Bảo Thụ nâng đao lên xem rồi lại nhìn dải núi, quả nhiên thấy vị trí và thế đi của dải núi giống hệt bức hình lưỡng long tranh châu chạm trổ trên thân đao, bất giác reo lên:
– Đúng rồi, đúng rồi, kho tàng nhất định ở ngọn núi tròn tròn kia !
Lưu Nguyên Hạc giục:
– Chúng ta mau xuống đó đi.
Lúc này cả bọn chỉ chăm chăm vào việc tìm kho tàng nên có thể nói là đồng tâm hiệp lực, không còn có ý nghi ngờ hãm hại nhau. Ai nấy xé vạt áo lấy vải quấn vào bàn tay, nắm lấy dây thừng từ từ tuột xuống núi. Người đầu tiên xuống là Lưu Nguyên Hạc, người cuối cùng là Ân Cát. Ân Cát toan cắt thừng đi, để tránh mối lo, nhưng thấy mọi người đi đã xa, sợ khi tìm thấy kho tàng thì mình mất phần, bèn không dám chậm trễ, liền thi triển khinh công đuổi theo cho kịp.
Từ ngọn Ngọc Bút nhìn xuống thì ngọn núi tròn, thấp như ở ngay trước mặt, nhưng đường bộ đi tới nơi thì chẳng gần chút nào, cũng phải khoảng hai mươi dặm. Mọi người đều giỏi khinh công, chưa tới nửa giờ đã chạy tới trước ngọn núi tròn. Họ vòng đi vòng lại nơi này để tìm vị trí kho tàng. Đào Tử An bỗng chỉ sang bên trái, kêu lên:
– Đó là ai thế?
Mọi người nghe tiếng kêu gấp gáp, cùng nhìn theo, thấy một bóng người áo trắng lướt nhanh qua trên tuyết, thân pháp nhanh nhẹn tuyệt luân. Chỉ trong chớp mắt, cái bóng trắng đó đã chạy lên phía ngọn Ngọc Bút.
Bảo Thụ kêu thất thanh nói :
– Tuyết Sơn Phi Hồ! Con trai của Hồ Nhất Đao ghê gớm thật!
Trong lúc thốt ra câu này, sắc mặt lão xám xịt, rõ ràng là trong lòng lo lắng lắm. Lão còn đang trầm tư, chợt nghe Điền Thanh Văn kêu ré lên, vội vàng quay đầu lại nhìn, thấy trên mặt ngọn núi tròn hổng một lỗ lớn, mà chẳng thấy Điền Thanh Văn đâu cả.
Đào Tử An và Tào Vân Kỳ vẫn luôn ở bên Điền Thanh Văn, thấy nàng bỗng sẩy chân rơi xuống hố, đều không hẹn mà cũng gọi lớn:
– Thanh muội!
Cả hai toan nhảy xuống cứu. Nhưng Đào Bách Tuế đã kịp giữ con trai mình lại, quát lên:
– Làm gì thế?
Đào Tử An chẳng lý tới, vùng ra rồi cùng Tào Vân Kỳ nhảy xuống. Nào ngờ cái hố này rất nông, hai người nhảy xuống đều đè lên Điền Thanh Vân. Cả ba kêu oai oái khiến người đứng trên đều bật cười, giơ tay kéo cả ba lên.
Bảo Thụ nói:
– Có thể kho tàng ở ngay dưới hố cũng chưa biết chừng. Điền cô nương có thấy gì ở dưới đó không?
Điền Thanh Văn xoa những chỗ đau ở trên người do va phải đá, cằn nhằn nói:
– Tối om om, có nhìn thấy gì đâu!
Bảo Thụ nhảy xuống, giơ đuốc lên soi, thấy cái hố đó rộng chưa quá một trượng, trong hố toàn là nham thạch và băng tuyết rất cứng, ngoài ra không còn gì lạ, lão đành tung người nhảy lên.
Bỗng nghe Chu Vân Dương và Trịnh Tam Nương hoảng hốt kêu ré lên rồi kẻ trước người sau rơi xuống hai cái hố, một đằng đông, một đằng nam ở trong tuyết.
Nguyễn Sĩ Trung và Hùng Nguyên Hiến chia nhau kéo họ lên. Xem ra trên ngọn núi tròn này xung quanh đều là hố, ai nấy đều sợ sẩy chân rơi xuống những cái hố sâu và nguy hiểm hơn, nên chẳng ai dám đi bừa mà chỉ đứng nguyên tại chỗ.
Bảo Thụ than:
– Đồ trang chủ ở trên ngọn núi Bút Phong này đến mấy chục năm, không biết kho tàng ở đâu. Ông ta không có bảo đao và bản đồ, không biết đầu mối ở đâu mà tìm nên chẳng kể làm gì. Còn chúng ta biết rõ là ở trên ngọn núi tròn này, vậy mà vẫn không biết bắt tay từ chỗ nào, thật là đồ vô dụng.
Mọi người đứng mãi cũng mệt mỏi, đành ngồi xuống, bụng đói càng lúc càng cồn cào, đều chán nản ra mặt.
Vết thương của Trịnh Tam Nương lại đau trở lại, phải nghiến răng lấy tay ấn chặt xuống vết thương. Trong lúc quay đầu, mụ thấy viên ngọc trên thanh đao trong tay Bảo Thụ loé sáng dưới ánh tuyết, trông càng lóng lánh tuyệt mĩ. Trịnh Tam Nương nhiều năm theo chồng làm nghề bảo tiêu, tận mắt trông thấy không ít bảo vật quý hiếm, lúc này thấy viên ngọc kia phát sáng khác thường, nảy ý muốn xem, bèn nói:
– Đại sư, cho tại hạ mượn thanh bảo đao xem một lát .
Bảo Thụ nghĩ thầm: “Mụ là đàn bà, chân lại bị thương, ngại gì chứ?” Nghĩ thế, bèn đưa bảo đao qua. Trịnh Tam Nương cầm đao xem kĩ lưỡng, thấy viên ngọc quả được khảm mặt trái vào đao. Bảo thạch vốn có phân biệt mặt phải và mặt trái, mặt âm và mặt dương. Một số nghệ nhân giỏi có thể mài chuốt hai mặt như nhau, nhưng mắt người sành sỏi vẫn phân biệt được rõ ràng. Trịnh Tam Nương nói:
– Đại sư, viên bảo thạch này mặt trái lộn ra ngoài, e rằng bên trong có gì lạ đó ?
Bảo Thụ đang lúc vô kế khả thi, nghe Trịnh Tam Nương nói vậy bèn nghĩ: “Bất kể mụ ta nói đúng hay sai, cứ cạy ra xem sao đã!” Lão bèn cầm lấy đao, rút chủy thủ trong người ra rồi dùng mũi chủy thủ nạy nhẹ viên ngọc một cái, viên ngọc rơi bật xuống đất.
Bảo Thu nhặt viên ngọc lên, xem kỹ cả hai mặt chẳng thấy có gì lạ. Nhìn vào chỗ lõm lắp viên ngọc trên thân đao, lão bỗng lạc cả giọng kêu lên:
– Ở đây rồi!
Thì ra trong vết lõm đó có khắc một mũi tên, đầu mũi tên chỉ theo hướng đông bắc nhưng lệch về phía bắc, tận đầu mũi tên có một vòng tròn nhỏ xíu. Bảo Thụ mừng khôn xiết, đoán giữa vết lõm là đỉnh núi tròn. Lão ước lượng khoảng cách xa gần, nhằm đúng hướng, từng bước một đi tới. Khi sắp bước tới nơi dự tính, quả nhiên đất dưới chân tơi xốp, người lún xuống ngay. Lão đã phòng bị sẵn, hai chân vừa tới chỗ đất chắc lập tức huơ đuốc gạt băng tuyết ra; thấy trước mặt lộ ra một đường hầm dài, bèn đi vào ngay. Bọn Lưu Nguyên Hạc cũng nhảy xuống theo sau.
Đuốc cháy được một lúc thì tắt ngóm, nhưng sơn động thì quanh co, vòng vèo, ngoặt liền mấy chỗ mà vẫn chưa tới nơi.
Tào Vân Kỳ nói:
– Tại hạ đi kiếm ít cành cây khô.
Nói rồi chạy trở ra ngoài, ôm vào một mớ cành khô, châm lửa thành bó đuốc. Hắn là người lỗ mãng, nhưng cũng có mặt tốt là làm việc mạnh bạo dứt khoát. Tào Vân Kỳ tay cầm đuốc, dẫn đầu đi trước.
Trong động, khắp nơi toàn là băng đóng cứng đã rất lâu, một số chỗ băng nhô ra nhọn hoắt như lưỡi kiếm. Đào Bách Tuế vác một khối đá to, đập vỡ hết những mũi băng nhọn cản đường. Khi lên núi, ai nấy đều gườm nhau, nhưng lúc này đều mong tìm thấy kho tàng, đồng hội cùng thuyền, dìu đỡ nhau mà đi.
Ngoặt qua mấy khúc quanh nữa, Điền Thanh Vân bỗng kêu lên :
– Ủa!
Chỉ tay vào một vật vàng choé dưới đất ngay trước mặt Tào Vân Kỳ. Tào Vân Kỳ cúi nhặt lên, thì ra là một cây bút đúc bằng vàng, cán bút khắc chữ “An”, giống hệt cây bút trong tay Điền Thanh Văn trước khi lên núi. Tào Vân Kỳ nghi hoặc, quay đầu lại nghiêm giọng nói với Đào Tử An :
– Hừm, thì ra là người đã đến đây!
Đào Tử An nói:
– Ai bảo ta từng đến đây? Ngươi xem, lối vào có vết chân người không?
Tào Vân Kỳ nghĩ thầm :
– Trong hang này quả không thấy dấu chân người, nhưng sao cây bút bằng vàng của hắn lại rơi ở đây được?
Hắn đã nghĩ việc gì thì không sao để bụng được, lập tức xòe tay ra cho thấy cây bút vàng, miệng nói:
– Chẳng phải của ngươi ư? Khắc tên ngươi rành rành đây này!
Đào Tử An nhìn rồi lắc đầu nói:
– Ta chưa thấy nó bao giờ!
Tào Vân Kỳ nổi giận, ném ngay bút xuống đất, rồi đưa tay chộp áo Đào Tử An, nhổ luôn một bãi nước bọt, quát to :
– Còn định chối hả? Ta thấy rõ ràng Thanh muội cầm cây bút ngươi tặng mà!
Sơn động này không tiện xoay trở người, Đào Tử An sao tránh kịp? Bãi nước bọt trúng ngay bên trái mũi. Đào Tử An giận quá, phóng ngay hữu cước ra, đá trúng bụng dưới Tào Vân Kỳ, đồng thời song thủ xuất chiêu”Yến quy sào” đánh trúng ngực đối phương. Tào Vân Kỳ thân người chấn động, vứt luôn bó đuốc, tay phải đánh trả một quyền, “bốp” một phát vào mặt Đào Tử An. Đuốc tắt, trong động tối om, chỉ nghe tiếng hai người giận giữ chửi rủa nhau, xen lẫn những tiếng đánh nhau uỳnh uỵch. Cả hai tay đấm chân đá, chiêu nào cũng trúng đối phương, sau đó ôm lấy nhau lăn lộn dưới đất.
Mọi người vừa bực lại vừa buồn cười, đều lên tiếng can ngăn. Nhưng hai gã Tào, Đào sao chịu nghe? Điền Thanh Văn bỗng cao giọng nói :
– Người nào không chịu dừng tay, từ nay ta không thèm nói chuyện nữa!
Tào Vân Kỳ, Đào Tử An đều khựng lại, bất giác buông nhau ra đứng lên .
Trong bóng tối nghe Hùng Nguyên Hiến nhỏ nhẹ nói:
– Tại hạ là Hùng Nguyên Hiến, tìm đuốc thắp lên đây. Hai vị chớ có ghen xằng mà đấm đá vào người tại hạ đấy nhé.
Hắn đưa tay mò dưới đất, tìm được đuốc, đốt lên. Thấy Tào, Đào hai người mắt tím mũi sưng, thở hồng hộc, bàn tay nắm chặt, giận dữ nhìn nhau.
Điền Thanh Văn lấy từ trong áo ra cây bút vàng nhỏ, lại nhặt cây bút vàng nhỏ dưới đất cầm lên, nói với Tào Vân Kỳ:
– Hai cây bút này quả thật là một đôi, nhưng ai bảo với huynh rằng Đào huynh cho muội?
Tào Vân Kỳ ngớ người ra, lắp bắp nói:
– Không phải hắn cho muội, vậy sao muội có? Tại sao trên bút có tên hắn?
Đào Bách Tuế cầm bút xem, hỏi Tào Vân Kỳ:
– Sư phụ ngươi là Điền Quy Nông, còn sư tổ ngươi là ai?
Tào Vân Kỳ sững người, đáp:
– Sư tổ? Sư tổ là phụ thân của sự phụ tại hạ, lão nhân gia tên chữ là An Báo.
Đào Bách Tuế cười nhạt, nói :
– Đúng rồi! Điền An Báo. Ông ta dùng thứ ám khí gì?
Tào Vân Kỳ đáp:
– Tại… tại hạ chưa từng được gặp sư tổ.
Đào Bách Tuế nói:
– Người chưa gặp nhưng võ nghệ của Nguyễn sư thúc ngươi là do Điền An Báo đích thân truyền thụ, ngươi cứ hỏi y.
Tào Vân Kỳ chưa kịp mở miệng thì Nguyễn Sĩ Trung đã tiếp lời, nói:
– Vân Kỳ đừng gây náo loạn nữa! Cây bút bằng vàng này là ám khí của sư tổ gia đó.
Tào Vân Kỳ đớ lưỡi không nói được, nhưng trong lòng vẫn không hết nghi ngờ.
Bảo Thụ nói:
– Hai người muốn so tài cao thấp thì xin mời ra ngoài kia mà đánh nhau sống chết, để chúng ta đi tìm kho tàng.
Hùng Nguyên Hiến giơ cao đuốc đi trước dẫn đường, ngoặt qua một khúc quanh nữa. Lúc này huyệt động càng lúc càng hẹp, mọi người đều phải khom lưng mà đi, có lúc đầu và vào những nhũ bằng cứng nhọn hoắc, đau điếng, nhưng nghĩ đến sắp được kho tàng nên đều không lấy đó làm khổ sở.
Đi hết khoảng thời gian uống một tuần trà, trước mắt đã hết lối, chỉ thấy một khối đá to hình tròn chồng lên một khối đá hình tròn khác. Hai khối đá này chắn hết lối đi, giữa hai khối đá đều là bằng đông cứng. Hùng Nguyên Hiến giơ tay đẩy, khối đá không hề nhúc nhích, liền quay lại hỏi Bảo Thụ:
– Làm sao đây?
Bảo Thụ lắc đầu không đáp.
Trong đám quần hào này, Ân Cát là người nhiều mưu trí nhất, hắn trầm ngâm giây lát, rồi nói:
– Hai khối đá tròn chồng lên nhau tất phải đẩy được, chỉ do băng đông cứng lại thôi .
Bảo Thụ mừng, nói:
– Đúng vậy, chỉ cần đốt băng tan ra là được.
Hùng Nguyên Hiến bèn cầm đuốc đến gần khối đá, hơ cho băng đóng giữa hai tảng đá này chảy ra. Bọn Tào Vân Kỳ, Chu Vân Dương quay trở ra ngoài nhặt thêm cành khô chụm vào đốt. Lửa cháy to, băng tan thành nước, chỉ nghe những tiếng lách tách rồi từng khối băng vụn rơi xuống nền đất.
Chừng thấy băng đóng quanh hai khối đá tròn đã tan được quá nửa, Bảo Thụ nôn nóng, vận kình lên song thủ đẩy khối đá, nhưng khối đá vẫn trơ trơ. Lại hơ một lúc nữa, băng tan ra nhiều hơn. Khi Bảo Thụ đẩy lần thứ hai thì khối đá nhúc nhích mấy cái, rồi từ từ xê dịch qua, lộ ra một kẽ hở, chẳng khác nào cánh cửa đá do trời đất tạo nên vậy.
Mọi người cả mừng, reo hò ầm lên. Nguyễn Sĩ Trung hợp sức với Bảo Thụ đẩy tiếp cho khe hở rộng thêm ra. Bảo Thụ nhặt một cành củi cháy đi vào trước, ai nấy cũng cầm đuốc ùn ùn vào theo. Vừa qua cửa đá thì cả một vùng ánh vàng lấp lánh phản chiếu đến hoa cả mắt, khiến ai nấy đều nín thở, há hốc mồm không ngậm lại được.
Thì ra trước mặt là một cái hang động cực lớn, chung quanh xếp đầy những khối bạc, thỏi vàng, trân châu bảo thạch, nhiều không biết bao nhiêu mà kể. Có điều số vàng bạc châu báu này đều ẩn sau những tảng băng trong suốt. Xem ra năm ấy, sau khi thuộc hạ của Sấm Vương cất giấu vàng bạc châu báu xong, họ đã tưới nước lạnh vào. Nơi đây quanh năm lạnh giá, băng tuyết không tan, thành thử vàng bạc châu báu như được để trong một khối thủy tinh vậy. Mọi người nhìn số vàng bạc châu báu mà không thốt ra được lời nào, nhất thời trong động im phăng phắc. Rồi đột nhiên họ cùng reo hò lên. Bọn Bảo Thụ, Đào Bách Tuế đều nhào tới, chẳng còn biết nói gì lúc này.
Chợt Điền Thanh Văn hoảng hốt kêu lên:
– Có người!
Nàng chỉ tay vào vách hang. Dưới ánh lửa soi, quả nhiên là có hai bóng đen đứng dựa vào vách.
Mọi người quá kinh hãi, không ngờ có người ở trong động. Chẳng lẽ nào còn có lối khác vào hang động? Ai nấy cầm binh khí trong tay, bất giác đứng tụm lại với nhau. Một lúc lâu sau, thấy hai bóng đen kia vẫn không hề động đậy. Bảo Thụ bèn quát to:
– Ai đó?
Nhưng thấy hai bóng đen kia vẫn bất động, mọi người càng nghi hoặc hơn. Bảo Thụ nói to:
– Không biết hai vị tiền bối cao nhân nào, xin mời ra đây tương kiến!
Tiếng lão bị bốn vách hang vang dội lại đến nỗi ù cả tai, rất khó chịu, nhưng hai người kia vẫn không trả lời, cũng chẳng bước ra.
Bảo Thụ giơ cao thuốc lên, tiến lại gần mấy bước, thấy rõ hai bóng đen kia ở ngoài một lớp băng. Lớp băng này thẳng đứng như một bức tường thủy tinh, ngăn thành hai gian trong và ngoài. Bảo Thụ lấy hết can đảm bước lại đến bức tường băng, thấy tình trạng của hai người kia rất quái dị mà không hề động đậy, rõ ràng đã bị điểm trúng huyệt đạo. Lúc này, lão không sợ nữa, gọi to:
– Mọi người đến đây!
Lão sải chân đi vòng qua bức tường băng, tay phải giơ đao lên, tay trái cầm đuốc soi vào mặt hai người, bất giác hít một hơi thật sâu. Thì ra hai người này đã chết từ lâu, mặt mũi gớm ghiếc, các thớ thịt trên mặt nhăn nhúm, trông thật ghê sợ.
Trịnh Tam Nương và Điền Thanh Văn thấy xác chết thì đều kinh hãi hét lên. Những người khác tới gần tử thi, thấy hai người tay phải đều cầm chủy thủ đâm vào đối phương, một mũi trúng vào ngực, một mũi trúng vào bụng dưới, tự giết nhau.
Nguyễn Sĩ Trung nhìn rõ mặt một xác chết, đột nhiên phủ phục xuống đất khóc rống, nói:
– Ân sư, thì ra lão nhân gia ở chốn này!
Mọi người nghe hắn gọi thế đều kinh ngạc xúm lại, cùng hỏi:
– Cái gì?
– Hai người này là ai?
– Sư phụ của ngươi sao ?
– Sao lại chết ở đây chứ?
Nguyễn Sĩ Trung gạt nước mắt, chỉ vào cái xác hơi thấp hơn, nói:
– Vị này là Điền ân sư của tại hạ. Chiếc bút bằng vàng vừa nãy Vân Kỳ nhặt được là của sự phụ tại hạ.
Mọi người nhìn mặt Điền An Báo chỉ chừng dưới bốn mươi tuổi, còn trẻ hơn cả Nguyễn Sĩ Trung, mới đầu cảm thấy kỳ lạ, nhưng nghĩ lại thì hiểu ra. Hai người này thật ra đã chết cách đây mấy chục năm, chỉ vì trong hang giá rét nên xác không thối rữa, giống như vừa mới chết mấy ngày vậy.
Tào Vân Kỳ chỉ vào cái xác thứ hai, hỏi:
– Sư thúc, còn người này là ai? Sao hắn dám giết sư tổ gia?
Nói xong, hắn đá một phát vào tử thi kia. Mọi người thấy thi thể người này cao gầy, chân tay to dài thì cũng đoán ra được tám chín phần.
Nguyễn Sĩ Trung nói:
– Vị này là phụ thân của Kim Diện Phật, hồi nhỏ tại hạ vẫn gọi ông là Miêu gia. Lão rất thân với ấn sự tại hạ. Có một năm hai người rủ nhau ra quan ngoại, lúc ấy bọn tại hạ không biết vì việc gì, nhưng thấy hai người có vẻ cao hứng lắm, hớn hở đi. Nhưng từ đấy không thấy họ trở về nữa. Sau này bằng hữu trong võ lâm đồn nhau là họ bị Hồ Nhất Đao ở Liêu Đông giết hại, cho nên Kim Diện Phật và Điền sư huynh mới đi tìm Hồ Nhất Đao báo thù. Nào ngờ Miêu… Miêu gia thấy châu báu trong động thì nảy lòng tham, liền hạ độc thủ ân sư.
Nói xong, Nguyễn Sĩ Trung đá một phát vào đùi cái xác ấy. Họ Miêu và họ Điền sau khi chết, toàn thân đông cứng, Nguyễn Sĩ Trung đá một cước mà thi thể vẫn đứng thẳng không đổ, còn mũi chân hắn thì lại đau ê ẩm.
Cả bọn đều nghĩ:
– Biết đâu sư phụ ngươi nẩy lòng tham, hạ độc thủ trước?
Nguyễn Sĩ Trung giơ tay đẩy xác người họ Miêu, toan tách người đó ra khỏi sư phụ. Nhưng hai người bị dính với nhau đã mấy chục năm, tay liền với đao, đao liền với người, băng đóng cứng lại, sao có thể đẩy rời họ ra được?
Đào Bách Tuế thở dài, nói:
– Năm xưa Hồ Nhất Đao nhờ người báo cho Miêu đại hiệp và Điền Quy Nông hay rằng ông ta biết phụ thân của họ đã chết vì nguyên nhân gì. Có điều hai người này chết không được vinh dự cho lắm nên y không tiện nói ra, chỉ muốn đưa họ đến tận nơi xem mà thôi. Bây giờ chúng ta đã tận mắt thấy cả rồi, lời Hồ Nhất Đao quả không sai. Như vậy Hồ Nhất Đao tất đã từng đến đây, nhưng thấy kho tàng mà không lấy, thực không biết vì cớ gì sao?
Điền Thanh Văn bỗng nói:
– Hôm nay điệt nữ gặp một chuyện rất lạ.
Nguyễn Sĩ Trung hỏi:
– Chuyện gì thế ?
Điền Thanh Văn đáp:
– Sáng hôm nay chúng ta đuổi theo…
Nàng nhếch môi về phía Đào Tử An, mặt hơi đỏ lên. Nói tiếp:
– Sư thúc, sư huynh phi ngựa trước, điệt nữ tụt lại phía sau…
Tào Vân Kỳ không nén được, gằn giọng:
– Muội cưỡi con ngựa tốt nhất, làm sao tụt lại đằng sau được? Muội… muội… không muốn động thủ với tên họ Đào chứ gì?
Điền Thanh Văn chẳng thèm nhìn hắn, chỉ buồn buồn nói:
– Sư ca hại cả một đời muội, còn muốn dằn vặt thế nào nữa thì tùy huynh. Nhưng Đào Tử An là hôn phu của muội, muội có lỗi với huynh ấy. Tuy Đào huynh không cần muội nữa, nhưng ngoài huynh ấy ra, trong lòng muội quyết không thể có ai khác.
Đào Tử An lớn tiếng nói:
– Không, huynh cần muội! Thanh muội, huynh cần muội !
Đào Bách Tuế và Tào Vân Kỳ cùng quát ầm lên. Một người quát:
– Ngươi muốn lấy con tiện nhân đó à? Ta không cần thứ con dâu như nó đâu!
Một người quát:
– Ngươi có bản lãnh thì hạ thủ ta trước cái đã!
Hai người cùng quát một lúc, tiếng vọng lại trong hang động rất lớn, quyện vào nhau khiến chẳng ai nghe họ nói gì.
Điền Thanh Văn cúi nhìn xuống đất, chờ họ quát xong mới khẽ nói:
– Tuy chàng cần muội, nhưng muội còn mặt mũi nào mà về với chàng? Ra khỏi động rồi, vĩnh viễn chàng đừng bao giờ tìm gặp muội nữa!
Đào Tử An cuống lên nói:
– Không, không, Thanh muội, tất cả là do hắn. Hắn ức hiếp muội, dày vò muội, ta phải liều mạng với hắn.
Nói xong xách đao sấn tới Tào Vân Kỳ.
Lưu Nguyên Hạc đứng chắn trước mặt Đào Tử An, la lên:
– Hai người ghen tuông thì ra ngoài kia mà đánh nhau .
Dứt lời, Lưu Nguyên Hạc vung chưởng trái nhứ một cái, tay phải vươn ra chộp lấy cổ tay Đào Tử An vặn khẽ một cái, đoạt luôn thanh đao trong tay hắn, ném xuống đất.
Còn phía bên kia, Tào Vân Kỳ nhảy đựng lên cũng bị Ân Cát cản lại. Ai nấy đều thấy Điền Thanh Văn lùi mà lại thành tiến, làm cho hai anh chàng họ Tào và họ Đào trở nên điên cuồng vì nàng thì đều cười thầm trong bụng.
Bảo Thụ nói:
– Điền cô nương, cô nương thương ai thì lấy người đó, tóm lại không thể nào lấy hòa thượng ta được. Cho nên lão nạp muốn hỏi cô nương sáng nay gặp chuyện gì mà bảo là quái lạ?
Mọi người cười ha hả. Điền Thanh Văn cũng bật cười khúc khích, đáp:
– Con ngựa điệt nữ cưỡi phi rất chậm, không đuổi kịp các sư thúc. Đang đi chợt nghe có tiếng vó ngựa, một con ngựa từ phía sau vọt lên. Người cưỡi ngựa cầm trong tay một bầu rượu lớn, ngửa cổ lên tu. Điệt nữ thấy y râu ria đầy mặt, say ngất ngưởng trên mình ngựa mà còn tu rượu ừng ực, bất giác cười thành tiếng. Y quay đầu lại hỏi: “Cô nương là con gái Điền Quy Nông phải không?” Điệt nữ đáp : “Phải, tôn giá là ai?” Y nói: “Cho cô nương cái này!” Ngón tay búng một cái thì cây bút vàng này bay sạt qua, làm rơi một bên hoa tai của điệt nữ. Điệt nữ giật mình, còn y thì thúc ngựa bỏ đi. Điệt nữ phân vân mãi, không biết tại sao y lại búng cho điệt nữ cây bút vàng này.
Bảo Thụ hỏi:
– Cô nương có nhận ra là ai không?
Điền Thanh Văn gật đầu, khẽ đáp:
– Chính là Tuyết Sơn Phi Hồ Hồ Phỉ. Khi y búng cây bút cho điệt nữ, đương nhiên điệt nữ không hề biết y là ai. Sau này, khi y lên núi nói chuyện với Miêu cô nương, điệt nữ mới nhận ra giọng nói của y, rồi lại nhìn qua khe vách, thì đúng là y thật.
Tào Vân Kỳ lại nổi cơn ghen, hỏi:
– Cây bút vàng này đã là của sư tổ, Hồ Phỉ làm sao mà có được? Hắn cho muội để làm gì?
Điền Thanh Văn đang ôn tồn nói chuyện với mọi người, nghe Tào Vân Kỳ hỏi thế thì cảm thấy bực mình, sầm nét mặt chẳng thèm nhìn hắn.
Lưu Nguyên Hạc nói:
– Hồ Nhất Đao từng đến nơi này, hắn là nhặt được ở dưới đất hoặc lấy được trên người Điền An Báo. Nhưng khi Hồ Nhất Đao chết, Hồ Phỉ ra đời mới được mấy ngày, làm sao có thể trao cây bút lại cho hắn được?
Hùng Nguyễn Hiến nói:
– Có thể Hồ Nhất Đao để cây bút này lại ở nhà, sau này khi Hồ Phỉ lớn lên, trở lại nhà cũ, đương nhiên là tìm thấy nó trong số di vật của phụ thân hắn.
Nguyễn Sĩ Trung gật đầu, nói:
– Rất có thể như thế. Cây bút nhỏ này rỗng ruột, đầu bút có thể vặn ra. Thanh Văn, điệt nhi xem bên trong bút có gì không?
Điền Thanh Văn trước hết tháo đầu chiếc bút nhặt được ở trong hang ra, trong ruột bút không có gì, lại tháo đầu cây bút của Hồ Phỉ ném cho, thấy trong ruột bút có cuộn giấy bé xíu. Mọi người xúm lại xem, nghĩ thầm nếu không có Nguyễn Sĩ Trung ở đây thì chưa dễ đã nghĩ được thứ ám khí này được chế tạo tinh xảo đến thế, có thể giấu đồ trong quản bút.
Điền Thanh Văn mở mẩu giấy ra, trên giấy có viết mười sáu chữ như sau :
Thiên Long các vị
Giá lâm Liêu Đông
Khi đến cưỡi ngựa
Khi về cưỡi gió!
Góc dưới tờ giấy vẽ hình con hồ ly trên lưng có cánh, mười sáu chữ này chính là thủ bút của Tuyết Sơn Phi Hồ.
Nguyễn Sĩ Trung sa sầm nét mặt, nói:
– Hừm, chắc gì đã như thế!
Tuy miệng nói vậy nhưng nghĩ đến bản lãnh của Hồ Phỉ, lại nghĩ đến việc y biết rõ mọi hành tung của người Thiên Long môn thì Nguyễn Sĩ Trung cũng không khỏi lo lắng. Tào Vân Kỳ nói:
– Sư thúc, “khi về cưỡi gió” là sao?
Nguyễn Sĩ Trung đáp:
– Hừ, hắn bảo chúng ta sẽ chết ở Liêu Đông, biến thành ma nơi đất khách, hồn phách phiêu diêu cưỡi gió mà trở về.
Tào Vân Kỳ buột miệng mắng:
– Con mẹ nó!
Bọn người trong Thiên Long môn ai nấy trầm ngâm suy nghĩ về mười sáu chữ viết trên mảnh giấy đó. Còn bọn Bảo Thụ, Đào Bách Tuế, Lưu Nguyên Hạc thì đã sớm chuyển ánh mắt nhìn số vàng bạc châu báu ở xung quanh. Bảo Thụ lấy một thanh đao chém vào băng; chém mấy nhát đã phá được một tảng băng, lấy ra được vàng ngọc cầm trên tay lão cười ha hả. Dưới ánh đuốc, vàng ngọc trên tay lão toả ánh sáng rực rỡ kì ảo. Mọi người thấy vậy đều hăng hái hẳn lên, đều cầm đao chém vào băng để lấy của báu. Nhưng chém một hồi thì đao kiếm đều quằn lưỡi, dần dần cùn đi không còn bén nữa. Nguyên là, đao kiếm của mọi người đã bị hai tiểu đồng chém gãy từ lúc ở trên đỉnh núi, binh khí mang theo vào hang đều là đạo kiếm tiện tay lấy ở Đỗ gia trang, chứ không phải là loại sắc bén được chọn lựa kĩ lưỡng. Số châu báu bọn họ lấy được, ai nấy nhét luôn vào túi áo, càng lấy được nhiều càng say sưa, nhưng đao kiếm ngày một cùn nên sức chém càng lúc càng chậm.
Điền Thanh Văn nói:
– Chúng ta đi nhặt thêm ít củi đốt cho chảy bằng ra mà lấy.
Mọi người khen hay. Việc này đáng lẽ phải nghĩ ra sớm, nhưng thấy vàng bạc châu báu đã đến tay, ai cũng nôn nóng vung đao kiếm lên chặt băng. Bây giờ tuy mọi người tán thành ý kiến hay của Điền Thanh Văn, nhưng không ai chịu ngừng tay để đi kiếm củi cả. Thì ra ai cũng sợ mình bỏ ra ngoài thì người khác sẽ lấy được nhiều châu báu hơn.
Bảo Thụ nhìn mọi người một vòng rồi phân công, nói:
– Chu thế huynh của Thiên Long môn, Đào thế huynh của Ẩm Mã Xuyên, Hùng tiêu đầu của tiêu cục, xin ba vị đi kiếm củi cho. Còn những ai ở lại trong động đều phải dừng tay nghỉ, không ai được tự ý lấy vàng bạc châu báu nữa.
Ba người Chu, Đào và Hùng tuy bán tín bán nghi nhưng lại sợ Bảo Thụ dùng bạo lực, đành ra ngoài hang đi kiếm củi.
Tuyết Sơn Phi Hồ Hồ Phỉ đã hẹn trang chủ Ðỗ Hi Mạnh trên đỉnh Ngọc Bút núi Ô Lan là ngày rằm tháng ba sẽ lên núi tính sổ một món nợ cũ, nhưng lần đầu lên núi, Ðỗ trang chủ lại đi vắng chưa về, chỉ trò chuyện được với Miêu Nhược Lan một lúc thôi. Chàng xuống núi, trong lòng bồi hồi không yên, nhìn đâu cũng như thấy hình dáng của Miêu Nhược Lan, trong tai vẫn còn vang vọng tiếng nàng đàn hát. Chàng cùng Bình A Tứ và hai tiểu đồng ăn lương khô thật no bụng trong động. Thấy Bình A Tứ tuy bị thương khá nặng nhưng không nguy hiểm đến tính mạng, cảm thấy yên lòng. Chàng nằm dài dưới đất nhắm mắt dưỡng thần. Nhưng chàng vừa nhắm mắt thì khuôn mặt xinh đẹp dịu dàng của Miêu Nhược Lan lại hiện ra mồn một trong đầu.
Hồ Phỉ mở to mắt nhìn vào vách đá đen sì trong động, tiếng hát của Miêu Nhược Lan lại như thoang thoảng từ vách đá vọng ra. Chàng thở dài, nghĩ thầm:
– Ta cứ nghĩ mãi tới nàng làm gì nhỉ? Phụ thân nàng là đại cừu nhân giết phụ thân ta, tuy nghe nói lúc ấy phụ thân nàng không cố ý nhưng phụ thân ta vì vậy mà chết. Ta cả đời lẻ loi cô quạnh, không cha không mẹ, đều là do phụ thân nàng gây ra cả. Sao ta còn nghĩ tới nàng làm gì?
Nghĩ đến đây, chàng căm giận khôn nguôi, nhưng bất giác lại nghĩ:
– Lúc ấy nàng chưa ra đời, oán thù của đời trước có liên quan gì với nàng? Ôi! Nàng là thiên kim tiểu thư, ta là thằng con trai khổ sở lưu lạc giang hồ, sao lại tự chuốc lấy ưu phiền cho thêm khổ?
Nói thì nói vậy, nhưng dễ gì giũ bỏ được ưu phiền? Nếu tơ tình mà một chém là đứt đoạn thì còn đâu là tơ tình nữa!
Hồ Phỉ nằm trong sơn động gần một giờ, trong đầu cứ vương vấn hình ảnh Miêu Nhược Lan. Ngẫu nhiên chàng nghĩ:
– Có khi bọn họ sợ đối đầu không nổi ta nên bày ra mĩ nhân kế?
Nhưng lập tức chàng cảm thấy ngay ý nghĩ này đã xúc phạm nàng, trong lòng nghĩ:
– Không, không, nàng giống như tiên nữ trên trời, sao có thể làm chuyện bỉ ổi đó được? Sao ta có thể lấy lòng dạ kẻ tiểu nhân mà xúc phạm như thế?
Thấy trời đã tối dần, không sao dằn lòng được nữa, chàng nói với Bình A Tứ:
– Tứ thúc, tiểu điệt lên núi lần nữa đây! Thúc thúc cứ nằm nghỉ ở đây nhé!
Chàng thi triển khinh công, trong chớp mắt đã tới dưới chân núi, bám dây leo lên. Vừa nhìn thấy cổng sơn trang họ Ðỗ, tim chàng đã đập thình thịch. Vào đại sảnh chẳng thấy ai trong trang ra đón tiếp, chàng lấy làm lạ, lớn tiếng gọi:
– Vãn bối Hồ Phỉ xin được cầu kiền, Ðỗ trang chủ đã về chưa?
Ðánh tiếng mấy lần nhưng chẳng thấy ai trả lời, chàng hơi mỉm cười, thầm nghĩ:
– Ðỗ Hi Mạnh thật uổng mang tiếng là anh hào Liêu Ðông, có vậy mà cũng núp núp tránh tránh, làm ra vẻ thần bí. Ngươi giở gian kế thì Hồ Phỉ ta sợ chắc?
Chàng ngồi ở đại sảnh một lát, toan để lại mấy chữ sỉ nhục Ðỗ Hi Mạnh một phen rồi xuống núi, nhưng không hiểu sao lại lưu luyến không muốn rời ngay nơi này. Chàng bèn đi tới phòng phía Ðông, đẩy cửa ra, thấy bốn vách tường đều là sách, trang trí bày biện rất trang nhã. Bước vào phòng, chàng thuận tay rút ra một cuốn sách, ngồi giở ra xem, nhưng lật qua lật lại mà chẳng đọc nổi chữ nào, trong lòng chỉ lẩm bẩm câu hỏi: “Nàng đi đâu rồi? Nàng đi đâu rồi?”.
Lát sau trời càng tối, chàng lấy lửa ra đang định châm nến, bỗng nghe thấy mấy tiếng lạo xạo rất khẽ trên tuyết ở mé Ðông ngoài sơn trang. Trong lòng chợt động, biết là có cao thủ đạp tuyết đi tới. Cần phải biết, nếu đi trên đất, muốn đi khẽ thì nhón chân lên mà đi. Nhưng đi trên tuyết thì khó mà giả được, công phu cao thì bước chân nhẹ nhàng linh hoạt, công phu thấp thì bước chân nặng nề, nghe là biết liền. Hồ Phỉ lắng nghe tiếng mấy chân bước ấy, thầm nghĩ: “Phải xem cao thủ phương nào tới mới được!”. Đoạn cất giấy đánh lửa vào bọc, nghiêng tai lắng nghe.
Nhưng chàng nghe trên tuyết còn có tiếng bước chân của mấy người nữa, đều là người có võ công rất cao. Hồ Phỉ thử đếm, tổng cộng có đến năm người. Chợt nghe xa xa, thoang thoảng có ba tiếng vỗ tay, ngoài sơn trang cũng có người vỗ tay ba tiếng đáp lại. Lát sau, ngoài sơn trang có thêm sáu người nữa đến. Hồ Phỉ tuy võ nghệ cao, lại gan góc, nhưng thấy các cao thủ tập trung về đây, trong chốc lát có đến mười một người thì trong lòng cũng nghi ngại không yên, suy nghĩ: “Việc cần kíp trước tiên là rời ngay chỗ này, đối phương mời nhiều người giúp sức, một mình ta e không địch nổi”. Thế là chàng ra khỏi phòng, đang tính nhảy lên mái, bỗng nghe mái nhà có tiếng lách cách, lại có thêm người đến.
Hồ Phỉ vội vàng lui lại nấp, lắng nghe tình hình trên mái nhà, lại có thêm đến bảy cao thủ nữa. Tiếp đó nghe trên mái nhà có người vỗ tay ba cái, ngoài sơn trang đáp lại ba cái, rồi bảy người trên mái nhà nhẹ nhàng nhảy xuống sân đi thẳng vào gian chái. Chàng nghĩ kẻ thù quá đông, lần này phải ra tay đột ngột mới mong thắng nổi. Trước đó chàng đã đoán Ðỗ Hi Mạnh mời người đến trợ lực, nhưng không ngờ lại mời nhiều cao thủ đến như vậy. Chàng nghe bảy người bước về hướng cửa phòng, liền thu mình núp sau bình phong xem họ bàn tính gì, đối phó với mình như thế nào.
Chỉ nghe “tách” một tiếng, có người đánh lửa lên. Hồ Phỉ nghĩ không thể ẩn thân sau bình phong mãi được, đưa mắt tìm kiếm, thấy màn trướng trên giường rủ xuống, dưới giường không có giày, hẳn không có ai nằm trên giường, bèn đánh bạo rón rén đến vạch màn ra, ngồi lên giường rồi chui luôn vào chăn. Hành động của chàng rất nhanh nhẹn, nhẹ nhàng, bảy người ở bên ngoài phòng tuy đều là cao thủ nhưng không một ai phát giác.
Nhưng Hồ Phỉ vừa chui vào chăn thì thất kinh, giật nảy mình. Tay chàng chạm phải da thịt một người, mềm mại mịn màng, thì ra trong chăn có cô gái đang ngủ. Chàng đang định lăn xuống gầm giường thì ánh lửa nhấp nhoáng trước mắt, có người đã vào phòng. Gã cầm nến soi phía sau bình phong, nói:
-Trong này không có người, chúng ta ngồi đây nói chuyện vậy.
Nói xong, gã ngồi xuống luôn.
Lúc này mùi thơm phả vào mũi Hồ Phỉ, chính là mùi thơm chàng ngửi thấy khi xướng họa cùng với Miêu Nhược Lan. Tim chàng như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, thầm nghĩ:
– Chẳng lẽ người này chính là Miêu cô nương? Lần này ta đường đột với giai nhân, thật tội đáng chết vạn lần. Nhưng nếu bây giờ ta nhảy ra, mấy người kia thấy nàng cùng giường chung chăn với ta ắt bảo đã có chuyện ám muội. Thanh danh một đời của Miêu cô nương sẽ bị ta huỷ hoại. Thôi đành chờ mấy người đi khỏi, mình sẽ xuống giường tạ lỗi.
Chàng hơi nghiêng người thì mu bàn tay chạm phải da thịt trên cánh tay cô gái, cảm thấy da thịt nàng mềm mại vô cùng, tựa hồ như không mặc y phục, khiến chàng kinh hãi vội vàng rụt tay lại. Thực ra Ðiền Thanh Văn chỉ cởi bỏ áo ngoài của Miêu Nhược Lan thôi, còn y phục trong vẫn để nguyên, nhưng Hồ Phỉ lại tưởng nàng trần truồng nên nhắm mắt lại không dám nhìn, chân tay càng không dám động đậy, rồi thu mình lại, tay chân không dám nhúc nhích, co rúm người lại khẽ dịch ra phía mép giường, để khoảng cách giữa hai người xa hơn một chút.
Hồ Phỉ tuy nhắm mắt nhưng mũi vẫn ngửi thấy mùi hương ngọt ngào khiến ngây ngất người, tai nghe tim nàng đập nhanh thì không cầm lòng được lại mở mắt ra. Chàng thấy người thiếu nữ nằm ngoảnh mặt ra ngoài, khuôn mặt trắng thẹn thùng phơn phớt hồng như đóa hải đường, chẳng phải Miêu Nhược Lan thì còn ai vào đây nữa? Ánh nến rọi qua bức màn chiếu vào càng làm cho khuôn mặt trên gối ấy xinh đẹp não nùng.
Hồ Phỉ chỉ định nhìn một cái rồi lập tức nhắm mắt lại ngay, không nhìn nữa, nhưng vừa nhắm mắt thì lại nghĩ vẩn vơ không yên, thế là đành phải hé mắt nhìn nàng lần nữa.
Miêu Nhược Lan bị điểm trúng huyệt đạo, không cử động được nhưng vẫn tỉnh táo. Thấy Hồ Phỉ bỗng nhiên lên giường nằm sóng đôi với mình, lúc đầu thì kinh hoàng tột độ, chỉ sợ chàng làm điều vô lễ, nhưng cũng đành nhắm mắt phó mặc cho ý trời, cho số phận. Nào ngờ chàng vừa nằm giây lát, chẳng những không xáp lại mà còn dịch ra xa ra ngoài. Bất giác nàng bớt sợ, đâm ra hiếu kỳ, cũng hé hé mắt ra nhìn. Cái hé mắt này đúng ngay lúc Hồ Phỉ cũng hé mắt nhìn, bốn mắt nhìn nhau, chỉ cách nhau chừng hơn gang tay khiến cả hai đều ngượng chín người.
Chợt nghe ngoài bình phong có tiếng người nói:
– Trại tổng quản thật thần cơ diệu toán, không ai lường được. Người ấy kể ra không phải là tồi, cũng thực đáng là anh hùng hào kiệt “Ðả biến thiên hạ vô địch thủ”, nhưng đã rơi vào bẫy của ngài thì dù có mọc cánh cũng không thoát được.
Người cầm nến ha hả cười lớn, đặt đài nến xuống, đi ra ngoài bình phong, nói:
– Trương hiền đệ, đừng khen mãi ta mãi thế. Việc thành rồi, ta không quên công lao của mọi người đâu!
Hồ Phỉ và Miêu Nhược Lan nghe hai người nói, đều giật nẩy mình. Rõ ràng những người này sắp đặt mưu kế để hại Kim Diện Phật Miêu Nhân Phượng. Miêu Nhược Lan không hiểu biết chuyện giang hồ thì không sao, nàng chỉ nghĩ gia gia mình võ công vô địch nên chẳng sợ ai hãm hại. Còn Hồ Phỉ thì biết Trại tổng quản là đệ nhất cao thủ Mãn Châu, nội ngoại công phu đều đạt đến mức tinh diệu, tính tình lại xảo trá hung hãn, không biết đã hãm hại bao nhiêu trung thần nghĩa sĩ. Hắn là vệ sĩ thân tín số một của hoàng đế Càn Long, thế mà bây giờ lại đích thân dẫn người từ Bắc Kinh đến ngọn Ngọc Bút Phong này. Nghe như tên họ Trương nói thì chúng đang ngầm sắp đặt gian kế, dù Miêu Nhân Phượng có lợi hại đến đâu thì cũng e khó mà thoát khỏi độc thủ.
Nghe tiếng Trại tổng quản đã bước ra bên ngoài bình phong, Hồ Phỉ nghĩ không thể để mất cơ hội, liền khẽ vén màn, bàn tay phải nhằm ánh nến phất nhẹ, một luồng gió mạnh xô tới, “phụt” một tiếng làm nến tắt ngấm.
Nghe tiếng một người kêu lên:
– Ô, nến tắt rồi kìa!
Ngay lúc ấy lại có người lục tục bước vào phòng, gọi to:
– Mau châm lửa cho nến sáng lên!
Trại tổng quản nói:
– Chúng ta ngồi trong tối nói chuyện mà hay đấy. Cái tên Miêu Nhân Phượng nhạy lắm đấy. Nếu hắn đứng ngoài thấy ánh lửa, nói không chừng cá đã cắn câu mà vẫn thoát được đấy.
Mấy người nọ cũng ùn ùn phụ hoạ, nói:
– Trại tổng quản suy tính sâu xa, làm việc chu đáo, quả thực khác hẳn người thường.
Lại nghe có người khẽ đẩy bình phong lui ra. Lúc này trong phòng người ngồi đầy bốn phía, có người ngồi dưới đất, người ngồi trên ghế, lại có ba người ngồi trên mép giường.
Hồ Phỉ sợ ba người này ngồi mệt rồi ngả người ra phía sau nằm xuống thì hỏng việc, đành khẽ nhích vào phía trong giường. Như thế lại càng gần Miêu Nhược Lan, ngửi thấy hơi thở nàng thơm như mùi hoa lan, khiến tâm hồn chàng ngây ngất. Hồ Phỉ chỉ sợ chạm vào ba người ngồi ở mép giường thì hoen ố danh tiết của Miêu Nhược Lan, lại sợ râu mình tua tủa đâm vào đôi má nõn nà của nàng. Trong bụng chàng đã định sẳn, nếu bị phát giác tất phải giết hết mười tám người trong phòng này, dù mình mất mạng cũng không thể để lại một cái miệng còn sống nào làm liên lụy đến vị cô nương ngọc khiết băng thanh này.
May sao ba người kia đều ngồi ngay ngắn, không động đậy gì. Hồ Phỉ không biết Miêu Nhược Lan bị điểm huyệt, thấy nàng không tránh lùi vào phía trong, bất giác vừa sợ vừa mừng, người lơ lửng giữa tầng mây.
Lại nghe Trại tổng quản nói:
– Các vị, chúng ta xin mời Ðỗ trang chủ giới thiệu mọi người với nhau.
Nghe một người có giọng trầm đục nói:
– Ðược các vị có lòng hạ cố, đệ cảm thấy vô cùng vinh dự. Vị này là Trại đại nhân, Tổng quản ngự tiền thị vệ. Trại đại nhân uy danh chấn động giang hồ, các vị đương nhiên đã ngưỡng mộ từ lâu.
Người vừa nói chính là Ðỗ Hi Mạnh, trang chủ Ngọc Bút sơn trang. Mọi người ầm ĩ nói hùa theo “ngưỡng mộ đã lâu, ngường mộ đã lâu”.
Hồ Phỉ lắng nghe Ðỗ Hi Mạnh nêu tên giới thiệu từng người, càng nghe càng kinh ngạc. Thì ra ngoài bọn Trại tổng quản bảy người là ngự tiền thị vệ ra, số người còn lại đều là cao thủ hàng đầu đã thành danh trên giang hồ. Huyền Minh Tử phái Thanh Thành có mặt, Linh Thanh cư sĩ núi Côn Luân có mặt, Tưởng lão quyền sư Vô Cực Môn ở Hà Nam cũng có mặt. Ngoài ra, nếu không phải là chưởng môn, cao thủ hàng đầu của môn phái nào đó, thì cũng là Tổng đà chủ của bang hội này, Tổng tiêu đầu của tiêu cục kia, không một ai là không có tên tuổi. Còn bảy tên thị vệ cũng đều là những cao thủ nổi danh đã lâu trong võ lâm.
Miêu Nhược Lan trong lòng suy nghĩ ngổn ngang, thầm nghĩ:
– Ta chỉ mặc chút ít quần áo mà lại nằm trong lòng chàng. Người này có ân oán chằng chịt với gia đình ta, không biết chàng định làm gì ta đây? Hôm nay lần đầu tiên gặp mặt, cảm thấy chàng tuy tướng mạo thô kệch nhưng là một trang nam tử kì tài, văn võ song toàn. Nào ngờ chàng lại dám vô lễ với ta như vậy.
Nàng cảm thấy Hồ Phỉ đối xử với mình như thế đúng thật là không nên, nhưng không hiểu làm sao, trong lòng lại không hề có ý tức giận oán trách, trái lại còn mất tự chủ, có chút vui thích. Bên ngoài hơn chục người lớn tiếng bàn bạc nhưng nàng không để tâm nghe được một câu nào.
Hồ Phỉ lớn hơn nàng đến mười tuổi, từng trải đã nhiều, biết rằng việc trước mắt có quan hệ không nhỏ, nên tuy vừa mừng mà cũng vừa lo, tâm thần bất định. Nhưng câu chuyện của mấy người ngồi ngoài màn bàn bạc, chàng đều nghe không sót một câu. Nghe Ðỗ Hi Mạnh giới thiệu từng người, chàng gập ngón tay lại đếm. Khi đếm đến người thứ mười sáu thì Ðỗ Hi Mạnh ngừng lại, không nói nữa. Hồ Phỉ nghĩ thầm: “Bên ngoài màn có cả thảy mười tám người, trừ Ðỗ Hi Mạnh còn mười bảy người, không biết người thứ mười bảy là ai?”. Ðiều Hồ Phỉ thắc mắc thì trong phòng cũng có mấy người kĩ tính để ý. Có người hỏi:
– Thế còn vị kia là ai?
Ðỗ Hi Mạnh không đáp.
Một lúc sau, Trại tổng quản mới nói:
– Thôi được, để tại hạ nói cho các vị biết, vị ấy là Phạm bang chủ Cái Bang Hưng Hán.
Mọi người đều giật mình. Trong số đó có vài người tin tức nhanh nhạy, biết Phạm bang chủ đã bị quan gia bắt, còn những người khác chỉ biết Cái Bang xưa nay đối đầu với quan phủ, quyết không tiếp tay cho ngự tiền thị vệ. Nay đột nhiên Bang chủ xuất hiện trên núi ai nấy đều lấy làm lạ.
Trại tổng quản nói:
– Sự tình là như thế này. Các vị nhận lời mời của Ðỗ trang chủ lên núi trợ sức để đối phó với Tuyết Sơn Phi Hồ. Nhưng trước khi tóm cổ con hồ ly này, chúng ta phải khiêng một vị Bồ tát xuống núi trước đã.
Có người lên tiếng cười, hỏi:
– Kim Diện Phật ư?
Trại tổng quản đáp:
– Ðúng thế. Chúng ta làm kinh động Phạm bang chủ vốn để dụ Miêu Nhân Phượng tới Bắc Kinh cứu bạn. Trong thiên lao đã sắp đặt sẵn mọi thứ để chờ y đại giá quang lâm. Không ngờ y cũng tinh khôn, không chịu cắn câu.
Trong đám thị vệ có người hắng giọng, nhưng không nói gì.
Thì ra trong lời nói vừa rồi của Trại tổng quản có che giấu một chuyện. Miêu Nhân Phượng sao chẳng đến Bắc Kinh? Họ Miêu một mình xông vào thiên lao muốn cứu Phạm bang chủ. Tuy không cứu được người ra, nhưng một thanh trường kiếm của “Đả biến thiên hạ vô địch thủ” đã giết mười một tên đại nội thị vệ. Ngay Trại tổng quản cũng trúng một nhát kiếm ở cánh tay. Tuy Trại tổng quản bố trí cực kỳ chu đáo, nhưng vì đối phương võ công quá cao nên rốt cuộc vẫn không bắt được. Ðây là mối sỉ nhục cực lớn trong đời lão, nên trước mặt người khác lão tuyệt không nhắc đến cũng phải.
Trại tổng quản nói:
– Hai vị Ðỗ trang chủ và Phạm bang chủ đều là người có nghĩa khí sâu nặng với bằng hữu, đồng lòng ra sức giúp chúng ta một tay, tại hạ thực vô cùng cảm kích. Khi nào xong việc, tại hạ sẽ tâu rõ lên hoàng thượng, thế nào cũng có phong thưởng hậu hĩnh…
Nói đến đây, bỗng nghe ngoài sơn trang loáng thoáng có tiếng chân người. Tai lão cực thính, bước chân tuy vừa khẽ vừa xa nhưng lão vẫn nghe rõ. Lão bèn hạ giọng bảo:
– Kim Diện Phật đến rồi đó. Bọn tại hạ là đương sai trong cung sẽ mai phục ở đây, còn các vị khác xin ra ngoài nghênh tiếp.
Ðỗ Hi Mạnh, Phạm bang chủ, Huyền Minh Tử, Linh Thanh cư sĩ, Tưởng lão quyền sư… đều đứng dậy ra khỏi phòng. Trong phòng chỉ còn lại bảy vệ sỹ đại nội.
Lúc này tiếng bước chân đã tới ngoài sơn trang, ai cũng không ngờ Kim Diện Phật lại đi nhanh đến thế. Thật chẳng khác gì thuyền gặp gió lớn giữa biển khơi, vừa mới thấy điềm báo là mưa to gió lớn đã ập xuống ngay; lại giống như sét đánh chẳng kịp bưng tai, ánh chớp vừa loé liền dậy sấm.
Trại tổng quản và sáu tên thị vệ đều giật mình, không hẹn mà cùng rút binh khí ra. Trại tổng quản hô:
– Nằm xuống!
Có người giơ tay vén màn toan chui vào trong giường. Trại tổng quản trách:
– Ðồ ngu! Chui vào giường thì người ta không biết à?
Người kia rụt tay lại. Thế là cả bảy người hoặc chui xuống gầm giường, hoặc trốn trong tủ, hoặc nấp sau giá sách.
Hồ Phỉ cười thầm trong bụng:
– Ngươi mắng người khác là đồ ngu, chính ngươi là đồ ngu thì có!
Hơi thở Miêu Nhược Lan phả nhẹ vào mặt chàng, không tự chủ được, chàng khẽ ghé môi qua hôn phớt vào má nàng một cái. Miêu Nhược Lan vừa sung sướng vừa thẹn, định né tránh nhưng khốn nỗi không cục cựa được.
Hồ Phỉ hôn má nàng rồi, bất giác chợt cảm thấy ngượng thay cho mình, thầm nghĩ:
– Nàng dịu dàng thanh nhã nhường kia, sao ta lại dám làm nhục nàng?
Chàng đang định dịch người ra mé ngoài, không gần sát nàng như thế nữa, bỗng nghe dưới gầm giường có tiếng lục đục của hai tên vệ sỹ, khẽ mắng nahu. Thì ra hai người này chen chúc dưới gầm giường, cùi chỏ người này thúc trúng vào mũi của người kia.
Hồ Phỉ xưa nay thích bỡn cợt với đối thủ, theo bản tính như mọi khi thì lúc này chàng sẽ tung chăn ra, tiểu một bãi thật to xuống gầm giường, làm ướt đẫm đầu bọn chúng cho hả. Nhưng vừa mới nảy ra ý này, chàng lập tức nghĩ ngay đến việc Miêu Nhược Lan còn nằm bên cạnh, sao có thể làm bậy thế được?
Một lúc sau, Ðỗ Hi Mạnh và Tưởng lão quyền sư cùng vài người nữa cười nói hỉ hả đưa một người vào phòng. Người đó chính là Miêu Nhân Phượng. Có một người cầm đài nến đi trước soi đường.
Ðỗ Hi Mạnh trong lòng thắc thỏm, không biết người nhà mình với các người hầu đi đâu hết cả, sao chẳng thấy ai. Nhưng Trại tổng quản vừa tới, tiếp theo Miêu Nhân Phượng cũng tới luôn, nên không còn lúc nào rảnh để xem xét việc nhà. Khi liếc nhìn Miêu Nhân Phượng, trại chủ thấy vẻ mặt ông ta thản nhiên, không biết trong lòng đang nghĩ gì.
Mọi người đã ngồi yên chỗ trong phòng. Ðỗ Hi Mạnh nói:
– Miêu huynh, đệ có hẹn với Tuyết Sơn Phi Hồ hôm nay tới đây để tính sổ một món nợ cũ. Miêu huynh cùng mấy vị bằng hữu có lòng trượng nghĩa, từ xa xôi tới đây trợ lực, đệ thực vô cùng cảm kích. Chỉ có điều bây giờ trời đã tối mà tên Tuyết Sơn Phi Hồ vẫn chưa tới, hẳn là nghe tên tuổi của các vị, nên y sợ quắp đuôi hồ ly mà xa chạy cao bay rồi.
Hồ Phỉ nghe nói cả giận, chỉ muốn nhảy ra vung một chưởng vào mặt hắn.
Miêu Nhân Phượng “hừ” một tiếng, quay sang hỏi Phạm bang chủ:
– Vế sau rốt cuộc Phạm huynh cũng thoát hiểm ư?
Phạm bang chủ đứng dậy chắp tay vái dài một cái, đáp:
– Miêu gia không ngại hiểm nguy, đích thân vào hiểm địa cứu đệ, ân đức đó đệ suốt đời không dám quên. Sau khi Miêu gia đại náo kinh sư không bao lâu, huynh đệ của tệ bang cũng kéo tới cứu, may mà người đông thế mạnh, lại nhờ uy phong của Miêu gia nên đệ mới may mắn thoát nạn!
Những lời này của Phạm bang chủ tất nhiên toàn là dối trá. Miêu Nhân Phượng đích thân vào thiên lao, tuy không bị Trại tổng quản bắt, nhưng sau khi đại náo một trận cũng không sao cứu được Phạm bang chủ. Còn chuyện Cái Bang xông vào thiên lao vân vân, toàn là bịa đặt.
Sau khi mưu kế không thành công, Trại tổng quản lại nghĩ ra kế khác. Gã đích thân vào thiên lao trao đổi với Phạm bang chủ, lấy cái chết ra đe dọa. Nhưng Phạm bang chủ là người cứng cỏi, mặc cho Trại tổng quản đe dọa, dụ dỗ thế nào y cũng không hề chịu khuất phục. Trại tổng quản là kẻ xảo quyệt từng trải, giỏi hiểu tâm lí người khác. Sau mấy ngày liên tục thuyết phục, lão biết đối phó với một kẻ cứng đầu như Phạm bang chủ không thể lấy lợi lộc ra nhử, cũng không thể răn đe bằng búa rìu; nhưng nếu tâng bốc y lên tận mây xanh có khi lại hiệu quả.
Thế là Trại tổng quản đích thân đón Phạm bang chủ vào Phủ tổng quản ở, sai một người giỏi xu nịnh trong đám thuộc hạ hàng ngày nói những câu nịnh bợ như “Bang chủ anh hùng vô địch”, “Bang chủ uy danh chấn động giang hồ”,..v.v… rót dần vào tai ông ta. Lúc đầu, Phạm bang chủ còn lấy làm bực mình, nhưng qua vài ngày nghe mãi những lời đường mật thì cũng thấy bùi tai, bắt đầu nói cười thích thú. Thế là Trại tổng quản đích thân xuất mã, tâng bốc lão càng cao hơn nữa. Về sau khi bàn luận đến anh hùng thời nay, Phạm bang chủ cố nhiên rất tự phụ, nhưng vẫn tôn Miêu Nhân Phượng là đệ nhất thiên hạ. Trại tổng quản cười, nói:
– Phạm bang chủ nói vậy là khiêm tốn quá. Thiết nghĩ Kim Diện Phật tuy xưng hiệu là “Ðả biến thiên hạ vô địch thủ”, nhưng theo ý ngu đệ thì chắc gì ông ta đã thắng được bang chủ?
Ðược tâng bốc, Phạm bang chủ khoan khoái vô cùng, bụng nghĩ Miêu Nhân Phượng đương nhiên là danh tiếng cực lớn, võ công cũng cao thật, nhưng bản thân mình chưa chắc đã thua kém bao nhiêu.
Hai người nói chuyện đến nửa đêm, sáng hôm sau bỗng Trại tổng quản chuyển câu chuyện sang bàn về võ công của mình. Lát sau, các thi vệ trong Phủ tổng quản cũng đồng loạt phụ họa, đều nói hôm trước Trại tổng quản tiếp chiến với Miêu Nhân Phượng, lúc đầu hai người đánh đến hai trăm chiêu mà vẫn không phân thắng bại. Sau đó Trại tổng quản đã nắm chắc phần thắng, nếu Miêu Nhân Phượng không thừa cơ bỏ chạy thì chỉ cần một trăm chiêu nữa là họ Miêu phải thua. Phạm bang chủ nghe vậy thì sắc mặt lộ vẻ không tin.
Trại tổng quản cười, nói:
– Lâu nay đệ vẫn hâm mộ tám mươi mốt lộ Ngũ hổ đao của Phạm bang chủ là tuyệt thế vô song. Lần này bọn đệ mạo phạm oai hổ, tuy là có chỉ dụ của Hoàng thượng, nhưng một phần cũng vì các huynh đệ muốn được thấy võ công của Phạm bang chủ. Chỉ đáng tiếc là các huynh đệ đây vì tham công nên cả mười tám cao thủ trong đại nội đều ra tay, mới thỉnh được Phạm bang chủ về đây. Ngu đệ chưa từng được ra chiêu đơn đả đấu với bang chủ, thực rất lấy làm tiếc. Lúc này chúng ta chuyện trò đang cao hứng, xin lĩnh giáo Phạm bang chủ mấy chiêu ngay tại đây có được chăng?
Phạm bang chủ nghe xong, tỏ vẻ kiểu ngạo, nói:
– Cả Miêu Nhân Phượng cũng bại trong tay Trại tổng quản, thì e tại hạ không phải là địch thủ của trại tổng quản.
Trại tổng quản cười, nói
– Bang chủ quá khách sáo rồi!
Hai người nói mấy câu khách sáo rồi ngay sau đó liền so tài trong luyện võ sảnh tại phủ Tổng quản.
Phạm bang chủ sử dụng đao, còn vũ khí của Trại tổng quản thì thật lạ lùng, chỉ là một đôi lang nha bổng cán ngắn. Trại tổng quản khỏe mạnh, ra chiêu dũng mãnh, quả nhiên võ công mười phần lợi hại. Hai người quần nhau đến hơn ba trăm chiêu mà vẫn chưa phân hơn thua. Lại đấu thêm khoảng thời gian ăn xong bữa cơm thì dần dần Trại tổng quản lộ vẻ đuối sức, bị thanh đao của Phạm bang chủ dồn vào góc sảnh. Tổng quản mấy lần xông ra nhưng không thoát được đường đao vây kín của Phạm bang chủ, bất đắc dĩ đành phải lên tiếng:
– Quả nhiên Phạm bang chủ bản lãnh cao cường, tại hạ xin chịu thua.
Phạm bang chủ mỉm cười, xách đao nhảy ra khỏi vòng đấu. Trại tổng quản hầm hầm vứt đôi lang nha bổng xuống đất, than thở:
– Ta tự phụ anh hùng vô địch, nào biết núi cao còn có núi cao hơn, người giỏi lại có người giỏi hơn!
Nói rồi lấy áo chùi mồ hôi, hổn hển thở không ngớt.
Sau trận so tài ấy, Phạm bang chủ lại càng được mọi người tâng bốc lên tận mây xanh. Ông ta cũng xem đám thị vệ là bằng hữu chí cốt, còn đối với Trại tổng quản thì nói sao nghe vậy. Vị bang chủ thô lỗ thiển cận này đâu có biết Trại tổng quản cố ý nhường nhịn mình, nếu lão mà trổ hết thực lực công phu ra thì e rằng chỉ trong vòng trăm chiêu, Phạm bang chủ phải thua dưới đôi lang nha bổng mất!
Nhưng tại sao Trại tổng quản phải hao tốn nhiều sức lực, dùng trăm phương ngàn kế để thu nạp ông ta? Nguyên võ công của Phạm bang chủ tuy chưa phải cao thủ nhất đẳng, nhưng ông ta có một tuyệt kĩ gia truyền khó có ai sánh được, đó là hai mươi ba lộ Long trảo cầm nã thủ, ai bị chộp dính thì như bị đinh móc vào gân cốt. Bất luận địch nhân võ công cao cường đến thế nào, chỉ cần bất kì một bộ phận nào trên cơ thể bị ngón tay ông ta quặp vào thì lập tức bắt dính, không sao thoát ra được. Trại tổng quản nghe lời Ðiền Quy Nông, mấu chốt để lấy được kho tàng là phải bắt giữ Miêu Nhân Phượng. Nhưng kế “đặt bẫy ở thiên lao” không thành, thế là lão nghĩ tới mượn tuyệt kĩ “Long trảo cẩm nã thủ” của Phạm bang chủ. Lão nghĩ Kim Diện Phật bản lãnh cao cường, Phạm bang chủ nếu giao đấu chính diện với ông ta thì không đời nào ông ta để cho “Long trảo cầm nã thủ” chộp vào người được. Nhưng Phạm bang chủ là bạn thân của ông ta nhiều năm qua, nếu như bất ngờ đánh trộm thì có cơ hội thành công.
*****
Nguồn: truyenkimdung


