi người bên cạnh, thật là điều vô lý, nhưng hai người ở bên nhau nhiều năm, tâm ý tương thông, có thể đoán biết tâm tư của người kia đến tám, chín phần. Tiểu Long Nữ nói:
– Điều ấy thập phần hệ trọng phải không?
Dương Quá nói:
– Đúng thế!
Tiểu Long Nữ nói:
– Có liên quan đến thương thế của thiếp chứ gì?
Dương Quá mừng rỡ:
– Đúng thế, đúng thế! Nhưng ta nghĩ ra cái gì mới được kia chứ?
Tiểu Long Nữ mỉm cười, nói:
– Chàng mới rồi nhắc đến nghĩa phụ của chàng là Âu Dương Phong, bảo lão ta có thể nghịch hành kinh mạch, điều đó có liên quan gì đến thương thế của thiếp? Thiếp bị thương cũng không phải bởi tay lão ta…
Dương Quá đột nhiên nhảy cẫng lên, reo to:
– Đúng rồi!
Lại tiếng “Đúng rồi” vang vọng hồi lâu trong tòa cổ mộ. Dương Quá chộp lấy cánh tay Tiểu Long Nữ, nói:
– Long nhi được cứu rồi, Long nhi được cứu rồi! Ta được cứu rồi! Ta được cứu rồi!
Chàng kêu mấy lần, mừng quá phát khóc, không nói được nữa. Tiểu Long Nữ thấy chàng như thế, cũng lây niềm vui của chàng mà ngồi dậy.
Dương Quá nói:
– Long nhi, nàng nghe ta nói, hiện tại nàng bị trọng thương, không thể vận hành “Ngọc nữ tâm kinh” bản môn, cho nên thương thế không đỡ. Nhưng nàng có thể nghịch hành kinh mạch để trị thương, cái giường hàn ngọc chính là vật bổ trợ tuyệt vời.
Tiểu Long Nữ như ngộ ra, lẩm bẩm:
– Nghịch hành kinh mạch… cái giường hàn ngọc…
Dương Quá mừng rỡ, nói:
– Nàng bảo có đúng là duyên trời hay không? Nàng luyện ngược “Ngọc nữ tâm kinh” là được! Vừa may có cái giường hàn ngọc.
Tiểu Long Nữ mơ mơ hồ hồ, nói:
– Thiếp vẫn chưa thật rõ.
Dương Quá nói:
– “Ngọc nữ tâm kinh” thuận hành là chí âm, còn nghịch hành là thuần dương. Khi ta nhắc đến phép kinh mạch nghịch hành của nghĩa phụ, ta lờ mờ cảm thấy có thể cứu trị thương thế cho nàng, nhưng cứu trị thế nào thì nghĩ mãi chưa ra, sau nhớ trong thư Trùng Dương tổ sư có viết đến cái giường hàn ngọc, mới chợt đại ngộ.
Tiểu Long Nữ nói:
– Chẳng lẽ tổ sư bà bà dùng cái giường hàn ngọc trị thương, cũng là nghịch hành kinh mạch hay sao?
Dương Quá nói:
– Không phải thế, phép nghịch hành kinh mạch này, tổ sư bà bà nhất định không biết, ta đoán rằng tổ sư bà bà đã bị thương bởi nội lực âm nhu, còn nàng thì ngược lại, bị thương bởi lực dương cương.
Tiểu Long Nữ gật đầu, lấy làm vui mừng.
Dương Quá nói:
– Việc không nên trì hoãn, hai ta hãy làm luôn.
Chàng tới kho ôm về một bó củi lớn, đốt lửa trong góc phòng, rồi đem phép nghịch hành kinh mạch bước thứ nhất truyền thụ cho Tiểu Long Nữ, dìu nàng ngồi trên cái giường hàn ngọc. Chàng thì ngồi bên đống lửa, giơ tay trái ấp vào lòng bàn tay phải của Tiểu Long Nữ, nói:
– Ta dẫn khí nóng ở đây xung các huyệt đạo cho nàng, nàng hãy cố dùng lực làm cho nội tức nghịch hành, xung khai lần lượt từ huyệt này đến huyệt khác, khi khí nóng đi tới cái giường hàn ngọc, thì thương thế bớt được một phần.
Tiểu Long Nữ cười, nói:
– Thiếp có cần lộn ngược người trồng cây chuối như chàng hay không?
Dương Quá nói:
– Cái đó chưa cần. Lộn ngược người trồng cây chuối, kinh mạch nghịch hành, huyệt đạo dễ thay đổi vị trí, khi lâm địch sẽ rất hữu dụng. Đôi ta thong thả trị thương, cứ việc ngồi như thường.
Tiểu Long Nữ giơ tay nắm cánh tay trái của chàng, mỉm cười, nói:
– Quách cô nương cũng chưa đến nỗi tệ, không chém cả hai cánh tay chàng.
Hai người vừa trải qua một phen cận kề cái chết, chuyện mất một cánh tay đã không coi là gì, Tiểu Long Nữ thậm chí còn đem ra nói đùa. Dương Quá cũng cười, nói:
– Nếu ta bị mất cả hai cánh tay, vẫn còn hai cẳng chân. Có điều dùng bàn chân giúp nàng hành công, thì không được thanh nhã cho lắm.
Tiểu Long Nữ cười xong, liền lẩm nhẩm ghi nhớ phép nghịch hành kinh mạch, lát sau nàng nói:
– Được rồi!
Dương Quá thấy lửa cháy đượm dần, ngầm vận nội tức, đang định bắt dầu hành công, bỗng kêu lên:
– Thôi chết, chút nữa quên thì nguy to!
Tiểu Long Nữ hỏi:
– Gì vậy?
Dương Quá chỉ bé Quách Tương đang nằm trên giường, nói:
– Chúng ta luyện đến thời khắc quyết định, lỡ tiểu cô nương ấy khóc gọi, thì hỏng hết!
Tiểu Long Nữ nói nhỏ:
– Suýt chết!
Người tu luyện tối kỵ ngoại ma quấy nhiễu tâm trí. Năm nọ, Tiểu Long Nữ cùng Dương Quá luyện chung Ngọc nữ tâm kinh, bị Doãn Chí Bình và Triệu Chí Kính tình cờ đụng phải, Tiểu Long Nữ đã hộc máu, chút nữa thì mất mạng. Dạo ấy thân thể nàng đang khoẻ mạnh còn như vậy, nay đang trọng thương, làm sao chịu nổi sự quấy nhiễu?
Dương Quá pha nửa bát mật ong với nước, cho Quách Tương uống, rồi bế nó tới một gian thạch thất xa, khép hai lần cửa đá, để nó có khóc to cũng không vọng đến chỗ Tiểu Long Nữ, đoạn trở lại bên cái giường hàn ngọc, nói:
– Xung khai hết ba mươi sáu đại huyệt trên người nàng, ta nghĩ nhanh cũng mất mươi ngày, chậm thì phải nửa tháng. Suốt thời gian đó, không để sự vật bên ngoài làm phân tâm, cổ mộ này là nơi cách biệt hoàn toàn với trần thế, không chỗ nào bằng, dù nơi hoang sơn cùng cốc tĩnh lặng nhất, cũng vẫn còn gió mát trăng thanh, hoa thơm chim hót quấy nhiễu tâm trí.
Tiểu Long Nữ mỉm cười, nói:
– Thương thế của thiếp do phái Toàn Chân gây nên, nhưng tổ sư gia phái Toàn Chân lại tạo ra tòa cổ mộ, cái giường hàn ngọc để thiếp được yên ổn nghỉ ngơi, phục hồi sức khỏe, công tội của họ coi như hòa.
Dương Quá nói:
– Còn Kim Luân pháp vương thì sao? Chúng ta không thể tha cho lão.
Tiểu Long Nữ thở dài, nói:
– Chỉ cần thiếp sống được, chàng còn gì chưa thỏa mãn nữa chứ?
Dương Quá cầm tay nàng, nói:
– Long nhi nói rất phải! Lần này nàng khỏi rồi, hai ta vĩnh viễn sẽ không động thủ với ai nữa. Ông trời thương đôi ta lắm rồi!
Tiểu Long Nữ nói nhỏ:
– Đôi ta sẽ đi xuống phương nam, làm ruộng, nuôi gà, nuôi vịt..
Nàng xuất thần một lát, chợt cảm thấy một luồng nhiệt lực truyền sang lòng bàn tay, liền bắt đầu vận công theo phép nghịch hành kinh mạch mà Dương Quá vừa dạy.
Phép trị thương bằng cách nghịch hành kinh mạch với sự trợ giúp của cái giường hàn ngọc này quả nhiên có công hiệu lớn. Năm xưa Nhất Đăng đại sư dùng thần công “Nhất dương chỉ” đả thông huyệt đạo toàn thân cho Hoàng Dung khỏi trọng thương, đạo lý cũng như thế này, khác chăng là sử dụng Nhất dương chỉ trị thương thì hao tốn nội lực cực lớn, kiến hiệu rất nhanh, còn phép nghịch hành kinh mạch này của Dương Quá khó tránh tốn nhiều thời gian. Hơn nữa, dù là một đứa bé hoàn toàn không biết võ công bị trọng thương, người tinh thông Nhất dương chỉ cũng có thể dùng nội lực thâm hậu của mình đả thông huyệt đạo, cải tử hoàn sinh cho đứa bé. Đằng này Tiểu Long Nữ nếu không có căn cơ nội công thâm hậu, sở học với Dương Quá lại khác môn phái, thì dầu Âu Dương Phong có sống lại, Hoàng Dược Sư có đích thân đến giúp, nội tức của người cứu trị và người được cứu trị không hòa hợp với nhau, cũng quyết không thể khai thông vô số kinh mạch nghịch hành.
Dương Quá ngoài việc một ngày ba bữa cho Quách Tương uống mật ong và nấu bí đỏ làm món ăn, rất ít khi chàng rời chỗ Tiểu Long Nữ. Khi nghịch xung đại huyệt, có lần bốn, năm canh giờ bàn tay của hai người không thể rời ra. Lần Quách Tĩnh bị thương, Hoàng Dung tốn bảy ngày đêm giúp chồng trị thương. Tiểu Long Nữ thể chất đã không bằng Quách Tĩnh, lại bị thương nặng hơn, nên càng tốn thời gian hơn. May tòa cổ mộ là nơi hoàn toàn yên ổn, không bị nhiều kẻ địch kéo đến gây sự như hồi Quách Tĩnh trị thương ở Ngưu Gia thôn.
Ở bên ngoài cánh rừng hôm đó, Hoàng Dung sau khi dùng Lan hoa phất huyệt thủ chế ngự Lý Mạc Sầu, trở lại tìm Quách Tương không thấy, thì bồn chồn lo lắng, bèn chạy tới chỗ Lý Mạc Sầu quát hỏi:
– Đạo trưởng dùng ngụy kế gì giấu con ta ở đâu rồi?
Lý Mạc Sầu kinh ngạc, nói:
– Tiểu cô nương chẳng phải vẫn nằm trong hàng rào mây gai hay sao?
Hoàng Dung lo cuống cuồng như phát khóc, lắc đầu nói:
– Không thấy nữa.
Lý Mạc Sầu đã nuôi dưỡng Quách Tương hơn một tháng, rất yêu nó, đột nhiên nghe nó mất tăm thì sững sờ, buột miệng nói:
– Chỉ có Dương Quá hoặc Kim Luân pháp vương mang bé đi thôi.
Hoàng Dung hỏi:
– Tại sao?
Lý Mạc Sầu bèn thuật lại, ở bên ngoài thành Tương Dương mụ cùng Dương Quá và Kim Luân pháp vương tranh đoạt nhau bé Quách Tương như thế nào, kể đến chỗ nguy hiểm, Hoàng Dung bất giác cũng không khỏi rùng mình. Thấy thần sắc Lý Mạc Sầu ngơ ngác, chứng tỏ rằng quả thật mụ ta không biết, Hoàng Dung bèn giải huyệt cho mụ ta, tiện tay điểm huyệt Toàn Cơ ở ngực. Làm như thế, Lý Mạc Sầu hành động không khác bình thường, song trong vòng mười hai canh giờ mụ không thể đả thương người khác.
Lý Mạc Sầu cười gượng, đứng dậy, dùng cây phất trần phủi bùn đất trên người, nói:
– Nếu rơi vào tay Dương Quá thì không ngại, chỉ sợ bị lão giặc trọc Kim Luân pháp vương bắt đi thôi.
Hoàng Dung hỏi:
– Vì sao?
Lý Mạc Sầu đáp:
– Dương Quá tỏ ra rất tốt với đứa bé, xem chừng hắn hoàn toàn không có ý gia hại, vì thế ban đầu tiểu muội mới đoán đứa bé là con của hắn…
Mụ nói đến đó vội ngừng bặt, chỉ sợ làm cho Hoàng Dung tức giận.
Nhưng Hoàng Dung lúc này đang nghĩ việc khác. Hoàng Dung tưởng tượng lúc Dương Quá ác đấu với Lý Mạc Sầu và Kim Luân pháp vương, đã tận lực bảo hộ Quách Tương, thế mà mình và Quách Phù lại trách móc chàng, đến mức Quách Phù chém lìa cả cánh tay chàng. Hoàng Dung cảm thấy vô cùng ân hận, tự trách mình: “Ôi, Quá nhi đã cứu Tĩnh ca ca, cứu mình, cứu Phù nhi, lần này lại cứu Tương nhi… Nhưng mình cứ có thành kiến với nó, nghĩ phụ thân nó tác ác đa đoan, cha nào con nấy, bao lần mình không tin nó… đã không đối đãi tử tế với nó được vài ngày lại nghi ngờ nó. Hoàng Dung ơi là Hoàng Dung, mi tự phụ thông minh, hóa ra mi hoàn toàn không bằng Tĩnh ca ca trung hậu đối đãi với người”.
Lý Mạc Sầu thấy Hoàng Dung nước mắt lưng tròng, biết Hoàng Dung lo cho sự an nguy của đứa con, bèn khuyên:
– Quách phu nhân, lệnh ái sinh hạ mới một tháng, đã gặp đại nạn, song không mất sợi tóc. Trông bé trắng trẻo khả ái như thế, ngay tiểu muội là ma đầu giết người không chớp mắt mà còn ưa thích nó, đủ biết phúc nó lớn lắm, suốt đời sẽ gặp hung hóa cát. Phu nhân cứ yên tâm, chúng ta hãy cùng đi tìm bé Quách Tương.
Hoàng Dung lấy vạt áo lau nước mắt, nghĩ Lý Mạc Sầu nói không sai, lại nghĩ: “Chân thành đối đãi với người là hay nhất. Từ nay trở đi, thà để người phụ ta, chứ ta sẽ không phụ người”. Bèn đưa tay giải luôn huyệt Toàn Cơ cho Lý Mạc Sầu, nói:
– Lý đạo trưởng muốn cùng đi tìm Tương nhi, tiểu muội cảm kích bội phần. Nhưng nếu đạo trưởng có việc khác cần kíp, thì chúng ta hãy từ biệt ở đây, hẹn gặp lại sau.
Lý Mạc Sầu nói:
– Việc cần kíp nào cũng không bằng việc đi tìm bé Quách Tương. Phu nhân hãy chờ một chút!
Đoạn mụ chạy tới một cái hốc cây lớn, cởi dây trói chân con báo, vỗ nhẹ vào mông nó, nói:
– Ta thả cho mi đi đó.
Con báo kêu khẽ một tiếng, lao vào đám cỏ cao.
Hoàng Dung kinh ngạc hỏi:
– Con báo làm gì vậy?
Lý Mạc Sầu cười, đáp:
– Nó là vú em của lệnh ái đấy!
Hoàng Dung mỉm cười, hai người cùng đi tới tiểu thị trấn, thấy Quách Phù đang đứng ở đầu đường ngóng cổ trông đợi. Nhìn thấy Hoàng Dung, nàng mừng rỡ chạy lại, nói:
– Mẹ, muội muội đã bị…
Nói chưa hết câu, nhìn rõ người đi sau mẹ là Lý Mạc Sầu, thì không khỏi cả kinh. Nàng từng giao đấu với Lý Mạc Sầu, vẫn nghe huynh đệ họ Võ nhắc đến mối thù mẹ họ bị giết, nàng từ lâu đã coi Lý Mạc Sầu là kẻ độc ác nhất trên thế gian.
Hoàng Dung nói:
– Lý đạo trưởng sẽ giúp chúng ta đi tìm tiểu muội của ngươi. Ngươi bảo muội muội bị sao?
Quách Phù nói:
– Muội muội đã bị Dương Quá mang đi, hắn còn cướp cả con tiểu hồng mã của con. Mẹ nhìn thanh kiếm này mà xem.
Rồi giơ thanh kiếm cong veo ra, nói:
– Hắn dùng ống tay áo rỗng phẩy một cái, thanh kiếm văng vào tường bị cong đi thế này.
Hoàng Dung và Lý Mạc Sầu cùng nói:
– Dùng ống tay áo?
Quách Phù nói:
– Vâng, đúng là tà môn! Không ngờ hắn lại học được yêu pháp.
Hoàng Dung và Lý Mạc Sầu nhìn nhau, cùng kinh hãi. Cả hai hiểu rằng một người luyện nội lực đến cảnh giới cực cao, quả có thể biến dải lụa thành cây gậy, lấy nhu đánh cương, song phải gặp được minh sư, có thiên tư dị thường, chí ít phải luyện nội công ba, bốn chục năm. Đằng này Dương Quá còn ít tuổi, đạt tới cảnh giới ấy thật hiếm có. Hoàng Dung nghe bảo Quách Tương bị Dương Quá mang đi, thì đỡ lo hẳn. Lý Mạc Sầu thì nghĩ: “Tên tiểu tử công phu luyện đến bước này, nhất định là nhờ nắm được Ngọc nữ tâm kinh của sư phụ ta. Bây giờ ta có Quách phu nhân đi cùng, ta giúp Quách phu nhân giành lại đứa bé, Quách phu nhân giúp ta đoạt Ngọc nữ tâm kinh. Ta là đại đệ tử bổn phái, sư muội tuy được sư phụ yêu mến, nhưng sư muội liên tiếp vi phạm môn qui, tâm kinh sao có thể để lọt vào tay nam tử?” Mụ nghĩ thế và cảm thấy phấn chấn hẳn lên.
Hoàng Dung hỏi rõ hướng đi của Dương Quá, nói:
– Phù nhi, ngươi cũng không cần về đảo Đào Hoa nữa, hãy theo ta đi tìm Dương đại ca.
Quách Phù cả mừng, nói:
– Hay quá!
Nhưng nghĩ nếu gặp Dương Quá, nàng lại hết sức ngượng ngùng. Hoàng Dung nặng mặt, nói:
– Khi gặp lại Dương đại ca, bất kể Dương đại ca có giận ngươi hay không, ngươi cũng phải thành khẩn tạ tội với Dương đại ca, nghe chưa.
Quách Phù trong bụng không phục, nói:
– Để làm gì? Chẳng phải hắn đã cướp muội muội đi đó sao?
Hoàng Dung kể sơ những lời nghe được từ Lý Mạc Sầu, nói:
– Dương đại ca nếu có ý xấu, muội tử của ngươi còn sống được đến hôm nay ư? Hơn nữa, cái phất ống tay áo của Dương đại ca nếu không nhằm vào thanh kiếm, mà vào đầu ngươi, thì ngươi sẽ ra sao rồi?
Quách Phù nghe mẹ nói vậy, không khỏi rùng mình, nghĩ thầm: “Không lẽ hắn thủ hạ lưu tình thật à?” Nàng từ bé được mẹ nuông chiều, nên cố cãi:
– Hắn ôm muội muội phóng về hướng bắc, chẳng phải là đến Tuyệt Tình cốc thì còn đi đâu?
Hoàng Dung lắc đầu, nói:
– Không, Dương đại ca nhất định sẽ đến núi Chung Nam.
Quách Phù bĩu môi, nói:
– Mẹ còn bênh hắn nữa! Nếu quả thật hắn có hảo ý sao hắn không mang muội muội về thành Tương Dương giao cho chúng ta, lại mang đến núi Chung Nam?
Hoàng Dung thở dài:
– Ngươi cùng Dương đại ca lớn lên từ nhỏ mà vẫn không hiểu tính khí của Dương đại ca? Hắn vốn tâm cao khí ngạo, không chịu để kẻ khác sỉ nhục, tự dưng bị ngươi chém mất một cánh tay, lấy mạng ngươi thì hắn không nỡ, nhưng bỏ qua thì không đâu. Cho nên hắn mới mang muội tử của ngươi đi để chúng ta lo cuống lên, ít ngày sau hắn nguôi giận, sẽ tự mang Tương nhi về cho chúng ta. Ngươi hiểu chưa? Tại ngươi mà Dương đại ca bắt trộm muội tử của ngươi mang đi đó!
Hoàng Dung đến phạn điếm ban nãy, mượn giấy bút viết mấy chữ, đưa hai lạng bạc nhờ điếm tiểu nhị mang tới thành Tương Dương cho Quách Tĩnh. Điếm tiểu nhị nói:
– Quách đại hiệp đánh giặc, bảo vệ trăm họ, đúng là phật sống của vạn nhà, tiểu nhân được làm chút gì cho Quách đại hiệp đã là niềm vinh hạnh lớn lao.
Nói thế nào y cũng không chịu nhận bạc, cầm bức thư hăm hở đi ngay. Quách Phù thấy bách tính kính nể phụ thân mình như vậy, trong bụng rất đắc ý.
Ba người liền mua ngựa, khởi hành đi đến núi Chung Nam. Quách Phù không ưa Lý Mạc Sầu, dọc đường hầu như không trò chuyện với mụ ta, bất đắc dĩ phải nói, thì sắc mặt nàng rất lạnh nhạt. Ngày đi đêm nghỉ, dọc đường vô sự. Chiều hôm nay ba người đang cưỡi ngựa đi, đột nhiên có người phóng ngựa chạy ngược lại.
Quách Phù kêu lên:
– Là con tiểu hồng mã của hài nhi, là con…
Tiếng kêu chưa dứt, con tiểu hồng mã đã phi đến trước mặt. Con ngựa nhận ra chủ nhân, không đợi nàng giơ tay giữ cương, đã dừng phắt lại, nghển cổ hí lên vui mừng.
Quách Phù nhìn người cưỡi con tiểu hồng mã là hắc y thiếu nữ mình từng gặp và từng sánh vai giao đấu với Lý Mạc Sầu, chính là Hoàn Nhan Bình. Chỉ thấy Hoàn Nhan Bình tóc rối tung, mặt tái nhợt, vẻ hoảng hốt. Quách Phù nói:
– Hoàn Nhan tỷ tỷ, tỷ tỷ làm sao vậy?
Hoàn Nhan Bình giơ tay chỉ con đường phía sau, nói.
– Mau… mau…
Đột nhiên lảo đảo ngã ngựa. Quách Phù đỡ nàng ta dậy, nói với mẹ:
– Mẹ, đây là Hoàn Nhan tỷ tỷ.
Rồi trừng mắt nhìn Lý Mạc Sầu một cái.
Hoàng Dung nghĩ: “Nó cưỡi con tiểu hồng mã phi nhanh, thiên hạ không ai có thể đuổi kịp, vốn không có gì nguy hiểm. Nhưng nó lại chỉ tay về phía bắc, vẻ hốt hoảng, tất là nó lo cho người khác, ta phải mau đến cứu người”. Bèn bảo Quách Phù ôm Hoàn Nhan Bình cưỡi chung ngựa, nói:
– Con ngựa ấy phi quá nhanh, ngươi nhất thiết không được vượt lên trước ta đó, nghe chưa?
Quách Phù hỏi:
– Vì sao?
Hoàng Dung nói:
– Đằng trước có nguy hiểm lớn, ngươi không biết ư?
Đoạn vẫy tay với Lý Mạc Sầu, hai người phóng ngựa về phía bắc.
Chạy hơn mười dặm, quả nhiên nghe từ phía sườn núi bên kia vọng lại tiếng binh khí va chạm nhau. Hoàng Dung và Lý Mạc Sầu phóng ngựa vòng qua sườn núi, thấy trên bãi trống phía trước có năm người đang giao chiến ác liệt. Trong đó, hai người là huynh đệ họ Võ, một nam một nữ đều còn trẻ tuổi, Hoàng Dung không biết mặt, bốn người liên thủ chống một trung niên hán tử. Tuy bốn địch một, nhưng họ phần nhiều chỉ chống đỡ, ít tấn công; huynh đệ họ Võ đều đã bị thương, chàng thiếu niên múa kiếm chống đỡ hầu hết chiêu số của hán tử. Gần đó có một người đang nằm dưới đất, miệng không ngớt kêu la, chính là Võ Tam Thông.
Hoàng Dung thấy gã hán tử tay trái cầm một thanh đại đao vàng chóe, tay phải cầm một thanh kiếm đen và nhỏ, chiêu số kỳ ảo, bình sinh chưa gặp, nếu mình không xuất thủ, huynh đệ họ Võ ắt gặp đại nguy, bèn nói với Lý Mạc Sầu:
– Hai gã thiếu niên kia là đồ nhi của tiểu muội.
Lý Mạc Sầu cười khẩy, nghĩ: “Mẫu thân của chúng là do ta giết, ta há không biết chúng là ai?” Mụ thấy trung niên hán tử võ công cao cường lạ lùng, nhân vật này chưa từng gặp trên giang hồ, mụ thầm kinh ngạc, mỉm cười, nói:
– Cho mi nghỉ này!
Cây phất trần được rút ra. Hoàng Dung cũng đã cầm cây gậy trúc trong tay. Hai người từ hai bên tả hữu cùng xông vào. Cây phất trần của Lý Mạc Sầu tấn công thanh hắc kiếm, cây gậy trúc của Hoàng Dung thì công kích thanh kim đao.
Trung niên hán tử chính là cốc chủ Tuyệt Tình cốc Công Tôn Chỉ. Hắn đột nhiên thấy có hai thiếu phụ xinh đẹp cùng xông tới tấn công mình thì lòng rung động. Chỉ nghe Lý Mạc Sầu kêu “Một!” cây phất trần xuất chiêu, mụ kêu “Hai!” Thì ra mụ ngầm thi thố với Hoàng Dung, xem ai đánh rơi binh khí khỏi tay đối phương trước. Nhưng mụ đếm đến “Mười” mà Công Tôn Chỉ vẫn công thủ như thường. Chàng thiếu niên đâm liền ba kiếm phía sau lưng Công Tôn Chỉ, kiếm thế rất hiểm, Công Tôn Chỉ không chống đỡ, mà nhảy vọt hơn một trượng về phía trước, thoát ra khỏi vòng vây, nghĩ bụng nếu đấu tiếp nhất định hắn sẽ bị thua, bèn đưa mắt nhìn Hoàng Dung và Lý Mạc Sầu một cái, nghĩ: “Ở đâu ra hai nữ tướng lợi hại và xinh đẹp thế không biết?” Hắn gõ đao kiếm vào nhau coong một tiếng, bay người tới.
Hoàng Dung và Lý Mạc Sầu không dám khinh địch, giơ binh khí nghiêm thủ môn hộ, ai ngờ Công Tôn Chỉ đang lơ lửng trên không liền xoay mình, sau khi tiếp đất nhún mình mấy lần đã đến sườn đồi. Hoàng Dung và Lý Mạc Sầu nhìn nhau mỉm cười, nghĩ: “Hán tử kia võ công đã cao cường, lại còn giảo hoạt, một mình đấu với hắn, e không địch nổi”.
Huynh đệ họ Võ tay giữ vết thương, tiến lại cúi chào sư mẫu, rồi trừng mắt nhìn Lý Mạc Sầu.
Hoàng Dung nói:
– Món nợ cũ tạm thời gác lại, thương thế của phụ thân các ngươi không sao chứ? Hai vị kia là ai vậy? Thôi chết, nguy mất! Lý đạo trưởng, mau theo tiểu muội!
Hoàng Dung không kịp lên ngựa, lao vút ngược đường vừa tới. Lý Mạc Sầu chưa hiểu ý, song cũng chạy theo, gọi:
– Chuyện gì vậy?
Hoàng Dung nói:
– Phù nhi, Phù nhi sẽ đụng hắn mất!
Hai người chạy rất nhanh, nhưng Công Tôn Chỉ cước lực nhanh không kém, chẳng mấy chốc đã xa hơn một dặm.
Chỉ thấy Quách Phù hai tay ôm ngang eo Hoàn Nhan Bình, cưỡi con tiểu hồng mã, đang thong thả đi tới. Hoàng Dung từ xa gọi to:
– Phù nhi, cẩn thận!
Tiếng gọi chưa dứt, Công Tôn Chỉ đã nhanh chân vọt lên lưng ngựa, một tay khống chế Quách Phù, một tay kéo dây cương muốn quay đầu ngựa. Hoàng Dung chụm môi huýt sáo, con tiểu hồng mã nghe tiếng chủ gọi, liền chạy lại. Công Tôn Chỉ kinh ngạc, nghĩ thầm: “Hôm nay hành sự sao xúi quẩy thế này, đến con ngựa cũng làm trái ý ta?” Hắn kéo mạnh dây cương; con tiểu hồng mã hí một tiếng dài, đứng dựng hai vó trước. Công Tôn Chỉ tuy ép được nó quay đầu, hắn muốn phi về hướng nam, nhưng con ngựa lại giậm chân bước lùi. Hoàng Dung cả mừng, lao tới gần. Công Tôn Chỉ thấy con tiểu hồng mã quật cường vô tỉ, Hoàng Dung và Lý Mạc Sầu sắp đuổi kịp, bèn nhét binh khí vào bao, tay phải kẹp Quách Phù, tay trái kẹp Hoàn Nhan Bình, xuống ngựa chạy bộ. Hoàng Dung và Lý Mạc Sầu đều có khinh công hạng nhất, không lâu đuổi kịp, chỉ còn cách mươi bước. Công Tôn Chỉ xoay người lại, cười, nói:
– Ta chỉ ép lại một chút, hai đóa hoa tươi này còn sống nổi chăng?
Hoàng Dung nói:
– Các hạ là ai? Chúng ta không quen biết, tại sao các hạ lại bắt con gái của ta?
Công Tôn Chỉ cười, nói:
– Cô nương này là con của phu nhân ư? Thì ra là Hoàn Nhan phu nhân.
Hoàng Dung chỉ Quách Phù, nói:
– Kia mới là con gái của ta!
Công Tôn Chỉ nhìn Quách Phù một cái, lại nhìn Hoàng Dung một cái, cười hi hí, nói:
– Cả hai mẹ con đều đẹp quá trời!
Hoàng Dung cả giận, có điều con gái đang bị hắn khống chế, đánh chuột sợ vỡ bình quí, trước tiên đành tính kế hoãn binh, đang định nói, bỗng vèo vèo có hai mũi tên từ phía sau lưng bên trái bay thẳng rất gấp tới trước mặt Công Tôn Chỉ. Hoàng Dung nghe tiếng tên bay, tưởng là Quách Tĩnh đã đến, vô cùng mừng rỡ. Các cao thủ võ lâm Trung Nguyên thường không luyện thuật bắn cung; các võ sĩ Mông Cổ tuy giỏi về tiễn pháp, nhưng nội lực lại kém, không phóng được xa. Hai mũi tên bay rít lên như vừa rồi, trừ do Quách Tĩnh bắn ra, Hoàng Dung bình sinh chưa thấy người thứ hai nào có công lực như vậy. Nhưng hai mũi tên bay nửa chừng thì rõ ra là còn thua xa, Hoàng Dung biết không phải do chồng mình phóng đi. Công Tôn Chỉ thấy tên bay đến bèn há miệng cắn lấy mũi tên thứ nhất, rồi dùng thân nó gạt mũi tên thứ hai rơi xuống đất. Hoàng Dung nghĩ: “Hai mũi tên nếu do Tĩnh ca ca bắn, ngươi dùng miệng cắn như thế thì nó đã xuyên vào họng ngươi rồi”. Đang nghĩ thế, chỉ thấy tiếng các mũi tên rít liên tiếp, chín mũi tên liền bay tới giữa trán Công Tôn Chỉ, khiến hắn chân tay luống cuống, vội thả hai thiếu nữ xuống, rút kiếm gạt tên.
Hoàng Dung và Lý Mạc Sầu chạy đến, định cứu hai thiếu nữ, thì thấy một cái bóng xám lăn tới ôm Quách Phù lăn sang bên đường, người ấy đang định bật dậy, thì Công Tôn Chỉ tay trái chưa kịp rút kim đao, bèn tung chưởng giáng xuống đỉnh đầu người ấy.
Người ấy nằm ngang dưới đất, giơ chưởng chống đỡ song chưởng đụng nhau, “bùng” một tiếng, bụi đất bay tung tóe. Công Tôn Chỉ thốt lên:
– Khá khen!
Chưởng thứ hai đã đánh tiếp. Hoàng Dung thấy người kia khó bề chống trả, cây Đả cẩu bổng sử liền yếu quyết chữ “Phong”, đón lấy chưởng ấy. Công Tôn Chỉ thấy địch nhân hợp vây, biết hôm nay xúi quẩy, bèn cười ha ha, lùi ba bước, quay người bỏ đi. Thân pháp uyển chuyển, phong thái anh võ, khiến bọn Hoàng Dung không dám đuổi theo.
Người đó ôm Quách Phù đứng dậy, buông tay ra. Hoàng Dung thấy người ấy lưng đeo cung tên, thân cao vai rộng, chính là chàng thiếu niên sử kiếm ban nãy, mười một mũi tên liên châu dĩ nhiên do chàng ta phóng đi. Quách Phù bị Công Tôn Chỉ kiềm chế, nhưng không bị thương, nói:
– Gia Luật đại ca, đa tạ đã cứu muội.
Nói rồi đỏ mặt, hết sức ngượng ngùng. Lúc ấy Võ Tu Văn và một thiếu nữ cũng đã chạy đến, còn Võ Đôn Nhu thì đang săn sóc Võ Tam Thông. Về lý mà nói, Võ Tu Văn phải dẫn kiến mọi người mới phải, nhưng y đang hầm hầm tức giận, mắt nhìn Lý Mạc Sầu như tóe lửa, quên hết mọi chuyện bên mình, Hoàng Dung gọi y liền mấy tiếng, y cũng không nghe thấy. Lý Mạc Sầu thì khoanh tay đứng một chỗ cách xa ngắm cảnh, chẳng để ý đến mọi người.
Quách Phù chỉ chàng thiếu niên vừa cứu mình, nói với mẹ:
– Đây là Gia Luật Tề Gia Luật đại ca.
Đoạn chỉ thiếu nữ cao cao, nói:
– Còn đây là Gia Luật Yến Gia Luật tỷ tỷ.
Hoàng Dung khen:
– Công phu của hai vị khá lắm.
Huynh muội Gia Luật cùng nói:
– Quách phu nhân quá khen!
Rồi bước tới hành lễ.
Hoàng Dung nói:
– Ta thấy võ công của hai người là theo phái Toàn Chân, không rõ là môn hạ của vị nào trong Toàn Chân thất tử?
Hoàng Dung thấy võ công của Gia Luật Tề rất cao, trong số bọn trẻ, trừ Dương Quá ra hiếm ai được như y, đoán y không phải là đệ tử đời thứ tư của phái Toàn Chân. Gia Luật Yến nói:
– Công phu của tiểu nữ là do ca ca truyền dạy.
Hoàng Dung gật đầu, nhìn Gia luật Tề. Gia Luật Tề thưa:
– Trưởng bối đã hỏi, lẽ ra phải bẩm cáo sự thật. Nhưng sư phụ vãn bối đã dặn không được nói ra danh tính của người, mong Quách phu nhân lượng thứ.
Hoàng Dung ngạc nhiên, nghĩ thầm: “Toàn Chân thất tử làm gì có thứ qui củ lạ lùng ấy? Gã thiếu niên này võ công nhân tài đều khá, sao lại không dám nói ra?” Chợt nghĩ ra điều gì, đột nhiên cười ha hả đến mức phải cong cả người, rõ ràng nghĩ đến một chuyện gì hết sức hoạt kê và lý thú. Quách Phù lấy làm lạ, nói:
– Mẹ, có gì tức cười?
Nàng nghe mẹ hỏi đến môn phái sư thừa của Gia Luật Tề một cách nghiêm trang, rồi tự dưng cười như thế, e Gia Luật Tề sẽ buồn, nên trong bụng rất ngượng, nói thêm:
– Mẹ, Gia Luật đại ca không tiện nói thì thôi, có gì tức cười kia chứ?
Hoàng Dung vẫn cười không nói. Gia Luật Tề cũng cười cười nói:
– Thì ra Quách phu nhân đoán được.
Quách Phù ngơ ngác, ngoảnh sang nhìn Gia Luật Yến, thì thấy nàng ta cũng ngơ ngác không hiểu hai người kia cười cái gì.
Lúc này Võ Tu Văn quì chân trái xuống đất, băng bó vết thương cho Hoàn Nhan Bình. Lúc nãy nàng bị Công Tôn Chỉ ôm chạy, làm sai khớp chân phải. Hoàng Dung hỏi:
– Tu nhi, thương thế của phụ thân ngươi ra sao?
Võ Tu Văn nói:
– Gia gia bị trúng một kiếm của Công Tôn Chỉ vào chân trái, may không động tới gân cốt.
Hoàng Dung gật đầu, bước qua vuốt bờm con tiểu hồng mã, nói:
– Mã nhi ơi mã nhi, cả nhà họ Quách ta thật khó báo đáp ân tình của mi.
Thấy Võ Tu Văn trước sau không hề trò chuyện với Quách Phù, song lại hết sức ân cần săn sóc Hoàn Nhan Bình, chẳng hiểu là y cố ý làm thế cho Quách Phù thấy, hay là quả thực y đã có tình ý với Hoàn Nhan Bình. Hoàng Dung bảo y:
– Ta hãy cùng lại xem phụ thân ngươi thế nào rồi.
Võ Tam Thông đang ngồi, thấy Hoàng Dung tới, liền chào “Quách phu nhân” và đứng dậy, nhưng vì bị thương ở chân, nên loạng choạng. Võ Đôn Nhu và Gia Luật Yến cùng giơ tay đỡ, hai người chạm tay vào nhau, bất giác nhìn nhau mỉm cười. Hoàng Dung cười thầm: “Hay chưa, lại một cặp nữa? Mấy hôm trước huynh đệ ngươi còn đánh nhau chí chết vì Phù nhi, hôm nay gặp cô nương xinh xắn khác, đã quên biến mọi chuyện cũ rồi”. Đột nhiên nhớ đến Quách Tĩnh, không khỏi tự hào, Tĩnh ca ca đối với mình nhất mực chân tình, đúng là phú quí không màng, hiểm nguy chẳng ngại, bọn thanh niên kia làm sao sánh nổi Tĩnh ca ca? Hoàng Dung lại nghĩ đến Dương Quá, thấy ái tình của hắn với Tiểu Long Nữ tuy không tương xứng thân phận, trái ngược luân thường, nhưng kiên trinh, sống chết không lay chuyển, thật khiến cho người ta phải kính phục. Huynh đệ họ Võ sống cùng Quách Phù ở đảo Đào Hoa từ bé đến lúc trưởng thành, một là trên đảo không có thiếu nữ nào khác, hai là lâu ngày tự nhiên sinh tình, nếu bảo hai người không chung tình với Quách Phù, thì chẳng hợp tình lý chút nào. Sau đó họ bỗng biết rằng Quách Phù đối với họ hoàn toàn không có tình ý gì, tất nhiên họ tuyệt vọng, cho rằng sống trên đời chẳng còn lạc thú gì nữa; ai dè ít ngày sau lại gặp Gia Luật Yến và Hoàn Nhan Bình, mà hai thiếu nữ ấy tựa hồ mỗi người có duyên với huynh đệ họ. Lúc này huynh đệ họ Võ gặp lại Quách Phù, thầm so sánh trong lòng, đúng là nhìn người tình cứ ngỡ Tây Thi, cảm thấy ý trung nhân của mình chẳng những không có điểm nào thua Quách Phù, mà còn hơn hẳn. Một người thì nghĩ: “Gia Luật cô nương hào sảng hòa khí, đâu có nũng na nũng nịu, hẹp hòi như Quách Phù?” Một người thì nghĩ: “Hoàn Nhan cô nương hết sức dễ thương, hiền hậu, đâu có ngang ngược khó chịu như Quách Phù?” Huynh đệ họ Võ đã thề suốt đời sẽ không nhìn mặt Quách Phù nữa, nhưng ngẫu nhiên chạm trán, không tránh nhau được, đều nghĩ: “Hôm nay ta không hề có ý tìm gặp nàng ta, không thể coi là làm trái lời thề”.
Quách Phù nhớ lại lúc mình bị Công Tôn Chỉ bắt, Gia Luật Tề ra tay cứu nàng, mấy lần cứ liếc trộm chàng ta, thấy chàng cao lớn, anh tuấn, không khỏi lấy làm lạ: “Năm ngoái mình đã gặp chàng, sau đó quên luôn, không ngờ võ công của chàng cao cường đến thế. Mẹ mình cười vui với chàng, không biết vì chuyện gì?”
Hoàng Dung xem vết thương ở chân cho Võ Tam Thông, may không đáng ngại. Thế là mọi người kể lại sự tình vừa qua.
Hôm ấy Võ Tam Thông, Chu Tử Liễu, cùng vị sư thúc Thiên Trúc cao tăng đi Tuyệt Tình cốc tìm giải dược, vừa ra khỏi thành Tương Dương, thì Võ Tam Thông gặp hai đứa con trai. Võ Tam Thông ngạc nhiên, chỉ lo hai đứa lại quyết đấu, vội bảo Chu Tử Liễu đưa sư thúc đi trước, còn mình thì quát hỏi hai đứa con.
Thì ra hai đứa chúng từng thề với Dương Quá không nhìn mặt Quách Phù nữa, nên chúng không muốn ở thêm ngày nào trong thành Tương Dương. Võ Tam Thông yên tâm, tán thưởng:
– Hảo hài nhi, có chí khí!
Lại nói:
– Dương huynh đệ xả thân cứu cha con ta, hiện thời y gặp nạn, làm sao chúng ta có thể không nghĩ cách báo đáp? Ba cha con ta hãy cùng đi Tuyệt Tình cốc.
Nhưng Tuyệt Tình cốc cứ như chốn đào nguyên ở ngoài trần gian, tuy từng nghe Dương Quá cho biết sơ qua phương vị sở tại, song tìm cốc khẩu không dễ chút nào. Chu Tử Liễu và Thiên Trúc cao tăng thì không thấy tăm hơi, đã bị Cầu Thiên Xích sai đệ tử dùng lưới bắt giữ. Ba cha con Võ Tam Thông mấy phen cứu viện không thành, suýt nữa cũng bị bắt, đành rút lui, định trở về thành Tương Dương cầu cứu, đang đi lại gặp Công Tôn Chỉ, hắn nói ba người tự tiện xông vào cấm địa, thế là động thủ. Võ Tam Thông bị trúng một kiếm vào chân, Công Tôn Chỉ cũng không có ý lấy mạng ba người, chỉ đuổi họ đi cho mau, cấm từ rày không được lai vãng. Đúng lúc ấy huynh muội Gia Luật Tề và Hoàn Nhan Bình phóng ngựa đi ngoài đường lớn. Ba người ấy từng cùng huynh đệ họ Võ liên thủ chống địch, họ bèn xuống ngựa thăm hỏi nhau. Công Tôn Chỉ đứng gần lạnh lùng quan sát, hắn đã không được thành hôn với Tiểu Long Nữ, còn bị bà vợ đuổi đi, chính đang lang thang, bỗng thấy Hoàn Nhan Bình trẻ trung xinh xắn, liền nổi tà tâm, đột nhiên xuất thủ cướp nàng. Huynh muội Gia Luật Tề và cha con họ Võ liên thủ đấu với Công Tôn Chỉ. Võ Tam Thông nếu không bị thương, thì sáu người cũng có thể chống chọi với Công Tôn Chỉ, nhưng lão bị thương rồi, chỉ còn một mình Gia Luật Tề võ công cao cường, nên họ đánh không lại hắn. May thấy con tiểu hồng mã một mình trên đường từ núi Chung Nam về thành Tương Dương, Võ Tu Văn liền gọi nó lại, để Hoàn Nhan Bình cưỡi nó chạy thoát đi; thiết tưởng Công Tôn Chỉ không cướp được nàng, sẽ tự bỏ đi; không ngờ Hoàng Dung và Lý Mạc Sầu lại tới cứu.
Hoàng Dung nghe xong, cũng đem việc Dương Quá bị mất cánh tay, đoạt đứa bé sơ sinh mang đi, kể sơ qua một lượt. Võ Tam Thông kinh ngạc, vội giải thích tình hình hôm ấy, nói:
– Dương huynh đệ nhất mực can đảm nhiệt thành, chỉ vì muốn cứu hai tên súc sinh của lão phu, để chúng khỏi tàn sát lẫn nhau, mà rơi vào chốn nguy hiểm, cuối cùng đến cơ sự ấy.
Nghĩ Dương Quá bị mất cánh tay là bởi hai đứa con của lão, Võ Tam Thông càng nghĩ càng giận, liền chỉ mặt Võ Đôn Nhu và Võ Tu Văn mà chửi.
Huynh đệ họ Võ đang cùng huynh muội Gia Luật Tề và Hoàn Nhan Bình trò chuyện vui vẻ, lát sau Quách Phù cũng nhập cuộc, sáu người cùng trang lứa, vừa rồi lại cùng trải qua một phen ác chiến, nhắc đến Công Tôn Chỉ là kẻ cùng hung cực ác phải bỏ chạy, họ đang cao hứng, chợt nghe Võ Tam Thông lớn tiếng chửi:
– Võ Đôn Nhu, Võ Tu Văn, hai tên súc sinh, Dương Quá đối với hai đứa ngươi đại nhân đại nghĩa, thế mà các ngươi lại làm cho Dương huynh đệ liên lụy, bị mất cánh tay, các ngươi thử nghĩ xem, họ Võ phải làm gì để chuộc tội đây?
Võ Tam Thông đỏ mặt tía tai, càng chửi càng hăng; nếu chân không bị thương, hẳn lão đã xông vào đấm đá. Huynh đệ họ Võ không hiểu tại sao cha mình tự dưng lại nổi giận, họ đưa mắt nhìn trộm Gia Luật Yến và Hoàn Nhan Bình, cảm thấy trước mắt mỹ nhân mà bị cha nhiếc là tên súc sinh thì thật mất hết thể diện, lỡ phụ thân lại lôi chuyện hai đứa đánh nhau vì Quách Phù nữa thì chỉ có nước độn thổ. Hai người cứ nhìn nhau, chẳng biết nên làm thế nào. Hoàng Dung thấy tình thế ấy, bèn khuyên:
– Võ huynh cũng đừng quá buồn, Dương Quá bị mất cánh tay hoàn toàn là do tiểu muội nuông chiều nữ nhi, không nghiêm gia giáo. Hôm ấy Quách gia nhà tiểu muội cũng cả giận, định chém một cánh tay của Phù nhi đi đó.
Võ Tam Thông nói to:
– Đúng, phải chém mới được!
Quách Phù lườm Võ Tam Thông, nghĩ: “Cái gì mà phải chém mới được?” Nếu không có mặt mẹ ở đây, chắc nàng đã lên tiếng cãi lại. Hoàng Dung nói:
– Võ huynh, vừa rồi nói rõ, hóa ra chúng ta đã trách nhầm Dương Quá. Bây giờ có hai việc lớn. Thứ nhất, chúng ta phải đi tìm Dương Quá để chuộc lỗi với y.
Võ Tam Thông luôn miệng:
– Phải đấy, phải đấy!
Hoàng Dung nói tiếp:
– Thứ hai, cần đến Tuyệt Tình cốc cứu lệnh sư thúc và Chu đại ca, đồng thời xin giải dược cho Dương Quá. Nhưng không biết Chu đại ca bị bắt như thế nào, có nguy đến tính mạng hay không?
Võ Tam Thông nói:
– Sư thúc và sư đệ của ta bị bắt bằng lưới, gọi là ngư võng trận, bị nhốt trong thạch thất. Song cái mụ Cầu Thiên Xích chưa tính lấy mạng họ ngay đâu.
Hoàng Dung gật đầu, nói:
– Ồ, nếu vậy chúng ta nên đi tìm Dương Quá trước đã, rồi sẽ cùng y đến Tuyệt Tình cốc cứu người. Lấy được giải dược sẽ cho y uống liền, tránh để lâu e nguy đến tính mạng.
Võ Tam Thông nói:
– Đúng đấy, nhưng không biết hiện giờ Dương Quá đang ở đâu?
Hoàng Dung chỉ con tiểu hồng mã, nói:
– Con ngựa mới do Dương Quá mượn đi, chỉ cần để nó chạy trở lại đường cũ, ắt sẽ tìm thấy Dương Quá.
Võ Tam Thông cả mừng, nói:
– Hôm nay không có Quách phu nhân túc trí đa mưu, lão phu cứ chạy loạn lên cũng chẳng biết phải làm thế nào.
Hoàng Dung mỉm cười, không nhắc nửa lời đến việc tìm bé Quách Tương, đã kéo được Võ Tam Thông đi theo, lại nghĩ: “Cha con Võ Tam Thông đã cùng đi, thì ba kẻ trẻ tuổi kia cũng sẽ đi cùng, có thêm vài trợ thủ càng hay”. Bèn nói với Gia Luật Tề:
– Gia Luật tiểu ca nếu không có việc gì cần kíp, hãy cùng đi một thể cho vui.
Gia Luật Tề chưa kịp đáp, Gia Luật Yến vô tay reo:
– Hay, hay đấy ca ca, chúng mình cùng đi đi!
Gia Luật Tề nhìn Quách Phù, thấy ánh mắt khích lệ của nàng, bèn cúi mình nói:
– Xin tùy Võ tiền bối và Quách phu nhân phân phó. Huynh muội được hai vị giáo ích thêm, thật không còn gì bằng.
Hoàn Nhan Bình cũng vui vẻ gật đầu.
Hoàng Dung nói:
– Chúng ta tuy không đông, song cũng cần có người phát ra hiệu lệnh. Võ huynh, mọi người xin nghe theo hiệu lệnh của huynh đó.
Võ Tam Thông xua tay lia lịa, nói:
– Có Quách phu nhân thần cơ diệu toán, làm nữ quân sư không thua gì Gia Cát Lượng, còn ai bằng nữa? Tất nhiên phải nhờ phu nhân thôi.
Hoàng Dung cười, nói:
– Bọn trẻ chắc là chịu, chỉ sợ Võ huynh không chịu tuân lệnh của tiểu muội thôi.
Võ Tam Thông nói to:
– Phu nhân nói gì vậy? Dẫu dầu sôi lửa bỏng, lão phu cũng không dám từ nan.
Hoàng Dung nói:
– Trước mặt nhiều tiểu bối ở đây, Võ huynh không được nuốt lời đấy.
Võ Tam Thông đỏ mặt, nói:
– Dù không có ai, lão phu cũng nói sao làm vậy.
Hoàng Dung nói:
– Được! Lần này chúng ta đi tìm Dương Quá, xin giải dược, cứu sư thúc và sư đệ của Võ huynh, mọi người phải đồng lòng nhất trí. Mọi ân oán hãy tạm gác sang một bên. Võ huynh, ba cha con huynh không được gây sự với Lý Mạc Sầu, chờ việc lớn xong rồi, đôi bên quyết đấu một mất một còn cũng chưa muộn.
Võ Tam Thông sững sờ, lão không ngờ vừa rồi Hoàng Dung nói là có dụng ý cả. Lý Mạc Sầu có mối đại hận giết hại vợ lão, vậy lão phải nín nhịn hay sao? Lão đang ngẫm nghĩ, thì Hoàng Dung nói nhỏ:
– Võ huynh, hiện tại huynh đang bị thương, quân tử báo thù mười năm chưa muộn, cần gì nôn nóng nhất thời?
Võ Tam Thông nói:
– Được, phu nhân bảo gì, lão phu sẽ làm nấy.
Hoàng Dung gọi Lý Mạc Sầu tới:
– Lý tỷ tỷ, chúng ta đi thôi!
Hoàng Dung để cho con tiểu hồng mã dẫn đường, mọi người theo sau. Con tiểu hồng mã vốn muốn trở về thành Tương Dương, nay chủ nhân dắt nó quay đầu ngược về hướng nó vừa đi tới, thế là nó đi về phía núi Chung Nam.
Võ Tam Thông và Hoàn Nhan Bình có vết thương, không thể đi nhanh, đoàn người mỗi ngày chỉ đi được hơn trăm dặm. Lý Mạc Sầu gia tăng phòng bị, khi ngủ đêm thường ở chỗ cách xa mọi người, ban ngày đi đường cũng lùi ở sau cùng. Cứ thế ngày đi đêm nghỉ, sáu thiếu niên nam nữ trò chuyện vui vẻ, càng lúc càng hòa hợp. Huynh đệ họ Võ trước đây tranh giành Quách Phù, tình thủ túc ruột thịt không khỏi bị tổn hại; bây giờ mỗi người có ý trung nhân riêng, huynh đệ lại trở nên thập phần tương thân tương ái. Võ Tam Thông thấy vậy rất hài lòng, nhưng lại nghĩ: “Hôm nọ nếu hai đứa không trúng độc châm của Lý Mạc Sầu, cứ đánh nhau, tất có một đứa chết, đứa còn lại ta cũng quyết không nhận là con. Giờ đây hai tên súc sinh cười cười nói nói, trong khi Dương Quá bị mất một cánh tay. Ôi biết nói sao đây? Đúng là phải chặt của mỗi tên súc sinh một cánh tay mà nối bù cánh tay cho Dương Quá mới hợp đạo lý”. Nhưng lão không nghĩ rằng nếu làm thế, Dương Quá sẽ bị thừa ra một cánh tay.
Họ đã đến núi Chung Nam. Hoàng Dung và Võ Tam Thông định đưa mọi người vào cung Trùng Dương bái hội Toàn Chân ngũ tử. Lý Mạc Sầu đứng từ xa, nói:
– Bần đạo chờ các vị ở đây.
Hoàng Dung biết Lý Mạc Sầu có thù với phái Toàn Chân nên cũng không ép, bước vào cung Trùng Dương. Toàn Chân ngũ tử nghe báo, vội ra nghênh tiếp, mời vào trong điện, phân chủ khách ngồi xuống. Mới hàn huyên vài câu, bỗng nghe ở hậu điện có tiếng người nói đến Tiểu Long Nữ, Hoàng Dung cả mừng, gọi:
– Lão Ngoan đồng, lão xem ai đến này!
Mấy ngày nay Chu Bá Thông tìm hiểu cách chỉ huy loài ong ngọc phong. Lão thông minh, lại quyết tập cho bằng được, nên đã có tiểu thành. Hôm nay lão đang cao hứng chơi ong thì nghe tiếng gọi, nhận ra giọng của Hoàng Dung. Lão vui mừng nói:
– A ha, thì ra là mụ bà nương cổ quái của Quách đệ tới!
Rồi lão từ hậu điện chạy ra.
Gia Luật Tề bước lên khấu đầu, nói:
– Sư phụ, sư phụ vạn phúc kim an!
Chu Bá Thông cười, nói:
– Miễn lễ bình thân! Ngươi cũng vạn phúc kim an!
Mọi người nghe đều lấy làm lạ, không ngờ Gia Luật Tề lại là đệ tử của Chu Bá Thông. Lão Ngoan đồng điên điên khùng khùng, đồ đệ lại tinh minh cường cán, thiếu niên lão thành, khác hẳn sư phụ.
Bọn Khưu Xứ Cơ thấy sư thúc đã có truyền nhân thì đều cao hứng, tranh nhau chúc mừng Chu Bá Thông. Quách Phù lúc này mới hiểu, hôm nọ mẹ nàng và Gia Luật Tề cười cười là vì mẹ nàng đã đoán biết được sư phụ của Gia Luật Tề.
Nguyên Gia Luật Tề hai chục năm trước còn nhỏ, gặp Chu Bá Thông, chơi đùa hợp nhau, Chu Bá Thông bèn nhận chàng làm đệ tử. Võ công lão truyền thụ tuy không nhiều, nhưng chàng thông minh chịu khó, cuối cùng trở thành một nhân vật kiệt xuất trong đám tiểu bối. Nhưng Chu Bá Thông thấy Gia Luật Tề nghiêm trang đâu ra đó, chẳng ham chơi đùa như một Tiểu Ngoan đồng, nên không cho chàng xưng mình là đệ tử đích truyền của Lão Ngoan đồng. Giờ thì không giấu được nữa.
Đang vui vẻ, bỗng từ dưới chân núi có tiếng tiêu vọng lên: đệ tử phái Toàn Chân báo tin có đại địch kéo đến tấn công. Hôm nọ phái Toàn Chân cự tuyệt sắc phong của đại hãn Mông Cổ, lại sát thương nhiều người, Toàn Chân ngũ tử biết là chuyện không dừng ở đó, quân Mông Cổ sớm muộn sẽ kéo đến, phái Toàn Chân không thể đương đầu với đại quân Mông Cổ, đã lên phương sách bỏ cung rút về phía tây. Hiện thời phái Toàn Chân có chưởng giáo là Lý Chí Thường, nhưng gặp đại sự, vẫn do Toàn Chân ngũ tử phân phát hiệu lệnh. Khưu Xứ Cơ nói với Hoàng Dung:
– Quách phu nhân, quân Mông Cổ đánh lên núi! Tình thế không cho phép bần đạo được tiếp khách chu đáo.
Chỉ nghe tiếng trống, tiếng tù và, tiếng hò hét dưới chân núi ầm ĩ. Nguyên bọn Hoàng Dung lên núi từ hướng nam, còn quân Mông Cổ đánh lên núi từ hướng bắc, đôi bên cách nhau chưa đầy nửa canh giờ. Chu Bá Thông nói:
– Có địch đến à? Thế thì hay lắm. Chúng ta tràn xuống đánh cho chúng một trận tơi bời khói lửa nào!
Lão nắm cổ tay Gia Luật Tề, nói:
– Ngươi hãy thể hiện vài công phu mà sư phụ đã dạy, để các vị sư huynh đây thưởng thức. Ta thấy ngươi cũng không thua gì Toàn Chân thất tử. Có thêm ngươi, gọi là Toàn Chân bát tử được rồi.
Phàm trẻ con có đồ chơi ưa thích, nhất định đến đâu cũng đem ra khoe, nghe người ta tán thưởng mới sướng. Chu Bá Thông ban đầu dặn Gia Luật Tề không được tiết lộ sư thừa, là vì lão thấy chàng chẳng giống minh sư chút nào về khoản chơi đùa; nhưng bây giờ sư đồ gặp nhau, lão cao hứng quên luôn điều mình đã dặn. Khưu Xứ Cơ nói:
– Sư thúc, mấy chục năm kiến tạo của bản giáo, tâm huyết một đời của tiên sư, không thể để kẻ thù hủy hoại trong một buổi. Hôm nay chúng ta rút cả đi mới là thượng sách.
Cũng không chờ cao kiến gì của Chu Ba Thông, liền truyền lệnh:
– Mọi người theo lộ trình đã định, hãy mang các thứ xuống núi!
Chúng đệ tử nhất tề đáp ứng, người khiêng kẻ vác các thứ đã chuẩn bị sẵn, đi thành từng đội xuống núi. Mấy hôm trước Toàn Chân ngũ tử và Lý Chí Thường sớm đã sắp đặt đâu ra đó, ai đi trước, ai đoạn hậu, hội hợp ở nơi nào, liên lạc ra sao, lại diễn tập thử nhiều lần, nên khi sự biến xảy ra, không hề hoảng loạn.
Hoàng Dung nói:
– Khưu đạo trưởng, quí giáo sắp đặt trật tự, đủ thấy đại tài, biến cố hôm nay không thể biến thành họa lớn. Tạm thời rút lui, mai ngày trở lại, tất càng mạnh mẽ. Lần này chúng tôi đến tìm Dương Quá có việc, giờ xin cáo biệt.
Khưu Xứ Cơ kinh ngạc, nói:
– Tìm Dương Quá ư? Không biết Dương Quá có còn ở núi này hay chăng?
Hoàng Dung mỉm cười, nói:
– Có người cùng đi biết rõ chỗ y ở đâu.
Nói tới đây, tiếng hò hét phía dưới chân núi càng nghe rõ. Hoàng Dung nghĩ: “Phái Toàn Chân sớm có bố trí, có thể thoát thân. Mình lên núi tìm Dương Quá, đón nữ nhi, không nên lẫn lộn trong quân mà lỡ đại sự”. Bèn từ biệt Toàn Chân ngũ tử, gọi mấy người đồng hành chạy tới chỗ vắng vẻ ở phía sau cung Trùng Dương, nói với Lý Mạc Sầu:
– Lý tỷ tỷ, phiền tỷ tỷ chỉ dẫn lối vào tòa cổ mộ.
Lý Mạc Sầu hỏi:
– Sao phu nhân biết Dương Quá ở trong tòa cổ mộ?
Hoàng Dung mỉm cười, nói:
– Dương Quá dù không ở trong tòa cổ mộ, thì “Ngọc nữ tâm kinh” cũng ở trong đó.
Lý Mạc Sầu giật mình, nghĩ thầm: “Quách phu nhân quả nhiên lợi hại, biết rõ tâm tư người khác”.
Lý Mạc Sầu cùng mọi người từ thành Tương Dương đi đến núi Chung Nam, trừ Hoàng Dung ra, những người còn lại đều coi như không có mụ ta, suốt dọc đường không ai thèm trò chuyện với mụ; huynh đệ họ Võ thì hầm hầm, chực chờ cơ hội dồn mụ vào tử địa. Hoàng Dung nghĩ: “Lý Mạc Sầu dẫu yêu thích Tương nhi, cũng chẳng chịu mạo hiểm đến đây, nếu không có mưu đồ hệ trọng khác”. Lại nghĩ thêm, Dương Quá và Tiểu Long Nữ từng dùng kiếm pháp “Ngọc nữ tâm kinh” đánh bại Kim Luân pháp vương, mà Lý Mạc Sầu hiển nhiên không biết môn kiếm pháp đó, nếu không hôm nọ động thủ với mình, mụ ta đã đem ra thi triển. Mụ ta muốn lấy được “Ngọc nữ tâm kinh”, lại sợ bảy người vào tòa cổ mộ lấy mất trước. Thế là Hoàng Dung đoán ra tâm ý của Lý Mạc Sầu.
Lý Mạc Sầu nghĩ: “Ngươi đã biết, chi bằng nói thẳng ra”, bèn nói:
– Bần đạo giúp phu nhân đoạt lại nữ nhi, phu nhân phải giúp bần đạo đoạt được võ kinh bổn môn. Phu nhân là bang chủ Cái Bang, nữ hiệp lừng danh thiên hạ, đã nói không được nuốt lời.
Hoàng Dung nói:
– Dương Quá là con trai của cố nhân nhà họ Quách. Có sự hiểu lầm nho nhỏ với tiểu muội, đôi bên gặp nhau sẽ xóa bỏ được ngay. Nữ nhi nếu quả nhiên ở chỗ y, y sẽ trao lại cho tiểu muội, không thể có chuyện đoạt hay không đoạt.
Lý Mạc Sầu nói:
– Đã vậy, chúng ta ai lo việc nấy, xin cáo biệt.
Rồi quay người định đi.
Hoàng Dung đưa mắt ra hiệu cho Võ Tu Văn. Võ Tu Văn rút kiếm khỏi bao, quát:
– Lý Mạc Sầu, hôm nay mụ còn đòi sống để rời khỏi núi Chung Nam ư?
Lý Mạc Sầu nghĩ: “Chỉ một mình Hoàng Dung, ta đã không địch nổi, còn thêm cha con họ Võ, huynh muội Gia Luật Tề, thì ta làm gì còn đường sống?” Mụ vốn đa mưu túc trí, nhưng gặp Hoàng Dung thì lại luống cuống, mọi trò giảo hoạt đều không thi thố ra được, đành thản nhiên nói:
– Quách phu nhân tinh thông thuật Kỳ môn, Dương Quá đã ở trên núi này, phu nhân lo gì không tìm được hắn mà phải cần bần đạo dẫn đường?
Hoàng Dung biết mụ ta muốn mặc cả, nói:
– Tiểu muội không biết lối vào tòa cổ mộ. Nhưng thiết tưởng Dương Quá và Tiểu Long Nữ tuy ẩn cư trong đó song cũng có ngày ra ngoài mua gạo kiếm củi, bảy người chúng tôi chia nhau chờ sẵn, tất có lúc gặp được y.
Ý tứ là mụ mà không chịu chỉ dẫn, bọn ta sẽ giết quách mụ đi, dù gặp được Dương Quá có muộn vài ngày cũng chẳng sao.
Lý Mạc Sầu nghĩ đúng vậy, đối phương chẳng ngại đợi chờ. Ở chỗ bằng phẳng rộng rãi này, mình không thể địch lại cả bọn họ, nhưng sau khi dẫn chúng vào tòa cổ mộ, mình sẽ lợi dụng việc thông thuộc địa thế mà ám hại từng đứa một, bèn nói:
– Hôm nay các vị cậy đông ăn hiếp, bần đạo không biết nói sao; nhưng bần đạo cũng đang cần tìm Dương Quá, vậy các vị hãy đi theo bần đạo!
Rồi vén bụi gai, đạp cỏ mà đi xuyên rừng.
Mọi người theo sau, sợ mụ ta đột nhiên đào tẩu.
Chỉ thấy mụ xuyên rừng vượt núi, nhiều chỗ rõ ràng không có đường qua, nhưng mụ ngoặt ngang quẹo trái, vẫn tìm ra lối. Địa thế vùng này hoàn toàn do thiên tạo không phải do con người sắp đặt, Hoàng Dung tuy thông hiểu thuật kỳ môn ngũ hành, cũng không thể theo Dịch lý mà tìm, nghĩ: “Thật không ai khéo bằng tạo hóa”. Đi bằng thời gian ăn xong một bữa cơm, đến bên một dòng suối ngầm. Lúc này nghe loáng thoáng tiếng hò hét của quân Mông Cổ, nhưng đây là chốn rừng sâu, nên nghe văng vẳng rất xa.
Lý Mạc Sầu mấy năm nay chỉ nghĩ cách đoạt lấy “Ngọc nữ tâm kinh”, lần trước mụ thoát ra khỏi tòa cổ mộ bàng đường dòng suối ngầm, do không biết bơi lặn, chút nữa bị mất mạng; sau đó mụ đã tập bơi lặn trên sông, lần này thì đã có chuẩn bị. Mụ đứng bên dòng suối ngầm, nói:
– Cửa chính vào tòa cổ mộ đã bị bịt kín, muốn khơi mở phải tốn công cả tháng. Cửa hậu vào theo dòng suối ngầm này, vị nào cùng đi với bần đạo thì đi.
Quách Phù và huynh đệ họ Võ từ nhỏ sống trên đảo Đào Hoa, mùa hè ngày ngày bơi lội ngoài biển, nên cùng nói:
– Đi!
Võ Tam Thông cũng biết bơi lặn, tuy không thạo lắm, nhưng dòng suối ngầm này đâu có đáng gì, bèn nói:
– Lão phu cũng đi!
Hoàng Dung nghĩ Lý Mạc Sầu tàn ác, lỡ ở trong tòa cổ mộ mụ đột nhiên ra tay thì bọn Võ Tam Thông rất nguy, không một ai địch nổi; mình không thể không đi cùng; nhưng mới sinh hơn một tháng, lặn xuống dòng suối nước lạnh sẽ tổn thương nguyên khí, đang lưỡng lự, thì Gia Luật Tề nói:
– Quách bá mẫu hãy ở lại đây, để tiểu điệt đi cùng Võ bá phụ.
Hoàng Dung cả mừng, người này tinh minh cường cán, võ công cao cường, có y đi, có thể yên tâm, hỏi:
– Công tử biết bơi lặn chứ?
Gia Luật Tề nói:
– Bơi lội tàm tạm, lặn thì cũng có biết đôi chút.
Hoàng Dung hỏi:
-Công tử luyện tập dưới mặt băng phải chăng?
Gia Luật Tề đáp:
– Vâng.
Hoàng Dung lại hỏi:
– Công tử tập ở đâu?
Gia Luật Tề nói:
– Điệt nhi hồi nhỏ có đi theo gia phụ, sống mấy năm bên dòng sông Hàn Nan.
Nguyên Mông Cổ là xứ lạnh, sông Hàn Nan quá nửa năm đóng băng. Các võ sĩ Mông Cổ có thể chất tốt thường thi nhau lặn dưới băng xem ai được lâu hơn.
Hoàng Dung thấy những người khác muốn đi theo Lý Mạc Sầu thì cũng không hỏi thêm, chỉ dặn khẽ:
– Lòng người khó đo, phải cẩn thận.
Với Quách Phù, Hoàng Dung cũng không dặn dò, vì biết con mình có dặn cũng vô dụng, thôi thì cứ để thực tế dạy cho nó thấm thía.
Gia Luật Yến và Hoàn Nhan Bình không biết bơi lặn, ở lại cùng Hoàng Dung. Lý Mạc Sầu lội xuống suối dẫn đường. Gia Luật Tề bám sát theo; Quách Phù và cha con họ Võ đi sau cùng.
Bọn Gia Luật Tề năm người đi theo Lý Mạc Sầu dưới dòng suối ngầm. Đáy dòng suối chỗ rộng chỗ hẹp, nước chảy chỗ xiết chỗ không, có lúc sâu ngập đầu, có chỗ sâu ngang ngực, lội hồi lâu thì đến lối vào tòa cổ mộ. Lý Mạc Sầu chui vào, năm người cũng chui vào theo, nghĩ: “Nếu không có mụ ta dẫn đường, không ai ngờ lại có tòa cổ mộ ở dưới lòng đất thế này?” Lúc này đã không còn nước xung quanh mình, thì lại tối mò mò, năm người phải cầm tay nhau, chỉ sợ bị lạc, theo sau Lý Mạc Sầu ngoặt qua quẹo lại mà tiến về phía trước.
Đi rất lâu, cảm thấy địa thế lên cao dần, dưới chân đã khô ráo, bỗng nghe có tiếng ken két, Lý Mạc Sầu đã mở một cánh cửa đá, năm người bước vào theo. Lý Mạc Sầu nói:
– Đây đã là giữa tòa cổ mộ, chúng ta nghỉ một chút rồi đi tìm Dương Quá.
Từ lúc vào đến tòa cổ mộ, Võ Tam Thông và Gia Luật Tề bám sát không rời Lý Mạc Sầu nửa bước, đề phòng mụ gian trá; nhưng giơ tay không nhìn rõ năm ngón, chỉ lấy tai thay mắt, chăm chú lắng nghe. Quách Phù và huynh đệ họ Võ lâu nay tự phụ can đảm, nhưng giờ chui xuống địa đạo, hai mắt như mù, tự dưng tim cứ đập thình thình.
Trong bóng tối không một tiếng động. Lý Mạc Sầu bỗng nói:
– Hai tay ta đều có Băng phách ngân châm, ba cha con họ Võ có muốn nếm thừ sự lợi hại hay không?
Bọn Võ Tam Thông giật mình, thừa biết Lý Mạc Sầu không có hảo ý, nhưng cũng không ngờ mụ lập tức trở mặt như vậy. Ba cha con đều đã từng khổ sở vì độc châm của mụ, quả thật không dám coi thường chút nào, vội giơ cao binh khí, dỏng tai nghe, nhận ra hướng ngân châm bay để tránh hoặc gạt, có điều là mấy người chụm vào một chỗ, điều có dùng binh khí gạt được ngân châm, cũng dễ làm bị thương người bên cạnh. Gia Luật Tề nghĩ nếu để mụ loạn phóng ám khí, thì năm người bên mình tất có thương vong, chỉ có mạo hiểm xáp tới công kích, không để mụ ta phóng ngân châm, mới có đường sống.
Quách Phù cũng ngầm nghĩ như vậy, hai người không hẹn mà cùng lao tới chỗ phát ra tiếng nói.
Ai dè Lý Mạc Sầu vừa nói xong mấy câu trên, giữa lúc mọi người đang kinh ngạc, mụ đã lặng lẽ lùi vào bên cánh cửa. Gia Luật Tề và Quách Phù lao tới, thi triển tiểu cầm nã pháp, chộp cổ tay khuỷu tay để Lý Mạc Sầu không thể phóng ám khí. Hai người bốn tay giao nhau, Quách Phù cảm thấy không ổn, vội kêu “Ôi” một tiếng. Gia Luật Tề đã nắm hai cổ tay, cảm thấy da mịn màng, mũi lại ngửi mùi hương thoang thoảng, nghe tiếng kêu của Quách Phù, biết là nhầm.
Chỉ nghe tiếng ken két, cánh cửa đá đang khép lại. Gia Luật Tề và Võ Tam Thông kêu lên “Hỏng rồi!” cùng chạy ra cửa, nhưng nghe có tiếng vù vù, hai mũi ngân châm bay tới, họ đành tránh né, lúc giơ tay giữ cánh cửa, thì nó đã đóng sập lại rồi, đẩy kéo nó cứ như đẩy vào khối đá núi, không hề nhúc nhích.
Gia Luật Tề đưa tay sờ cánh cửa đá, trên dưới hai bên đều không thấy có vòng sắt hoặc chỗ lõm để kéo. Chàng men tường mà đi một vòng, phát hiện thạch thất rộng chừng hai trượng vuông, bốn phía đều là tường đá thô nháp. Chàng rút trường kiếm, dùng chuôi kiếm dộng vài cái vào cánh cửa đá, nghe tiếng trầm đục, biết là cánh cửa đá rất dày và nặng. Cánh cửa đá mở vào bên trong, muốn mở phải kéo vào, nhưng bề mặt cánh cửa phẳng lì, không có chỗ nào móc tay. Quách Phù lo lắng hỏi:
– Làm thế nào? Không khéo chúng ta bị chết ngạt ở đây mất?
Gia Luật Tề nghe giọng nàng như sắp khóc, bèn an ủi:
– Đừng lo, Quách phu nhân ở bên ngoài tiếp ứng, tất có cách cứu.
Chàng lại lần mò tứ phía tìm lối thoát.
Lý Mạc Sầu nhốt năm người trong thạch thất, cả mừng nghĩ: “Bọn bay không ra được. Sư muội và Dương Quá thì tưởng ta không biết bơi lặn, không thể ngờ ta vào đây bằng lối đi bí mật. Nhưng không biết hai đứa ấy có ở trong tòa cổ mộ hay không đây?” Mụ biết chỉ có lẳng lặng, không phát ra tiếng động, mới có hi vọng thành công; chứ động thủ, chỉ e mụ không địch nổi một trong hai người ấy, thế là mụ cởi hài ra, hai tay đều lăm lăm Băng phách ngân châm, rón rén đi từng bước một.
Nhiều ngày liền Tiểu Long Nữ ngồi trên giường hàn ngọc, theo phép nghịch hành kinh mạch mà Dương Quá truyền thụ, đả thông dần ba mươi sáu đại huyệt của cơ thể. Lúc này hai người đang dùng nội lực xung kích huyệt Đàn Trung thuộc mạch Nhâm cho Tiểu Long Nữ. Huyệt này ở ngực, bên dưới huyệt Ngọc Đường một tấc sáu phân, sách y kinh thời cổ gọi là huyệt Khí Hải, nơi tập trung chư khí cơ thể người, cực kỳ hệ trọng. Hai người toàn thần chăm chú, không dám khinh suất.
Tiểu Long Nữ cảm thấy nhiệt khí tràn ngập ba huyệt Tử Cung, Hoa Cái, Ngọc Đường bên dưới cổ, đang liên tục dồn xuống dưới; đồng thời hàn khí của cái giường hàn ngọc cũng dần dần ngưng tụ tại hai huyệt Trung Đình, Cưu Vĩ ở phía trên rốn. Nhiệt khí từ trên dồn xuống đến huyệt Đàn Trung cứ bị đẩy lên, không thể tràn qua. Nàng biết rằng chỉ cần nhiệt khí xung được huyệt Đàn Trung, mạch Nhâm lưu thông, thì mười phần thương thế của cơ thể sẽ khỏi được tám phần, có điều chưa đến hỏa hầu, không thể gượng ép. Tính nàng vốn trầm tĩnh, thời gian trong tòa cổ mộ rộng dài, hôm nay chưa thông được, thì đợi ngày mai chẳng sao. Nội tức kéo dài, thong thả, không một chút nôn nóng, chính hợp với pháp yếu vận khí của cao thủ nội gia.
Dương Quá thì rất nôn nóng, chỉ mong Tiểu Long Nữ sớm khỏi, nhưng chàng cũng biết việc vận công nội tức dục tốc ắt bất đạt, huống hồ nghịch hành kinh mạch so với thuận hành khó gấp trăm lần. Thấy mạch đập ở cổ tay nàng lúc mạnh lúc yếu, tuy chưa đều, nhưng không có triệu chứng hung hiểm, thì chàng thong thả vận khí, tăng cường xung lực.
Giữa không khí tĩnh mịch hoàn toàn, bỗng nghe có tiếng kẹt cửa. Tiếng này nghe rất nhẹ, rất khẽ, nếu không phải Dương Quá đang ngưng khí vận tức, tâm thần ở trạng thái chí tĩnh, thì chắc chắn sẽ không nghe thấy. Lát sau lại “két” một tiếng, lần này đã gần thêm ba thước.
Dương Quá biết có chuyện, nhưng sợ Tiểu Long Nữ bị phân tâm, đúng thời khắc khẩn yếu, nếu nội tức sai lạc, nhẹ thì thương thế vĩnh viễn không khỏi, nặng thì bỏ mạng tức thời, cho nên tuy thầm lạnh hãi, nhưng chàng cứ làm như không biết. Không lâu sau, lại nghe “két” một tiếng, lần này đã gần thêm ba thước.
Dương Quá biết lúc này đã có kẻ lọt vào tòa cổ mộ, kẻ đó không dám xông xáo, mà đang chậm rãi di chuyển. Lát sau, có hai tiếng kẹt cửa, ngừng một chút, lại hai tiếng nữa, kẻ địch đang rón rén đẩy cánh cửa đá. Nếu Tiểu Long Nữ có thể đả thông huyệt Đàn Trung trước khi kẻ địch đến gần, tất nhiên là không gì tốt bằng, trái lại sẽ muôn phần hung hiểm, vì hiện giờ đang cưỡi trên lưng hổ, muốn dừng việc xung huyệt cũng không được nữa.
Lại nghe “két” một tiếng, lần này đã gần thêm một bước. Dương Quá lo cuống, quả thật không biết phải làm thế nào, bỗng nhiên cảm thấy lòng bàn tay nóng lên, một luồng nhiệt khí dồn trở lại, tức thị Tiểu Long Nữ đã phát giác. Dương Quá vội dồn nội tức đẩy luồng nhiệt khí kia sang người Tiểu Long Nữ, nói khẽ:
– Ma do tâm sinh, không nghe không thấy mới là thật sự tập trung.
Người luyện công đến một cảnh giới nhất định, thường sẽ sinh ảo giác, hoặc nghe thấy tiếng sấm, hoặc đau ngứa ghê gớm đâu đó, chỉ có hoàn toàn không để ý tới mới không bị tẩu hỏa nhập ma. Vừa rồi Dương Quá đã nghe thấy tiếng bước chân rõ ràng, tự biết không phải ảo giác, nhưng Tiểu Long Nữ đang ở vào lúc sinh tử khẩn yếu, phải nói dối nàng rằng đấy chỉ là tâm ma, là kẻ địch tưởng tượng, dù hắn đáng sợ đến mấy cũng thây kệ, thì tâm ma sẽ tự tiêu tan. Tiểu Long Nữ nghe câu ấy, quả nhiên lập tức yên tâm.
Lúc này ở trên mặt đất là ánh nắng chan hòa, còn dưới tòa cổ mộ là bóng đêm tăm tối. Dương Quá tai nghe tiếng bước chân mỗi lúc một rõ, nghĩ trừ vợ chồng mình ra, chỉ có Lý Mạc Sầu và Hồng Lăng Ba biết đi lối địa đạo bí mật qua dòng suối ngầm; vậy thì kẻ kia chính là một trong hai sư đồ mụ ta. Với võ công hiện thời, Dương Quá lẽ ra hoàn toàn không lo sợ; có điều là kẻ địch lại tấn công đúng vào lúc này, không sớm cũng chẳng muộn hơn, chàng không thể có cách gì chống đỡ. Kẻ địch tiến càng chậm rãi, nỗi lo sợ càng xoáy vào đầu chàng; nỗi nguy hiểm cứ từng bước xáp tới, mà mình đành thúc thủ chờ chết.
Trán chàng vã mồ hôi lạnh, chàng nghĩ: “Lúc Quách Phù chém lìa cánh tay ta, tuy đau nhưng còn dễ chịu hơn cái sự hành hạ chậm rãi này”.
Lát sau thì Tiểu Long Nữ cũng đã nghe thấy, rành rành không phải là ảo giác, mà đúng là đại nạn lâm đầu chỉ muốn tăng cường nội tức, xung qua huyệt Đàn Trung, nhưng tâm thần hơi loạn, nội tức chợt thuận chợt nghịch, chút nữa thì rối loạn trong ngực.
Lúc này nghe tiếng bước chân đã rón rén đến cửa, rồi đột nhiên vù vù, bốn mũi Băng phách ngân châm bắn tới.
Lúc này Dương Quá và Tiểu Long Nữ chẳng khác gì những người không biết võ công, nhưng vì đã sớm đề phòng, nên vừa thấy độc châm bắn tới liền ngả người ra phía sau, lòng bàn tay vẫn không rời nhau; bốn mũi Băng phách ngân châm đều bay lướt qua mặt.
Lý Mạc Sầu không ngờ hai người đang tự vận công trị thương, sợ họ phản kích, nên vừa phóng độc châm xong vội nhảy lui; chứ nếu mụ không sợ, phóng bốn mũi rồi lại phóng tiếp bốn mũi nữa, thì hai người đã hết bề né tránh. Lý Mạc Sầu lờ mờ thấy hai người sánh vai nhau trên cái giường hàn ngọc. Phóng xong độc châm, mụ thấy họ không trả đòn, chưa hiểu dụng ý của họ thế nào, sau khi lùi ra bên cửa, tay cầm cây phất trần, mụ lạnh lùng nói:
– Hai vị đừng có giả bộ!
Dương Quá hỏi:
– Đạo cô muốn gì?
Lý Mạc Sầu nói:
– Ta muốn gì, chẳng lẽ ngươi còn không biết?
Dương Quá nói:
– Đạo cô muốn “Ngọc nữ tâm kinh” phải không? Được, chúng tôi ẩn cư trong cổ mộ, không tranh giành với bên ngoài, đạo cô cứ việc lấy đi.
Lý Mạc Sầu bán tín bán nghi, nói:
– Đưa đây!
Bộ “Ngọc nữ tâm kinh” được khắc trên trần một gian thạch thất khác, Dương Quá nghĩ: “Nói cho mụ biết chân tướng sự huyền diệu của tâm kinh, để mụ từ từ nghiền ngẫm thì được. Mình chỉ cần vài canh giờ nữa, cô cô đả thông xong huyệt Đàn Trung, bấy giờ giết mụ chẳng khó gì.” Nhưng lúc này nội tức của Tiểu Long Nữ lại rối loạn cả lên, Dương Quá phải toàn thần duy trì, không thể nói gì.
Lý Mạc Sầu mở to mắt, chăm chú nhìn hai người, lờ mờ thấy Tiểu Long Nữ giơ một bàn tay ấp vào lòng bàn tay Dương Quá, mụ chợt hiểu:“ Ồ, Dương Quá bị trọng thương vì mất cánh tay, sư muội đang dùng nội lực trị liệu cho hắn. Lúc này việc hành công đang ở thời khắc sinh tử khẩn yếu, ta không lấy mạng hai đứa, sau này làm gì còn dịp nào nữa?” Mụ đoán trúng một nửa, đã không còn sợ gì nữa, liền xông vào, vung cây phất trần đánh xuống đỉnh đầu Tiểu Long Nữ.
Tiểu Long Nữ chỉ cảm thấy kình phong áp đỉnh, tóc đã lay động, chỉ còn nhắm mắt chờ chết. Dương Quá há miệng thổi phù một cái, một luồng hơi phả vào mặt Lý Mạc Sầu. Lúc này toàn bộ sức lực chàng truyền giúp Tiểu Long Nữ đả thông xong huyệt đạo, luồng hơi ấy không có chút kình lực nào, chẳng qua thấy Tiểu Long Nữ muôn phần nguy cấp, thì chỉ có cách duy nhất khiến kẻ địch phân tâm là thổi phù một cái mà thôi.
Lý Mạc Sầu biết Dương Quá quỉ kế đa đoan, thấy một luồng nhiệt khí thổi tới mặt, thì sợ hãi nhảy lùi một trượng. Sau khi mụ thảm bại bởi tay Hoàng Dung chỉ vì trí lực thua kém, mụ trở nên thận trọng hơn, lo việc hộ thân hệ trọng hơn việc đả thương kẻ địch. Mụ nhảy lùi rồi thấy không có gì lạ, bèn quát:
– Ngươi giở trò khỉ gì thế?
Dương Quá cười, nói:
– Bữa nọ tại hạ cho đạo cô mượn cái áo, hôm nay đạo cô có mang trả không đấy?
Lý Mạc Sầu nhớ lần ác đấu với lão thợ rèn Phùng Mặc Phong, quần áo mặc trên người mụ bị cây đại thiết chùy nung đỏ đốt cháy nham nhở, may được Dương Quá cởi áo quẳng cho mượn; hôm ấy phải nói là bị một bữa xấu hổ không để đâu cho hết. Lý ra, chỉ riêng vì chuyện cái áo, hôm nay mụ đã không nên đả thương Dương Quá và Tiểu Long Nữ; nhưng mụ lại nghĩ bây giờ chỉ cần mềm lòng một chút, mai sau sẽ chuốc họa vào thân, thế là mụ lại sấn tới, tả chưởng đánh ra.
----
Chú thích: Theo ghi chép trong sử sách, Doãn Chí Bình thay Khưu Xứ Cơ làm chưởng giáo phái Toàn Chân, sau đó tiếp nhiệm chức chưởng giáo lần lượt là: Lý Chí Thường, Trương Chí Kính, Vương Chí Thản, Kỳ Chí Thành. Còn Triệu Chí Kính chỉ là nhân vật hư cấu trong bộ tiểu thuyết.
*****
Nguồn: truyenkimdung


