Lộc Đỉnh Ký Tác giả: Kim Dung Số Chương: 150 Trạng thái: Hoàn thành

Lộc Đỉnh Ký - Chương 05

UDECAREER20/05/2024~20 phút đọc

Cố Hoàng Lã ba người ngớ mặt nhìn nhau, biết Tiền phong doanh là thân binh của hoàng đế nhà Thanh, không biết vì sao mấy người này lại đã theo dõi mình từ lâu, ăn mặc theo lối phu chèo thuyền, nãy giờ nằm trên mui thuyền nghe trộm. Hoàng Tông Hy và Lã Lưu Lương thì cũng thôi, nhưng Cố Viêm Vũ mười mấy năm nay vết chân in khắp Thần châu, tới đâu cũng kết giao với anh hùng hào kiệt, nhãn quan có thể nói là không kém, mà đối với mấy người phu chèo thuyền này lại không hề để ý.

Chợt nghe một tên thân binh gọi “Nhà thuyền quay thuyền lại, đi về Hàng Châu, có chuyện gì thì coi chừng cái mạng chó của ngươi đấy”. Người đà công sau lái ứng tiếng “Dạ!”.

Người đà công là một ông già sáu bảy mươi tuổi, Cố Viêm Vũ lúc thuê thuyền từng trò chuyện với y, người này mặt đầy nếp nhăn, lưng còng như cái cung, quả có dáng vẻ nhiều năm làm việc chèo chống, lúc ấy gặp xong không hề nghi ngờ. Không ngờ tuy người đà công buôn bán thật thà nhưng đám phu thuyền thủ hạ của y đều đã bị đánh tráo, dưới sự uy hiếp của đám thân binh thì không biết làm sao, chỉ trách mình cùng hai người Hoàng Lã cao đàm hoạt luận, đặt mình vào chỗ hiểm mà không tự biết.

Đại hán áo đen cười nói “Cố tiên sinh, Hoàng tiên sinh, Lã tiên sinh, ba vị tiếng tăm rất lớn, cả các đại quan trong kinh cũng biết, nếu không bọn ta cũng không đi theo các ngươi, hô hô!”. Rồi quay lại bốn tên thân binh thuộc hạ nói “Chúng ta có bằng cứ xác thực về việc Ngô Đề đốc ở Quảng Đông mưu phản, chuyến này phải đi mau tới Hải Ninh bắt họ Tra. Ba tên phản tặc này rất cứng đầu, trốn thì không trốn được rồi, nhưng phải đề phòng họ uống thuốc độc hay nhảy xuống sông. Các ngươi mỗi người canh giữ một người, nếu xảy ra chuyện gì thì quan hệ không nhỏ đấy”. Bốn người kia ứng tiếng đáp “Dạ, xin kính cẩn tuân lệnh Qua Quản đới”. Qua Quản đới nói “Về kinh gặp Ngao Thiếu bảo xong, không ai phải lo chuyện thăng quan phát tài đâu”. Một tên thân binh cười nói “Đó đều là nhờ Qua Quản đới đề bạt tài bồi, chứ chỉ bằng vào bốn người bọn tôi thì làm sao có được phúc phận thế này?”.

Đầu thuyền đột nhiên có người cười ha hả, nói “Bằng vào bốn người bọn ngươi thì vốn cũng không có tai họa thế này”.

Ầm một tiếng, cửa khoang thuyền bay tung ra hai bên, một thư sinh khoảng ba mươi tuổi xuất hiện, chắp tay sau lưng, miệng mỉm cười.

Qua Quản đới quát “Các lão gia sai quan đang phá án ở đây, ngươi là ai?”. Thư sinh kia mỉm cười không đáp, rảo chân bước vào khoang thuyền. Ánh đao chớp lên, hai thanh đơn đao chia ra hai bên tả hữu chém xuống. Thư sinh kia nghiêng người tránh khỏi rồi sấn vào Qua Quản đới, vung chưởng đập xuống đầu y. Qua Quản đới vội vung tay trái đỡ, tay phải nắm thành quyền đẩy mạnh ra. Thư sinh kia chân trái đá ngược về phía sau trúng ngực một tên thân binh, tên thân binh ấy gào lớn một tiếng, lập tức phun máu ồng ộc. Ba tên thân binh kia vung đao kẻ đâm người chém. Trong khoang thuyền chật hẹp, thư sinh kia thi triển công phu cầm nã, chém đập móc đánh, chát một tiếng, một tên thân binh bị cạnh bàn tay y chém gãy xương cổ. Qua Quản đới chưởng phải vỗ ra đánh vào gáy thư sinh, thư sinh lật chưởng trái lại, bình một tiếng song chưởng chạm nhau, Qua Quản đới lưng đập mạnh vào khoang thuyền, một mảnh ván khoang thuyền lập tức tung ra. Thư sinh kia liên tiếp phát ra hai chưởng đánh vào ngực hai tên thân binh còn lại, tiếng rắc rắc vang lên, xương sườn của hai người đều bị đánh gãy. Qua Quản đới tung người vọt qua chỗ khoang thuyền bị vỡ. Thư sinh kia quát “Chạy đi đâu?”, chưởng trái vỗ mau ra, đã thấy sắp trúng hậu tâm y, không ngờ đúng lúc ấy Qua Quản đới vung chân trái đá ngược lại, một chưởng ấy vừa khéo đánh trúng lòng bàn chân y, luồng chưởng lực lại đẩy y bay về phía trước.

Qua Quản đới vội nhảy vọt lên, thấy trên bờ có một cây liễu nghiêng ra mặt sông, bèn chụp cứng cành liễu, lật người một cái bay luôn qua cây liễu.

Thư sinh kia chạy ra đầu thuyền, nhấc ngọn sào lên, vung tay phóng ra.

Dưới ánh trăng, ngọn sào tre như con rắn vọt ra, phóng mau như mũi tên. Chỉ nghe Qua Quản đới “Á” một tiếng thê thảm, ngọn sào tre đã xuyên suốt hậu tâm đóng đinh y xuống đất, thân sào dài vẫn không ngừng lay động.

Thư sinh kia bước vào khoang thuyền, giải khai huyệt đạo cho ba người Cố Hoàng Lã, vứt xác bốn tên thân binh xuống sông, thắp đèn lên lại. Cố Hoàng Lã ba người luôn miệng cảm ơn, kế hỏi tên họ y.

Thư sinh kia cười nói “Tên hèn mới rồi vừa đội ơn Hoàng tiên sinh nhắc tới, tại hạ họ Trần, thảo tự là Cận Nam”.

———————————-

Chú thích của Kim Dung:

Sách này viết từ ngày 23.10.1969 đến ngày 22.9.1972. Lúc bắt đầu viết, tuy cao trào các vụ án văn chương trong đại cách mạng văn hóa ở Trung Quốc đã lùi vào quá khứ, nhưng tình trạng thê thảm vẫn còn in sâu trong lòng, vì thế lúc bắt đầu cấu tứ cho tác phẩm mới, tự nhiên là nghĩ tới văn tự ngục.

Trong gia đình tôi cũng từng có một vụ văn tự ngục nổi tiếng trong lịch sử. Một vị tổ tiên của tôi là Tra Tự Đình, năm Ung Chính thứ 4 là Thị lang bộ Lễ được phái làm Chủ khảo trường thi hương Giang Tây, ra đề thi “Duy dân sở chỉ”. Câu này lấy từ Thi kinh, Thương tụng, Huyền điểu “Bang kỳ thiên lý, Duy dân sở chỉ” (Nước rộng ngàn dặm, Duy dừng ở dân), ý nói đất đai rộng lớn của quốc gia đều là chỗ nhân dân cư trú, hàm chứa ý yêu thương bảo vệ nhân dân. Đó vốn là một đề thi rất bình thường, nhưng có người tố cáo với hoàng đế Ung Chính, nói hai chữ “Duy chỉ” là hai chữ “Ung Chính” bỏ phần đầu, ra đề thi ấy là có dụng ý muốn lấy đầu hoàng đế. Lúc ấy Ung Chính vừa lên ngôi, trải qua tranh giành kịch liệt mới có được ngai vàng, mình lại đã chém đầu không ít người, không khỏi lo sợ hão huyền, nên dựa vào lối chiết tự, bắt giam toàn bộ gia đình Tra Tự Đình xét xử. Tra Tự Đình bị tra tấn tàn khốc chết trong ngục, Ung Chính còn hạ lệnh phanh thây, con trai cũng chết trong ngục, gia thuộc bị đi đày, sĩ nhân Chiết Giang thì không được dự các khoa thi Cử nhân, Tiến sĩ trong sáu năm. Về sau Tra Thận Hành được tha về, không bao lâu thì qua đời.

Có một thuyết khác nói Tra Thận Đình làm một bộ sách nhan đề là Duy chỉ lục. Có một thái giám nói với Ung Chinh rằng hai chữ “Duy chỉ” là bỏ phần đầu của hai chữ “Ung Chính”. Lại nghe nói trong Duy chỉ lục có một thiên bút ký viết “Ngày tháng Mỗ năm Khang Hy thứ 61, trời nổi sấm chớp gió bão, ta bèn xin nghỉ ở nhà. Chợt nghe tin hoàng thượng đại hành, hoàng tử thứ tư tức vị, lạ thay”. “Đại hành” là hoàng thượng qua đời, hoàng tử thứ tư tức Ung Chính, trong sách dùng hai chữ “lạ thay” rõ ràng là mỉa mai Ung Chính dùng thủ đoạn bất chính để cướp ngôi. Trong Duy chỉ lục lại chép ở trấn Chu Kiều phụ cận Hàng Châu có một ngôi miếu Quan Đế, liễn đối ở miếu viết “Hoang thôn cổ miếu do lưu Hán, Dã điếm phù kiều độc tính Chư’ (Thôn hoang miếu cổ còn lưu Hán, Điếm cỏ cầu sông chỉ họ Chư). Hai chữ Chư và Chu đồng âm, nên Ung Chính cho rằng người Hán hoài niệm nhà Minh. Còn việc Tra Tự Đình ra đề thi ở Giang Tây thì thật ra là rút từ sách Luận ngữ “Quân tử bất dĩ ngôn cử nhân, bất dĩ ngôn phế nhân” (Quân tử không vì lời nói mà dùng người, không vì lời nói mà bỏ người). Đề thứ ba là lấy từ sách Mạnh tử “Sơn kinh chi khê gián, giới nhiên dụng chi nhi thành lộ, vị gián bất dụng, tắc mao tắc chi hĩ. Kim mao tắc tử chi tâm hĩ’ (Đường trong núi khúc khuỷu, nhưng dùng thì thành đường, nếu vì cách trở không dùng thì cỏ tranh sẽ lấp kín. Nay cỏ tranh đã lấp kín lòng ông rồi). Lúc bấy giờ đang làm việc tiến cử, triều đình cho rằng ông có ý phỉ báng, đề thứ ba nói cỏ tranh lấp kín trong lòng, triều đình bàn là “Không biết ám chỉ việc gì, trong lòng không sao hiểu rõ”.

Lời thượng dụ của Ung Chính nói “Tra Tự Đình… trẫm sai làm Hành tẩu trong nội đình, sau thăng làm Nội các học sĩ, thấy lời lẽ dối trá, lại thêm tướng mạo hèn hạ, đã đoán là tâm thuật bất chính. Nay xem đề bài y ra trong kỳ thi ở Giang Tây thì rõ ràng mang lòng oán vọng, mỉa mai thời thế. Đoán là trong lòng bội nghịch, ngày thường ắt có ghi chép, sai người tra xét hành lý nơi chỗ ở, có hai quyển nhật ký, hung hăng hoang đường, có rất nhiều lời oán vọng chê bai phỉ báng thêu dệt. Lại đối với việc trị nước dùng người của Thánh tổ, thì ra sức phỉ báng… Nhiệt Hà ngẫu nhiên bị lụt, thì chép là hơn tám trăm quan quân chết đuối, lại viết trong lúc mưa có cào cào bay rợp trời, những lời hoang đường như vậy đều là chuyện chưa từng có… Lập tức sai bắt giữ, giao cho Tam pháp ty nghiêm khắc thẩm vấn xét xử. Những tội danh mà Ung Chính công khai nêu ra là: Thấy tướng mạo nên đoán là tâm thuật bất chính, mỉa mai thời thế, ghi lại chuyện thiên tai trong nhật ký.

Sách này lần đầu in trên Minh báo, hồi 1 gọi là “Tiết tử”, tên hồi là một câu thơ của Tra Thận Hành “Như thử băng sương như thử lộ” (Băng sương như thế đường như thế). Tra Thận Hành vốn tên Tự Liên, là anh ruột Tự Đình, cùng hai em là Tự Lật, Tự Đình đều là Hàn lâm. Ngoài ra anh họ ông là Tự Hàn thi đậu Bảng nhãn, cháu là Tra Thăng làm Thị giảng, cũng đều là Hàn lâm. Con trưởng Tra Thận Hành là Khắc Kiến, em họ ông là Tự Lang đều thi đậu Tiến sĩ. Đương thời khen là “Nhất môn thất Tiến sĩ, Thúc điệt ngũ Hàn lâm” (Một nhà bảy Tiến sĩ, Chú cháu năm Hàn lâm), khoa danh trong gia đình rất thịnh. Tra Thận Hành và Tự Lật vì bị liên lụy với vụ văn tự ngục của em trai, giữa mùa đông có chỉ bắt toàn gia đình từ quê lên kinh giam vào ngục. Đương thời còn có không ít danh sĩ bị liên lụy, Tra Thận Hành trên đường lên kinh vào ngục làm thơ tặng một người nạn hữu đậu Tiến sĩ cùng khoa, có hai câu là “Nhu thử băng sương như thử lộ, Thất tuần dĩ ngoại lưỡng đồng niên (Băng sương như thế đường như thế, Đôi bạn đồng niên quá bảy mươi).

Tra Thận Hành tính ra là thi nhân bậc nhất thời Thanh, nhưng đặt vào thời Đường thời Tống đại khái chỉ có thể xếp vào bậc hai. Vương Sĩ Trinh, Triệu Dực, Kỷ Hiểu Lam thời Thanh đều khen thơ ông có thể sánh ngang với Lục Du, có chỗ hơn chỗ kém, e là quá lời. Hoàng đế Khang Hy rất thích thơ ông, ông sau khi đậu Cử nhân thi Tiến sĩ ba lần không đậu, Khang Hy triệu ông vào cung, làm Đương trực ở Nam thư phòng. Sau khi vào cung lại khảo thí mới đậu Tiến sĩ đệ nhị giáp đệ nhị danh, lúc ấy anh họ, em thứ hai, cháu và con ông đều đã đậu Tiến sĩ. Cùng đậu Tiến sĩ khoa Quý mùi (năm Khang Hy thứ 42) với Tra Thận Hành có em họ ông là Tự Tuân và đồng hương là Trần Thế Quan (cha Trần Gia Lạc trong Thư kiếm ân cừu lục). Tra Thận Hành và em thứ hai Tự Lật đều là học trò của Hoàng Tông Hy.

Tra Thận Hành có Kính Nghiệp đường thi tập năm mươi quyển, tục tập sáu quyển, ông lúc trong ngục ở Bắc Kinh vẫn không ngừng làm thơ, ở đây sao ra vài bài thơ trong ngục để thấy thi phong của ông:

Khốc tam đệ Nhuận Mộc

Gia nạn đồng thời tụ,

Đa lai tống nhữ chung.

Thôn thanh tự huynh đệ,

Khấp huyết đáo hài đổng.

Địa xuất âm hàn động,

Thiên hào thảm đạm phong.

Mạc ta tuyền lộ viễn,

Phụ tử hoạch tương phùng

(Nguyên chú: Thượng điệt tiên nhất nhật tử)

 

Khóc em thứ ba là Nhuận Mộc

Nhà nạn thành sum họp,

Đưa em lúc tống chung.

Anh em đều nuốt lệ

Con cháu thảy đau lòng

Đất mở hang tê tái

Trời kêu gió lạnh lùng

Suối vàng đừng ngại lối

Phụ tử sẽ tương phùng

(1) Nguyên chú của Tra Thận Hành: Cháu tôi chết trước một ngày. Xét: Nhuận Mộc tức Tra Tự Đình, có con trai chết trước một ngày (chú thích của Kim Dung)

 

Nhuận tam nguyệt sóc tác

Niên quang hà dữ suy ông sự,

Dã phục thời thời hoán nại hà.

Vị bách thảo ưu xuân vũ thiểu,

Tán thiên hoa tích văn phong đa

 

Làm ngày mùng một tháng ba nhuận

Năm tháng nào thương tuổi xế chiều,

Mà còn quay lại xót tiêu điều.

Lo thay trăm cỏ mưa xuân ít,

Tiếc hộ ngàn hoa gió tối nhiều

(1) Xét: “Mưa xuân ít “là ám chỉ triều đình ít có ơn, “Gió tối nhiều là chỉ chính sự hà khắc (chú thích của Kim Dung).

 

Ngũ ngôn tuyệt cú

Nam sở đối Bắc giám,

Truyền túc cẩm y ngục.

Thặng hữu vi ngoại nhân,

Truy tư Đang họa khốc

Trùng dĩ xú đắc danh,

Hoành hành tội nan yểm.

Quân vị huyết nhục hại.

Kỷ sắt đương mạt diệt.

Nhân gian hữu đào hạnh,

Trướng vọng xuân duy mộ.

Phong quyển phi hoa lai,

Thùy gia đình hạ thụ

(Nguyên chú: Thanh minh tiền nhất nhật đại phong, hạnh hoa sổ phiến xuy nhập tường nội)

 

Thơ ngũ ngôn tuyệt cú

Trại nam trước dinh bắc,

Đồn là Cẩm y ngục.

Còn thừa người ngoài kia,

Nhớ chuyện xưa tàn khốc (1)

Giỏi vì xấu thành tên,

Hoành hành tội khó chối.

Cùng làm hại máu thịt,

Rận rệp tội ở cuối.

Nhân gian đào hạnh tươi,

Tàn xuân luống ngậm ngùi.

Gió cuốn hoa bay tới,

Là trước cổng nhà ai (2)

(1) Xét: “Đang họa” chỉ việc bọn thái giám Ngụy Trung Hiền cuối thời Minh hãm hại kẻ vô cô (chú thích của Kim Dung).

(2) Nguyên chú của Tra Thận Hành: Trước tiết Thanh minh một ngày có gió lớn, có vài cánh hoa hạnh bay vào trong tường.

 

Bại quần thước

Triêu cha cha, Mộ man man.

Thước thanh hỷ, Ô thanh ác.

Nhi đồng đả ô bất đả thước,

Đạo thị Ngật Can sinh xứ lạc duy nam

Lưỡng thước chí bất nhân,

Chiếm sào cao thụ bàng vô lân.

Hữu như ưng hóa vi cưu nhân vị hóa,

Dĩ mãnh tế tham tứ cố đồ tính thôn.

Mỗi đương hạ thực quần thoái tỵ,

Lục quốc hà cẩm tranh cường Tần?

Ngã dục khu sử khứ,

Cử hỏa kiêm sào phần.

Nhất hồi nhất thân hoàn la tuần.

Thiên sinh vạn vật hà vật vô bại quần?

Hu ta hồ!

Thiên sinh vạn vật hà vật vô bại quần

 

Chim thước tan bầy

Sáng líu lo, Chiều ríu rít.

Thước đáng yêu, Quạ đáng ghét.

Trẻ con đánh quạ không đuổi thước,

Nói là Ngật Can chỉ có phía nam vui[8]

Chim dữ vốn bất nhân,

Đóng tổ cây cao không gần ai.

Có con như ưng hóa thành cưu mắt chửa hóa,

Cậy mạnh tham lam nhìn quanh toan ăn hết.

Mỗi khi xuống ăn cả bầy tránh,

Sáu nước đâu dám chống cường Tần?

Ta muốn đuổi cho đi,

Đốt tổ lại hun cây.

Lúc lúc kêu la lại quanh về.

Trời sinh muôn vật vật nào không tan bầy?

Than ôi!

Trời sinh muôn vật vật nào không tan bầy?

(1) Xét: Ngật Can là tên núi, tuyết đọng rất lạnh (chú thích của Kim Dung)

 

Xuân dĩ mộ hĩ, cô liễu thượng vị thư điều, nhàn bộ kỳ hạ ngẫu thành

Vi ngoại tân diệp thụ,

Xuất tường cao đình đình.

Tận địa nãi vi lao,

Độc lai bạn cẩu linh.

Ngã suy hà túc đạo,

Nhật dạ vọng nhữ vinh.

Dĩ vọng tam nguyệt dư,

Chúng nhãn chung vị thanh.

Tương vô học bệnh sấu,

Nhĩ tác chi ly hình?

Tịnh sinh Thiên Địa gian,

Thảo mộc phi vô tình.

Ký ngữ hậu tài giả,

Vật y vấn tù sanh (sảnh)

 

Đã cuối xuân mà cây liễu lẻ loi vẫn chưa buông tơ, rành rỗi đi dạo bên dưới ngẫu nhiên làm thành

Ngoài kia cây lá mới,

Vượt tường cao rành rành

Khắp đất là ngục tù,

Lại tới làm tù nhân

Ta già đâu đáng nói,

Chỉ mong ngươi lớn nhanh.

Đã đợi ba tháng hơn,

Mầm liễu vẫn chưa xanh.

Hay vì học gầy yếu,

Mà thân ngươi mỏng manh?

Cùng sinh trong trời đất,

Cây cỏ nào vô tình.

Nhắn người trồng sau này,

Đừng nghe lời lính ngục.

Trong thơ Tra Thận Hành có nhiều bài đồng tình với sự khổ cực của nhân dân, thậm chí đối với chim thú cây cỏ cũng gởi gắm nỗi đồng tình. Kính Nghiệp đường thi tập đã công khai khắc in lưu hành, những bài thơ trong ngục đều được bảo lưu, đủ thấy tuy triều đình nhà Thanh thống trị hà khắc, lưới cấm dày đặc, nhưng về việc kiểm tra văn học vẫn thua xa sự nghiêm ngặt trong Đại cách mạng văn hóa của Trung Quốc.

Tên năm mươi hồi trong sách này đều là tập những câu đối nhau trong thơ Tra Thận Hành. Các bài thơ trong Kinh Nghiệp đường thi tập tuy nhiều, nhưng muốn chọn năm mươi câu đối bảy chữ làm tiêu đề cho nội dung của mỗi hồi thì không phải dễ. Cách làm ở đây không phải là tập từng câu lẻ trong những bài khác nhau, thậm chí tập từng câu lẻ trong thơ của các tác giả khác nhau thành câu đối kiểu thông thường mà là chọn những câu đối nhau trong thơ của một người. Có khi câu trên rất hợp, câu dưới lại không có quan hệ gì, hoặc câu dưới rất hợp, nhưng câu trên lại không dùng được thì chỉ còn cách bỏ hết. Vì vậy có một số tên hồi không khỏi không thật ăn khớp với nội dung. Sở dĩ tôi muốn tập thơ Tra Thận Hành, vì phần lớn những bài này đều đã qua mắt Khang Hy (Thơ trong ngục tự nhiên là ngoại lệ), Khang Hy cũng từng đích thân đề tấm biển ngạch ba chữ “Kinh Nghiệp đường” cho Tra Thận Hành, đương nhiên cũng có ý riêng đề cao thơ văn của tổ tiên. Người đọc hiện nay biết Tra Thận Hành là y một nhà thơ quan trọng thời Thanh, nhưng thơ của ông rốt lại ra sao thì e rất ít người từng đọc qua, tóm lại ông không thể sánh được với các nhà thơ lớn thật sự.

Người xưa làm văn chương nói tới tổ tiên của mình quyết không dám gọi thẳng tên, mà thường dùng tự hiệu hoặc quan hàm thêm một chữ “công” (ông) ở sau. Nhớ lúc nhỏ trong từ đường nghe các bậc trưởng bối kể chuyện tổ tiên, nói tới Tra Thận Hành thì gọi là “Sơ Bạch thái công”, nói tới Tra Thăng thì gọi là “Thanh Sơn thái công”. Người hiện nay viết văn bạch thoại không cần phải quanh co như vậy, muốn tôn kính tổ tiên thì cứ tôn kính trong lòng là được.

Tên hồi trong sách này có những từ ngữ ít dùng hoặc điển cố, ở cuối mỗi hồi đều có chú giải qua để giúp những người đọc trẻ tuổi hiểu được. Trong tên hồi này, “Cấu đảng” là “Liên lụy mắc họa”, ý câu “Tung hoành cấu đảng thanh lưu họa” là rất nhiều người đọc sách nổi tiếng bị liên lụy mắc họa. “Tiếu thiến” là cao vót tươi sáng, hình dung nhân cách cao thượng, phong thái tươi đẹp, ý câu “Tiếu thiến phong kỳ nguyệt đán binh” là kẻ sĩ hiền hào có cốt cách sẽ được người có kiến thức cao siêu khen ngợi.

Ghi chú:

[1] Xét: Trong Liêu Trai chí dị có truyện Đại lực tướng quân thuật chuyện Tra Y Hoàng gặp gỡ Ngô Lục Kỳ, đoạn kết viết “Về sau Tra vướng vào cái án làm sử bị bắt, may được miễn tội đều là nhờ sức tướng quân”, lời bình viết “Ban ơn mà không hỏi tới tên họ, đúng là bậc trượng phu hào hiệp thời cổ. Mà tướng quân báo đáp cũng khảng khái hào sảng, ngàn năm ít thấy, bụng dạ như thế thì ắt không thể chết già nơi ngòi rãnh. Xem đó đủ biết hai bậc hiền tài gặp nhau không phải là ngẫu nhiên đâu”. Cô thặng kể chuyện này thì nói “Trước đó ở Thiều Trung có nhà giàu Trang Đình Long mua được bộ sử của Chu Tướng quốc, tìm mời các danh sĩ vùng Tam Ngô san định tu sửa, khắc in lưu truyền. Đầu sách có kể tên mười mấy người tham gia san định, vì Hiếu liêm là bậc danh sĩ nên cũng kể vào. Không bao lâu vụ án làm sử riêng phát ra, phàm ai có dinh líu tới việc làm sách ấy đều bị xử cực hình. Ngô ra sức tâu bày nên Hiếu liêm mới thoát chết”. Tới như việc Ngô Lục Kỳ tham gia Thiên Địa hội thì chính sử và các tỳ quan trước kia đều chưa thấy chép.

Tiếp tục hành trình học tập cùng UDECAREER

Khám phá các Learning Paths, lựa chọn khóa học phù hợp và bắt đầu với những kỹ năng bạn cần cho giai đoạn hiện tại.

Truy cập UDECAREER Learninghttps://learning.udecareer.com ↗
Mã QR UDECAREER Learning
Quét mã QRđể truy cập UDECAREER Learning trên thiết bị di động.
Đầu trang