Mộ Dung Phục lại nói: “Hài nhi xin lập tức giải độc cho nghĩa phụ.” Gã thò tay vào bọc lấy ra một cái bình sứ nhỏ, toan đưa cho Đoàn Diên Khánh, nhưng chợt động tâm: “Sau khi giải chất độc Bi Tô Thanh Phong cho lão, mình không thể uy hiếp được lão nữa. Từ đây trở đi mình chỉ còn cách cầu cạnh lão, không thể đối đáp với lão nữa. Lão hận nhất là thằng lỏi Đoàn Dự, mình phải giết hắn đi trước đã.” Gã rút trường kiếm ra khỏi vỏ đánh “soạt” một cái, rồi nói: “Nghĩa phụ! Công lao đầu tiên của hài nhi là hạ sát thằng lỏi Đoàn Dự này để tuyệt đường nối dõi của Đoàn Chính Thuần, buộc hắn phải truyền ngôi cho nghĩa phụ.”
Đoàn Dự nghĩ thầm: “Ngữ Yên đã biến thành muội tử của mình, mình cũng chẳng muốn sống làm chi nữa. Gã đâm mình chết càng hay.” Một là Đoàn Dự muốn chết cho nhanh, hai là chàng tưởng mình bị tẩu hỏa nhập ma, dù muốn kháng cự cũng không còn sức, nên cứ nằm yên chờ chết.
Đoàn Chính Thuần thấy Mộ Dung Phục xách trường kiếm từ từ tiến lại gần Đoàn Dự, thì lòng đau như cắt, la lên một tiếng: “Trời ơi!”
Đoàn Diên Khánh nói: “Hài nhi! Lòng hiếu thảo của hài nhi thật đáng khen, nhưng thằng lỏi này thật là khả ố. Gã đã nhiều lần đắc tội với ta. Bá phụ và phụ thân gã lại cướp ngôi của ta, hại ta đến thân tàn ma dại. Ta muốn chính mình ra tay hạ sát tên tiểu tặc này mới hả giận.”
Mộ Dung Phục “Vâng!” một tiếng, rồi đưa trường kiếm cho Đoàn Diên Khánh, lại nói: “Trời ơi! Hài nhi thật hồ đồ, quên chưa giải độc cho nghĩa phụ.” Gã lại lấy chiếc bình nhỏ ra, nhưng liếc mắt nhìn trộm thấy Đoàn Diên Khánh lộ vẻ đắc ý, mà hình như đang đưa mắt nhìn người khác. Mộ Dung Phục là con người rất tinh tế mau lẹ, nhìn theo mục quang của Đoàn Diên Khánh thì thấy Đoàn phu nhân khẽ gật đầu. Nét mặt bà tỏ ra vừa cảm kích vừa vui mừng.
Mộ Dung Phục thấy thế không khỏi sinh nghi, nhưng chẳng bao giờ gã đoán nổi Đoàn Dự là con của Đoàn Diên Khánh và Đoàn phu nhân. Đoàn Diên Khánh thà chết chứ quyết không để kẻ khác hạ sát đứa con bảo bối của mình, còn ngôi hoàng đế hay gì gì đi nữa cũng chỉ là thân ngoại chi vật. Lúc đầu Mộ Dung Phục nghĩ: “Phải chăng Đoàn Chính Thuần và Đoàn Diên Khánh ngấm ngầm cấu kết với nhau điều gì? Bọn chúng dù sao cũng là anh em nhà họ Đoàn nước Đại Lý. Người ta thường nói: “Một giọt máu đào hơn ao nước lã.” Khi nào lão họ Đoàn lại coi người ngoài hơn người trong nhà bao giờ?” Rồi gã lại nghĩ: “Bây giờ chỉ có một cách duy nhất là cố lập đại công với Đoàn Diên Khánh, để chứng tỏ lời nói của mình là thành thực.” Gã liền quay lại hỏi Đoàn Chính Thuần: “Trấn Nam Vương! Sau khi Vương gia về Đại Lý rồi, khoảng bao lâu thì lên ngôi hoàng đế? Vương gia ở ngôi bao lâu thì truyền lại cho nghĩa phụ tại hạ?”
Đoàn Chính Thuần hững hờ đáp: “Hoàng huynh ta công lực thâm hậu, thân thể tráng kiện, ít ra còn ở ngôi hoàng đế ba chục năm nữa. Sau khi hoàng huynh truyền ngôi cho ta rồi, ta cũng phải ở ngôi khoảng ba chục năm. Khi đó Đoàn Dự con ta đã tám chục tuổi, nó làm vua được chừng hai chục năm nữa. Như vậy là phải sau tám mươi năm…”
Mộ Dung Phục ngắt lời: “Ăn nói hồ đồ! Ai mà chờ lâu thế được? Ta ra lệnh cho ngươi trong vòng một tháng phải lên ngôi hoàng đế, sau một tháng nữa thì phải truyền ngôi cho Diên Khánh Thái tử.”
Đoàn Chính Thuần đã nhận định rõ tình hình, Đoàn Diên Khánh cùng Mộ Dung Phục phải dùng mình làm bậc thang để trèo lên đế vị. Bao giờ mình nhường ngôi cho Đoàn Diên Khánh rồi, bọn chúng mới sát hại. Bây giờ thì chúng chưa dám làm gì, dù có địch nhân đến hại mình thì bọn chúng cũng hết sức bảo hộ. Lúc này chỉ có tính mạng Đoàn Dự là rất nguy hiểm. Ông cười ha hả, nói: “Ngôi hoàng đế của ta chỉ có thể truyền cho con ta là Đoàn Dự. Truyền sớm truyền muộn cũng chẳng sao, nhưng muốn truyền cho người ngoài thì không được đâu!”
Mộ Dung Phục liền lạnh lùng nói: “Được rồi! Bây giờ ta chém thằng lỏi Đoàn Dự một nhát, thử xem ngươi có truyền ngôi cho cái hồn ma của nó được không?” Gã nói xong, lại rút trường kiếm ra.
Đoàn Chính Thuần cười ha hả, nói: “Ngươi coi Đoàn Chính Thuần này là người thế nào? Ngươi giết nó xong, chẳng lẽ ta lại để cho ngươi đắc ý? Nếu ngươi muốn tuyệt diệt thì cứ việc giết ta luôn thể.”
Mộ Dung Phục ngần ngừ không quyết đoán. Lúc này mà gã muốn giết Đoàn Dự thì chỉ giơ tay lên một cái là xong. Nhưng Đoàn Chính Thuần sẽ vì mối thù giết con mà không nghĩ đến tính mạng nữa. Không được ông truyền ngôi cho, thì cái ngôi hoàng đế khó mà lấy nổi. Tay gã cầm thanh trường kiếm, mũi kiếm rung động chiếu ra những tia sáng xanh lè. Gã quay lại nhìn Đoàn Diên Khánh, chờ nghe chỉ thị.
Đoàn Diên Khánh nói: “Thằng cha này nói sao là làm vậy. Nếu hắn uống thuốc độc tự tận hoặc đập đầu mà chết đi, thì đại kế của chúng ta thành bọt nước. Được rồi! Hãy để tạm thằng lỏi Đoàn Dự đó, đừng giết vội. Gã đã ở trong tay cha con mình, còn chạy đi đằng nào được nữa? Ngươi hãy giải độc cho ta rồi sẽ tính.”
Mộ Dung Phục “Vâng!” một tiếng, nhưng lại nghĩ thầm: “Vừa rồi Đoàn Diên Khánh đưa mắt ra hiệu cho Đoàn phu nhân là có ý gì? Mình chưa giải được mối nghi ngờ này mà đã đưa thuốc giải cho lão thì thật không ổn chút nào. Nhưng nếu mình chần chừ, để lão nổi giận lên thì cũng khốn khổ.”
Giữa lúc ấy Vương phu nhân lại la lên: “Mộ Dung Phục! Ngươi nói là lấy thuốc giải cho cô mẫu trước, mà sao lại cứ mãi nịnh nọt cái con người xấu như quỷ sứ mà ngươi nhận làm gia gia đó? Ngươi đừng trách ta, ta mà nổi nóng lên là thóa mạ ngay. Thằng cha người chẳng ra người…”
Mộ Dung Phục nghe bà nói rất trúng ý mình, liền quay lại nhìn Đoàn Diên Khánh cười nói: “Nghĩa phụ! Cô mẫu hài nhi tính khí cương cường, nếu người có thốt ra câu gì đắc tội, cũng xin lão nhân gia châm chước bỏ qua. Để cô mẫu khỏi nói năng bất nhã, hài nhi xin giải độc cho cô mẫu trước, rồi lập tức giải độc cho nghĩa phụ.” Nói xong, y đưa bình thuốc giải kề vào mũi Vương phu nhân.
Vương phu nhân ngửi thấy mùi hôi thối buồn nôn xông vào mũi rất khó chịu, đã toan cất tiếng mắng, nhưng sau một lúc thì thấy tứ chi khôi phục lại sức lực. Mắt bà không ngớt nhìn vào Đoàn Chính Thuần, Đoàn phu nhân và ba bà Tần, Nguyễn, Cam, đột nhiên thấy máu ghen xông lên không nhịn được, lớn tiếng nói: “Điệt nhi! Ngươi mau giết bốn con nữ tặc này cho ta!”
Mộ Dung Phục nghĩ thầm: “Cô mẫu đã từng nói tính tình Đoàn Chính Thuần rất cương cường, không chịu để người ta khuất phục, nhưng đối với thê tử và tình nhân thì hắn lại coi trọng hơn tính mạng. Sao ta không lấy đó mà uy hiếp?” Hắn liền cầm kiếm chạy đến bên Nguyễn Tinh Trúc, rồi quay lại hỏi Đoàn Chính Thuần: “Trấn Nam Vương! Cô mẫu của tại hạ bảo giết mụ này đi, Vương gia nghĩ thế nào?”
Đoàn Chính Thuần trong dạ bồn chồn, vô kế khả thi, liền quay lại nói với Vương phu nhân: “A La! Từ đây sắp tới, nàng nói sao thì ta nghe vậy. Chẳng lẽ nàng gây nên một mối cừu hận suốt đời giữa đôi ta ư? Nàng mà sai gã giết thị, thì ta không thể tử tế với nàng được nữa.”
Vương phu nhân tuy máu ghen đang bốc lên cuồn cuộn, nhưng nghĩ lại Đoàn Chính Thuần nói không sai. Mười năm qua mụ đã hận người phụ bạc mình thấu xương, hễ thấy người họ Đoàn hay người Đại Lý là đem giết cho hả dạ, nhưng lúc này gặp chính oan gia thì mối tình nồng nhiệt ngày xưa lại quay về, liền nói: “Điệt nhi! Khoan động thủ, để ta nghĩ lại xem đã!”
Mộ Dung Phục lại nói: “Trấn Nam Vương! Chỉ cần Vương gia ưng thuận truyền ngôi lại cho Diên Khánh Thái tử, thì tại hạ sẽ hết sức bảo toàn cho chính thất cùng thứ thiếp của Vương gia, quyết không để ai đụng đến.” Đoàn Chính Thuần cười hà hà không nói gì.
Mộ Dung Phục nghĩ thầm: “Lão này nổi tiếng là người phong lưu lãng mạn, tha thiết với mỹ nhân còn hơn giang sơn tổ quốc. Muốn ép lão truyền ngôi thì cứ ra tay với bọn đàn bà của lão là được.” Gã liền trỏ mũi kiếm vào ngực Nguyễn Tinh Trúc, nói: “Trấn Nam Vương! Chúng ta là nam tử hán, là đại trượng phu, hành động mau lẹ, nói sao làm vậy. Vương gia ưng thuận thì tại hạ lập tức giải thuốc mê cho tất cả mọi người, rồi bày tiệc tạ tội, đổi thù ra bạn, há chẳng tốt ư? Còn nếu Vương gia không ưng thuận, lưỡi kiếm này sẽ đâm tới.”
Đoàn Chính Thuần liếc mắt nhìn Nguyễn Tinh Trúc, thấy trong ánh mắt nàng lộ vẻ khủng khiếp vô cùng, thì trong lòng đau đớn, nhưng lại nghĩ thầm: “Thật tình ta không coi ngôi hoàng đế Đại Lý quan trọng bằng Trúc muội, nhưng nếu ta ưng thuận thì tên gian tặc này sẽ tâng công với Đoàn Diên Khánh mà giết Đoàn Dự ngay lập tức.” Ông không nỡ nhìn, liền quay mặt đi.
Mộ Dung Phục lại la lên: “Tại hạ đếm từ một đến ba, nếu Vương gia không gật đầu thì đừng trách Mộ Dung Phục này hạ thủ vô tình. Đoạn gã cất tiếng đếm: “Một, hai…” Đoàn Chính Thuần quay lại, nhìn thấy vẻ mặt Nguyễn Tinh Trúc thật đáng thương mà không biết làm thế nào. Mộ Dung Phục lại đếm: “Ba!… Trấn Nam Vương! Ngươi nhất định không chịu ư?” Đoàn Chính Thuần đang mải nghĩ lại những kỷ niệm êm đềm lúc mới gặp Nguyễn Tinh Trúc năm xưa, đột nhiên nghe một tiếng rú: “Ôi chao!” Mộ Dung Phục đã đâm trường kiếm vào ngực Nguyễn Tinh Trúc rồi.
Vương phu nhân thấy da mặt Đoàn Chính Thuần co rúm lại, dường như còn đau đớn hơn là chính mình bị lưỡi kiếm đâm vào. Bà cũng không chịu đựng nổi, vội la lên: “Mau! Mau cứu thị sống lại! Ta không thực tình kêu ngươi giết thị, mà chỉ muốn hăm dọa tên vô lương tâm đó.”
Mộ Dung Phục khẽ lắc đầu, nghĩ thầm: “Đã là kết mối thâm cừu, thì giết nhiều thêm một người hay ít đi một người cũng chẳng có gì quan hệ.” Gã lại cầm trường kiếm gí vào ngực Tần Hồng Miên, quát lên: “Trấn Nam Vương! Giang hồ vẫn tưởng ngươi là đa tình đa nghĩa, không ngờ ngươi lại không chịu nói một lời để cứu mạng cho tình nhân!” Gã lại đếm: “Một, hai, ba…” Đếm đến ba, lại nghe “sột” một tiếng, trường kiếm đã đâm chết Tần Hồng Miên.
Lúc này sắc mặt Cam Bảo Bảo đã tái nhợt, nhưng bà cố trấn tĩnh, dõng dạc nói: “Mi muốn giết ai thì cứ giết, nhưng không uy hiếp Trấn Nam Vương được đâu. Ta là thê tử của Chung Vạn Cừu, chẳng có quan hệ gì với Trấn Nam Vương cả. Ngươi không được làm điếm nhục đến thanh danh nhà họ Chung ở Vạn Kiếp cốc.”
Mộ Dung Phục cười nhạt đáp: “Còn ai chẳng biết Đoàn Chính Thuần đa dâm hiếu sắc? Bất luận là khuê nữ, góa phụ hay gái có chồng, y cũng chẳng từ một ai.” Gã vừa nói vừa đâm chết Cam Bảo Bảo.
Vương phu nhân ngấm ngầm kêu khổ. Tuy bình nhật bà giết người không gớm tay, nhưng thấy Mộ Dung Phục giết ba người yêu của Đoàn Chính Thuần trong nháy mắt thì trống ngực cũng đánh thình thình, không dám nhìn Đoàn Chính Thuần nữa, không hiểu vẻ mặt y khủng khiếp đến đâu.
Bỗng nghe Đoàn Chính Thuần dịu dàng nói: “A La! Nàng với ta đã có một mối tình thắm thiết, mà đến bây giờ nàng vẫn chưa hiểu rõ lòng dạ ta. Trong thiên hạ có không biết bao nhiêu là phụ nữ, nhưng ta vẫn yêu nàng nhất. Điệt nhi của nàng hạ sát ba người bạn gái của ta, ta cũng không lấy chi làm quan hệ, chỉ mong sao gã đừng đụng đến nàng là ta yên tâm.” Lời nói của Đoàn Chính Thuần tuy rất ngọt ngào, nhưng Vương phu nhân nghe mà sợ hãi vô cùng. Bà biết Đoàn Chính Thuần đã tức giận mình đến cực điểm, ông nói câu này là có ý kêu Mộ Dung Phục lại giết mình. Bà vội la lên: “Hiền điệt! Ngươi đừng tin lời hắn!”
Mộ Dung Phục bán tín bán nghi, đột nhiên chĩa trường kiếm vào trước ngực Vương phu nhân, máu tươi từ mũi kiếm từng giọt từng giọt nhỏ lên ngực áo bà.
Vương phu nhân biết gã điệt nhi này tâm địa tàn nhẫn, thủ đoạn độc ác. Gã muốn toại nguyện mộng làm vua thì còn kể gì đến cô mẫu hay không cô mẫu? Đoàn Chính Thuần càng cố ý tỏ ra luyến tiếc mình, thì Mộ Dung Phục lại càng muốn dùng tính mạng của mình để uy hiếp ông. Bà run rẩy nói: “Đoàn lang! Đoàn lang! Chẳng lẽ Đoàn lang giận ta đến thấu xương, ta không chết thì không được ư?”
Đoàn Chính Thuần thấy vẻ mặt của Vương phu nhân đang khiếp sợ chẳng khác gì Nguyễn Tinh Trúc lúc lâm tử. Ông nhớ lại mối ân tình tha thiết cùng phu nhân ngày trước thì nhũn cả ruột gan, bèn lớn tiếng mắng: “Con ác phụ kia! Sao ngươi lại giở thói ghen tuông, làm hại tính mạng ba người yêu quí của ta? Ta mà được tự do thì quyết đâm chém ngươi ngàn đao vạn kiếm. Mộ Dung Phục! Ngươi đâm mạnh kiếm vào giúp ta, con mụ thối tha đó còn để sống làm gì nữa?” Đoàn Chính Thuần biết rõ, ông thóa mạ Vương phu nhân càng tàn nhẫn, thì Mộ Dung Phục lại càng không muốn giết cô mẫu.
Vương phu nhân cũng hiểu rõ lúc nãy Đoàn Chính Thuần ra vẻ thương yêu vì muốn Mộ Dung Phục giết mình, để báo thù cho Nguyễn Tinh Trúc, Tần Hồng Miên, Chung phu nhân. Bây giờ y chuyển sang mắng nhiếc, tức là đã tha thứ cho mình. Nhưng hơn mười năm nay bà tưởng nhớ đến Đoàn Chính Thuần, đột ngột gặp lại, tâm thần đang bất định. Bà nhìn thấy ba người chết lăn dưới đất, thanh kiếm nhuộm máu đang trỏ vào ngực mình thì đầu óc bâng khuâng khôn tả. Những câu thóa mạ “con ác phụ”, “con mụ thối tha” của Đoàn Chính Thuần nghe mà cay đắng, so với những câu thề non hẹn biển xưa kia thật là khác nhau một trời một vực. Bà không nhịn được, dòng châu lã chã tuôn rơi, hỏi: “Đoàn lang! Trước kia chàng đối với thiếp thế nào, chẳng lẽ đã quên hết rồi ư, không còn nghĩ gì đến thiếp nữa chăng? Nhưng thiếp vẫn một lòng thương nhớ chàng. Chúng ta ly biệt nhau bấy nhiêu lâu, nay được trùng phùng đâu phải chuyện dễ dàng, thế mà chàng… chàng không nói được câu nào tử tế với thiếp ư? Thiếp đã sinh hạ cho chàng con bé Ngữ Yên, chàng đã nhìn thấy nó chưa? Chàng có muốn gặp nó không?”
Đoàn Chính Thuần thầm kinh hãi: “Thần trí A La không được sáng suốt nữa rồi. Nếu ta thổ lộ những lời ân ái ngày xưa thì nàng còn sống làm sao được?” Ông liền lớn tiếng quát: “Ngươi đã hại chết ba người yêu quí của ta, ta hận ngươi đến thâu xương. Mười mấy năm trước, chúng ta cũng đã vạch một đao cắt đứt tình nghĩa rồi. Bây giờ ta chỉ muốn phóng cước đá ngươi mấy cái cho hả lòng căm phẫn.”
Vương phu nhân vừa khóc vừa kêu: “Đoàn lang, Đoàn lang!…” Đột nhiên bà nhảy xổ về phía trước, mũi kiếm của Mộ Dung Phục đâm sâu vào ngực.
Mộ Dung Phục đang lúc ngần ngừ không quyết, nửa muốn thu kiếm về, nửa muốn đâm tới. Gã chỉ chần chừ một chút thì mũi kiếm đã xuyên qua ngực Vương phu nhân rồi. Mộ Dung Phục rút kiếm ra, máu tươi trước ngực Vương phu nhân vọt lên như suối. Vương phu nhân run rẩy hỏi: “Đoàn lang! Chàng giận thiếp đến thế ư?”
Đoàn Chính Thuần thấy lưỡi kiếm đâm trúng chỗ yếu hại, biết rằng Vương phu nhân không thể sống được nữa. Nước mắt ông chảy xuống ròng ròng, nghẹn ngào nói: “A La! Ta thóa mạ nàng là chỉ muốn cứu tính mạng cho nàng. Hôm nay được trùng phùng, ta vui mừng kể sao cho xiết, có lý nào lại giận nàng? Tâm ý ta vĩnh viễn như đóa Mạn Đà hoa ngày trước.”
Khóe miệng Vương phu nhân nở một nụ cười, khẽ nói: “Thế là hay lắm! Thiếp biết trong lòng Đoàn lang vĩnh viễn có hình ảnh thiếp, không bao giờ phai được…” Tiếng phu nhân nhỏ dần đi rồi tắt hẳn, cổ bà ngoẹo ra một cái, thế là lại thêm một vị phu nhân nhan sắc khuynh thành tuyệt mạng.
Mộ Dung Phục lạnh lùng nói: “Trấn Nam Vương! Những nữ nhân mà ngươi đã đem lòng yêu dấu đều vì ngươi mà mất mạng. Chẳng lẽ cả Vương phi nguyên phối, ngươi cũng nỡ hại chết nữa chăng?” Gã vừa nói vừa trỏ mũi kiếm vào trước ngực Đoàn phu nhân.
Đoàn Dự nằm dưới đất đã nghe rõ Nguyễn Tinh Trúc, Tần Hồng Miên, Cam Bảo Bảo và Vương phu nhân đều mất mạng dưới thanh kiếm tàn độc của Mộ Dung Phục. Bây giờ gã lại dùng mẫu thân để uy hiếp phụ thân, lòng chàng nóng như lửa đốt. Chàng chỉ muốn hét to lên: “Không được hại mẫu thân ta!”, nhưng trong miệng bị nhét đầy hạt vải nên không sao thốt ra lời. Chàng cố sức cựa quậy mà chân khí trong người bị bế tắc, không sao nhúc nhích được.
Lại nghe Mộ Dung Phục nói: “Trấn Nam Vương! Tại hạ đếm từ một đến ba. Nếu Vương gia không chịu nhường ngôi hoàng đế cho Diên Khánh Thái tử thì Vương phi lại mất mạng vì Vương gia!” Đoàn Diên Khánh vội la lên: “Hãy khoan động thủ! Việc này phải suy tính kỹ đã!” Mộ Dung Phục nói: “Nghĩa phụ! Chuyện này quan hệ rất trọng đại, nếu Trấn Nam Vương không chịu nhường ngôi cho nghĩa phụ, thì công cuộc của chúng ta hoàn toàn thất bại. Một…”
Đoàn Chính Thuần ngắt lời: “Ngươi muốn ta chịu, thì phải thuận theo một điều kiện.” Mộ Dung Phục đáp: “Ngươi có chịu thì chịu ngay đi, nếu không chịu thì nói rõ. Đừng dùng kế hoãn binh, ta không mắc lừa đâu. Hai… Thế nào?” Đoàn Chính Thuần thở dài đáp: “Đời ta gây nên tội nghiệt đã nhiều. Nay chúng ta được cùng chết với nhau một nơi, cái chết đó cũng là đúng chỗ.” Mộ Dung Phục hỏi: “Ngươi không chịu hay sao? Ba…”
***
Gã đếm dứt tiếng “Ba”, thấy Đoàn Chính Thuần quay đầu đi không lý gì đến mình nữa, toan rút kiếm ra đâm vào ngực Đoàn phu nhân, bỗng nghe Đoàn Diên Khánh quát lên: “Khoan đã!”
Mộ Dung Phục hơi khựng lại, quay sang nhìn Đoàn Diên Khánh, đột nhiên thấy người Đoàn Dự từ dưới đất bật lên, đâm đầu vào bụng mình. Mộ Dung Phục xoay người né tránh, kinh hãi nghĩ thầm: “Thằng nhãi này đã bị Túy Nhân Phong đốt, rồi lại hít phải Bi Tô Thanh Phong. Sao gã trúng cả hai chất độc này mà còn tung mình nhảy lên được?”
Thì ra lúc đầu Đoàn Dự nghĩ đến Vương Ngữ Yên lại là muội tử của mình, trong lòng đau khổ, nội tức chạy lộn xộn làm rối loạn kinh mạch. Khi chàng nghe Mộ Dung Phục toan giết mẫu thân, tình thế cực kỳ cấp bách, bèn quên bẵng chuyện Vương Ngữ Yên, cũng không nghĩ tới chuyện mình đã tẩu hỏa nhập ma chưa, nội lực bỗng dưng lưu thông đúng đường. Nên biết những người luyện nội công, trong lòng phải quán tưởng cho nội lực đi theo kinh mạch. Sau khi tẩu hỏa nhập ma cố gắng muốn đưa trở về, thì càng cố gắng càng làm rối loạn kinh mạch, lo lắng càng nhiều thì nội tức càng lệch lạc xa. Lúc này trong lòng Đoàn Dự chỉ nghĩ đến sự an nguy của mẫu thân, nội tức không bị ý niệm chi phối, lập tức lưu chuyển bình thường theo đường chính. Chàng vừa nghe Mộ Dung Phục đếm đến số ba, thì quên cả mình đang bị trói, tung mình nhảy về phía Mộ Dung Phục, quả nhiên thấy thân thể lại cử động được. Đoàn Dự xông vào không trúng, vai đụng vào cạnh bàn. Hai tay chàng vừa vận sức để chống đỡ, sợi gân bò đang cột trên tay lập tức đứt rời.
Hai tay chàng vừa tự do, bỗng nghe Mộ Dung Phục lớn tiếng quát: “Thằng lỏi này gớm thật!” Đoàn Dự vung tay ra, bất giác xuất một chiêu Thương Dương Kiếm trong Lục Mạch Thần Kiếm đâm vèo về phía Mộ Dung Phục. Mộ Dung Phục né người tránh khỏi, vung kiếm đâm lại. Mắt Đoàn Dự đã bị bịt chặt bằng tấm khăn đen, miệng lại bị nhét đầy hạt vải, không quát hỏi gì được, mà cũng không nhìn thấy Mộ Dung Phục ở hướng nào. Trong lúc cấp bách, chàng quên mất chuyện giơ tay giật tấm khăn bịt mắt ra, hai tay vẫn múa loạn lên, chỉ sợ Mộ Dung Phục đến gần mà gia hại mẫu thân.
Mộ Dung Phục nghĩ thầm: “Tình thế nguy cấp, phải nhân lúc y không thấy gì mà giết y cho lẹ.” Gã liền ra chiêu Đại Giang Đông Khứ, đâm lưỡi kiếm vào trước ngực Đoàn Dự.
Đoàn Dự đang vung hai tay đánh loạn xạ, bỗng nghe kiếm phong rít lên veo véo. Chàng vội vàng né tránh, nhưng đã bị mũi kiếm nhọn đâm trúng vào vai, bèn cố nhịn đaụ nhảy vọt lên không. Nghe “binh” một tiếng, đầu chàng đụng vào trần nhà. Từ lúc Đoàn Dự hút sạch nội lực của Cưu Ma Trí ở dưới giếng khô, nội kình chàng tăng tiến không biết bao nhiêu mà kể. Chàng vừa tung mình đã lên cao mấy trượng, còn đang lơ lửng trên không đã nghĩ thầm: “Mắt mình chẳng trông thấy gì, gã giết mình thì được, mà mình không biết đường giết gã, làm sao bây giờ? Gã giết mình cũng chẳng kể làm chi, nhưng mình không cứu được mẫu thân cùng phụ thân mới là chuyện đau khổ!” Hai chân chàng gắng sức cựa mạnh một cái, sợi gân bò trói chân lại bị đứt tung.
Đoàn Dự cả mừng nghĩ thầm: “Thật là tuyệt diệu! Ngày trước ở trong nhà giã gạo ngoài thành Vô Tích, hắn đã giả làm Lý tướng quân nước Tây Hạ, mình chỉ dùng Lăng Ba Vi Bộ mà hắn không giết được mình.” Nghĩ tới đó, chàng bước chân trái chéo đi nửa bước, nghiêng mình chênh chếch, tránh khỏi nhát kiếm của Mộ Dung Phục đâm tới, chỉ cách chừng mấy tấc. Ba người Đoàn Diên Khánh, Đoàn Chính Thuần, Đoàn Vương phi đều thấy kiếm quang xanh lè lấp loáng đang nhắm bụng Đoàn Dự phóng tới hung hiểm vô cùng, xem chừng không thể thoát được. Rồi họ lại thấy chàng tránh né bằng một thân pháp xảo diệu không thể hình dung nổi. Dù lúc này mắt chàng nhìn rõ, mà không thi triển Lăng Ba Vi Bộ cũng nhất định không tránh thoát mũi kiếm tàn độc này.
Mộ Dung Phục vung kiếm đánh rất rát mà trước sau vẫn không đụng được vào mình Đoàn Dự, thì vừa nóng nảy vừa hổ thẹn. Gã lại thấy Đoàn Dự vẫn không giật bỏ tấm khăn che mắt, không hiểu được vì tình thế cấp bách mà tâm ý chàng rối loạn quên mất, lại tưởng chàng có ý khinh khi trêu cợt, chẳng coi gã vào đâu. Gã nghĩ thầm: “Địch thủ đã bịt mắt làm kẻ đui mù, mà mình không hạ được thì còn mặt mũi nào sống ở trên đời nữa?” Mắt gã đỏ ngầu cơ hồ tóe lửa, kiếm quang xanh lè thấp thoáng, thanh trường kiếm múa tít lên tựa như một trái cầu xanh, bao trùm gần hết đại sảnh. Đoàn Dự bị vây bọc giữa màn kiếm quang, mỗi chiêu đều là sát chiêu đoạt mạng.
Mọi người Đoàn Diên Khánh, Đoàn Chính Thuần, Đoàn phu nhân, Phạm Hoa, Hoa Hách Cấn, Thôi Bách Tuyền… cũng bị kiếm quang áp bức. Từng trận hàn khí quạt tới rét run, tóc trên đầu bị thổi dựng lên rồi đứt ra rơi lả tả, vạt áo phần phật rách bươm, tung bay phất phới như đàn bướm.
Đoàn Dự ở trong vòng kiếm quang, chợt tả chợt hữu, xiêu đông vẹo tây, chẳng khác người say tản bộ trong đình viện. Thật là kỳ quái, trường kiếm của Mộ Dung Phục lợi hại là thế mà không sao cắt đứt được một mảnh áo nào của chàng. Thật ra bộ pháp của Đoàn Dự ra vẻ ung dung, mà trong lòng chàng lại lo lắng vô cùng. Đoàn Dự chân cứ bước Lăng Ba Vi Bộ, nghĩ thầm: “Mình chỉ thủ mà không công, mắt lại chẳng nhìn thấy gì. Giả tỉ gã phóng kiếm đâm vào mẫu thân hay phụ thân thì biết làm thế nào?”
Mộ Dung Phục lại nghĩ rằng Đoàn Dự mới là mối lo tâm phúc của mình, còn giết được Đoàn phu nhân hay không cũng chẳng quan hệ gì. Gã đã xuất đến hơn trăm chiêu kiếm mà thủy chung vẫn không đả thương được đối phương, thì nghĩ thầm: “Chắc thằng lỏi này biết nghe tiếng gió để tránh đòn. Bây giờ ta phải dùng Liễu Tự Kiếm Pháp ra chiêu nhẹ nhàng không rít thành tiếng, chắc gã không biết đường mà tránh.” Gã bèn đột nhiên thay đổi kiếm pháp, từ từ phóng chiêu. Nhưng bộ pháp Lăng Ba Vi Bộ này cứ theo quy củ mà bước, không cần nhìn đến đối phương. Đối phương phóng kiếm mau hay chậm, nhẹ hay nặng thì cũng thế, mà kiếm phong có rít thành tiếng hay không cũng chẳng quan hệ gì.
Đoàn Diên Khánh nhãn lực cao minh, đã nhìn ra dụng ý của Mộ Dung Phục. Lão thấy Mộ Dung Phục ra chiêu thong thả để không phát kiếm phong thì trong lòng kinh hãi vô cùng, vội la lên: “Hài nhi! Ngươi phải mau mau hạ sát thằng lỏi này đi! Nếu để gã kịp kéo tấm khăn che mặt ra, e rằng cả ngươi lẫn ta đều chết về tay gã!”
Mộ Dung Phục giật mình nghĩ thầm: “Thật là hồ đồ! Nói thế thì có khác gì nhắc nhở đối phương?” Quả nhiên câu nói này làm Đoàn Dự tỉnh ngộ. Chàng như người đang mơ sực tỉnh, thò tay lên kéo tấm khăn bịt mặt xuống. Trước mắt chàng đột nhiên chói lòa không thấy chi hết, vì cả ngày mắt không mở ra. Chàng chớp mắt một cái, thấy thanh trường kiếm đã tới ngay trước mặt. Đoàn Dự đã không hiểu võ công lại kém tài ứng biến, vì kinh hãi mà bộ pháp rối loạn. Bỗng nghe “sột” một tiếng, chàng đã bị trúng kiếm vào chân trái, ngã lăn xuống đất.
Mộ Dung Phục cả mừng, lại phóng kiếm đâm tới. Đoàn Dự nằm dưới đất phóng Thiếu Dương Kiếm ra phản kích. Tuy chân chàng máu chảy đầm đìa, nhưng kiếm khí Lục Mạch Thần Kiếm vẫn tung hoành, đánh cho Mộ Dung Phục tránh tả né hữu, hoảng hốt vô cùng.
Ngày trước ở trên núi Thiếu Thất, gã còn chưa địch nổi Đoàn Dự, bây giờ nhờ nội lực thâm hậu của Cưu Ma Trí dồn vào, nên Lục Mạch Thần Kiếm lại càng mãnh liệt phi thường. Mới vài chiêu đã nghe “keng” một tiếng, trường kiếm của Mộ Dung Phục tuột khỏi tay bay lên cắm vào xà nhà. Lại nghe “sột” một tiếng nữa, Mộ Dung Phục bị kiếm khí đâm trúng bả vai. Gã biết rằng còn chần chừ nữa là phải chết về tay Đoàn Dự, liền thét lên một tiếng thật to, rồi nhảy qua cửa sổ ra ngoài, chạy như bay như biến.
***
Đoàn Dự từ từ vịn vào ghế đứng lên, cất tiếng gọi: “Má má! Gia gia! Có bị thương không?” Đoàn phu nhân nói: “Mau mau xé vạt áo buộc vết thương lại đã!” Đoàn Dự đáp: “Hài nhi chẳng hề gì!” Chàng lại bên thi thể Vương phu nhân, gỡ lấy bình thuốc trong tay bà đưa cho mẫu thân. Đoàn phu nhân hít mấy hơi giải được thuốc mê, rồi cầm bình thuốc đưa cho Trấn Nam Vương, quay lại băng bó vết thương cho Đoàn Dự.
Đoàn Chính Thuần tung mình nhảy lên, đưa tay rút lấy thanh trường kiếm cắm trên xà nhà. Lưỡi kiếm này đã thấm máu tươi của Nguyễn Tinh Trúc, Tần Hồng Miên, Cam Bảo Bảo và Vương phu nhân là bốn vị nữ nhân đã từng ước hẹn trăm năm với ông. Đoàn Chính Thuần tuy là người phong lưu lãng mạn, chẳng chuyên tâm yêu mến một ai, nhưng ông đã quyến luyến nữ nhân nào thì vẫn cư xử một lòng thành thực, chỉ hận mình chẳng thể móc tim, cắt thịt để trao tặng người yêu.
Ông thấy thi thể bốn nữ nhân nằm ngổn ngang dưới đất, đầu Vương phu nhân gối lên chân Tần Hồng Miên, lưng Cam Bảo Bảo đè ngang bụng Nguyễn Tinh Trúc. Bốn nữ nhân này khi còn sống đã lắm phen vì ông mà tương tư sầu khổ, hoan lạc thì ít mà đau khổ thì nhiều, cuối cùng lại vì ông mà chết bất đắc kỳ tử. Lúc Nguyễn Tinh Trúc bị Mộ Dung Phục đâm chết, Đoàn Chính Thuần đã quyết chết theo để báo đáp hồng nhan tri kỷ, bây giờ lại càng không nghĩ ngợi gì nữa. Con trai ông là Đoàn Dự đã trưởng thành lại tài kiêm văn võ, nước Đại Lý chẳng lo thiếu vị minh quân, ông chẳng còn phải lo lắng gì. Ông quay lại nói với Đoàn phu nhân: “Phu nhân! Ta thật là có lỗi với nàng. Ta xem những nữ nhân này cũng như nàng mà đem lòng thương yêu tất cả, ta yêu họ cũng thành thật như đã yêu nàng.”
Đoàn phu nhân la lên: “Thuần ca!… Chàng… chàng đừng…” Rồi bà nhảy xổ tới chỗ Đoàn Chính Thuần.
Vừa rồi Đoàn Dự nóng lòng cứu mẫu thân, đem hết tâm trí vào việc tranh đấu với Mộ Dung Phục. Từ lúc gã nhảy qua cửa sổ chuồn đi, chàng mới hơi định thần, đột nhiên lại nghĩ: “Mình vừa bị tẩu hỏa nhập ma, không hiểu đã khỏi chưa?” Vừa nghĩ tới đây, toàn thân chàng lại mềm nhũn ra, nhất thời không nhúc nhích được nữa.
Bỗng nhiên Đoàn phu nhân rú lên, thì ra Đoàn Chính Thuần đã cầm kiếm đâm vào ngực để tự tử. Đoàn phu nhân vội rút trường kiếm ra, đưa tay trái bịt lấy vết thương, vừa khóc vừa nói: “Thuần ca! Thuần ca! Dù chàng có hàng ngàn hàng vạn tình nhân, thiếp vẫn yêu chàng như vậy. Có lúc thiếp nghĩ không ra mà căm hận chàng, nhưng… nhưng đó là việc đã qua… thiếp chỉ yêu chàng…” Nhưng Đoàn Chính Thuần đã tự đâm trường kiếm trúng vào trái tim chết ngay lập tức, không nghe thấy lời Đoàn phu nhân nữa.
Đoàn phu nhân xoay trường kiếm lại toan đâm vào ngực mình, bỗng nghe Đoàn Dự la lên: “Má má! Má má!” Một là vì thanh kiếm dài quá, hai là bị phân tâm, bà đâm trệch mũi kiếm xuống dưới bụng.
Đoàn Dự thấy phụ thân, mẫu thân cùng vung kiếm tự tử thì hồn vía lên mây, nhưng hai chân tê dại không bước đi được. Chàng chống tay xuống đất, vừa bò tới vừa gọi: “Má má! Gia gia!” Đoàn phu nhân nói: “Hài nhi! Má má cùng gia gia ra đi đây. Hài nhi tự lo liệu lấy…” Đoàn Dự vừa khóc vừa nói: “Má má! Má má không thể chết, không thể chết được! Còn gia gia? Người… người làm sao rồi?” Đoàn Dự đưa tay ra đỡ lấy đầu mẫu thân, toan rút thanh trường kiếm ra, nhưng lại sợ rút kiếm càng làm cho mẫu thân chóng chết nên ngừng tay lại. Đoàn phu nhân nói: “Ngươi ráng mà học theo bá phụ, sau này làm một vị hảo Hoàng đế…”
Bỗng nhiên Đoàn Diên Khánh lên tiếng: “Mau lấy thuốc giải cho ta, để ta cứu mẫu thân ngươi.” Đoàn Dự cả giận quát lên: “Lão gian tặc! Ngươi bắt gia gia ta, hại ông chết thảm thế này! Ta với ngươi có mối thù chẳng đội trời chung.” Dứt lời, chàng đứng phắt dậy, lượm một cây cương trượng ở dưới đất toan đập xuống đầu Đoàn Diên Khánh. Đoàn phu nhân hoảng hốt thét lên: “Không được!”
Đoàn Dự sửng sốt quay lại hỏi: “Má má! Lão này là kẻ đại thù của chúng ta, hài nhi phải giết lão để báo thù.” Đoàn phu nhân vẫn thét lên: “Không được! Không được! Ngươi không được phạm vào một tội đại ác…” Đoàn Dự chẳng hiểu gì, ngập ngừng hỏi: “Hài nhi… làm gì mà phạm tội đại ác?” Rồi chàng lại nghiến răng gầm lên: “Không giết lão gian tặc này không được!” Chàng lại giơ cây cương trượng lèn. Đoàn phu nhân vội nói: “Ngươi cúi gần xuống đây, để ta nói cho nghe.”
Đoàn Dự cúi xuống, ghé tai lại gần miệng Đoàn phu nhân. Bà thều thào nói: “Hài nhi! Lão Đoàn Diên Khánh đó mới thực là cha ruột của ngươi. Trượng phu ta không biết, tưởng ngươi là con mình, nhưng lão này mới chính là phụ thân con. Ngươi chớ sát hại lão… mà mang đại tội giết cha. Trước nay ta vẫn không ưa lão, nhưng cũng không để ngươi phạm trọng tội được. Nếu ngươi giết cha thì sau khi chết sẽ không được về thế giới tây phương cực lạc. Ta… ta vốn không muốn nói cho ngươi hay, để khỏi tổn thương đến thanh danh của trượng phu ta, chỉ vì hiện giờ lâm vào tình trạng không nói không được…”
Trong thời gian chẳng bao lâu, mà bao nhiêu diễn biến bất ngờ xảy đến! Đoàn Dự nghe mẫu thân nói mấy câu này, tưởng chừng như sét đánh ngang tai. Chàng kinh hãi, mắt trợn ngược lên, miệng há hốc ra, tựa hồ như không tin ở tai mình, ôm lấy người mẫu thân la gọi: “Má má! Không phải thế! Không phải thế đâu!”
Đoàn Diên Khánh lại nói: “Mau lấy thuốc giải cho ta, để ta còn kịp cứu mẫu thân ngươi.” Đoàn Dự thấy thần sắc mẫu thân mỗi lúc một suy nhược, bèn lượm chiếc bình nhỏ ở dưới đất lên, đưa cho Đoàn Diên Khánh giải độc.
Đoàn Diên Khánh vừa khôi phục nội lực đã nhặt cây cương trượng lên tay, điểm cách không véo véo mấy tiếng vào quanh vết thương của Đoàn phu nhân. Bà cố lắc lắc đầu nói: “Ngươi không được đụng vào người ta nữa!” Rồi bà lại bảo Đoàn Dự: “Hài tử! Ta còn muốn nói với ngươi vài lời nữa!” Đoàn Dự lại cúi xuống.
Đoàn phu nhân thều thào nói: “Lão này và gia gia ngươi tuy cùng họ mà lại ngang hàng, nhưng cũng chẳng phải là huynh đệ ruột thịt gì với nhau. Vậy thì những đứa con gái của gia gia ngươi, nào là Mộc cô nương, Chung cô nương, hay Vương cô nương gì gì đó, ngươi thích cô nào thì cứ việc lấy cô ấy. Bọn người Đại Tống nói là cùng họ thì không lấy nhau được, nhưng người Đại Lý chúng ta thì không câu nệ chuyện đó, miễn sao không phải anh em ruột thịt là được rồi. Mấy cô nương đó, ngươi cưới hết về cũng được. Ngươi… ngươi có thích không?”
Nước mắt Đoàn Dự lã chã tuôn rơi, chàng chẳng còn lòng dạ nào mà nghĩ đến thích hay không thích nữa.
Đoàn phu nhân thở dài nói tiếp: “Hài tử! Ta tiếc rằng không được tận mắt thấy con mặc áo long bào, ngồi lên bảo tọa… làm một vị Hoàng đế trẻ… Nhưng ta biết rằng con sẽ là một Hoàng đế tốt…” Đột nhiên bà giơ tay lên nắm lấy chuôi kiếm đâm mạnh vào, mũi kiếm xuyên suốt qua tới sau lưng.
Đoàn Dự thét lên: “Má má!” Chàng ôm chặt lấy mình Đoàn phu nhân, nhưng bà đã từ từ nhắm mắt lại, trên môi còn thấp thoáng một nụ cười.
Đoàn Dự lại la gọi: “Má má…” Đột nhiên chàng thấy sau lưng mình tê tái, rồi mấy chỗ huyệt đạo trên đùi, bả vai lại bị điểm trúng. Một thanh âm rất nhỏ lọt vào tai chàng: “Đoàn Diên Khánh ta đây mới đúng là phụ thân ngươi. Vì muốn giữ thể thống cho Trấn Nam Vương, nên ta phải dùng phép Truyền Âm Nhập Mật để nói cho ngươi hay. Mẫu thân ngươi vừa nói gì, ngươi đã nghe rõ rồi chứ?” Lúc Đoàn phu nhân nói chuyện với Đoàn Dự, tuy thanh âm thều thào rất nhỏ, nhưng Đoàn Diên Khánh từ lúc được giải thuốc mê đều nghe rõ hết. Lão biết Đoàn phu nhân đã tiết lộ bí mật về thân thế của Đoàn Dự.
Đoàn Dự kêu lên: “Ta không nghe thấy, ta không nghe thấy! Ta chỉ biết có gia gia và má má ta.” Chàng nói chỉ biết có gia gia và má má mình, thực ra là thừa nhận đã nghe thấy những lời mẫu thân nói.
Đoàn Diên Khánh tức giận nói: “Chẳng lẽ ngươi không chịu nhìn nhận ta?” Đoàn Dự đáp: “Không nhận! Không nhận! Ta không tin!” Đoàn Diên Khánh hạ giọng nói: “Tính mạng ngươi đang ở trong tay ta, nếu ta muốn giết ngươi thì chỉ giơ tay lên một cái là xong. Huống chi ngươi đích thực là con ta, kẻ làm con mà không nhìn nhận phụ thân thì không phải là đại bất hiếu hay sao?”
Đoàn Dự không còn nói gì được nữa, chàng biết những lời mẫu thân mình nói đều là sự thực. Nhưng chàng đã kêu Đoàn Chính Thuần là phụ thân suốt hơn hai chục năm trời, mà ông đối với chàng vẫn một lòng từ ái, khi nào đột nhiên chàng đi nhìn nhận người chưa liên quan chút nào làm cha được? Hơn nữa, có thể nói là phụ thân và mẫu thân chàng đã bị hại về tay Đoàn Diên Khánh, nếu nhìn nhận Đoàn Diên Khánh tức là nhận kẻ thù làm cha, lại càng vạn vạn lần không được. Chàng nghiến răng nói: “Ngươi muốn giết thì giết, ta vĩnh viễn không nhìn nhận ngươi.”
Đoàn Diên Khánh vừa tức giận, vừa thất vọng, thầm nghĩ: “Mình tuy có con, mà con không chịu thừa nhận, thì cũng chẳng khác gì không có con.” Tính hung dữ lại nổi lên, lão cầm cây cương trượng toan đâm xuống lưng Đoàn Dự. Nhưng đầu trượng mới chạm vào áo chàng, bất giác lòng lão lại mềm nhũn ra, buông một tiếng thở dài rồi nghĩ: “Đời mình cay đắng đã nhiều, trên đời chẳng có một ai là thân nhân. Đâu phải dễ dàng mà có một đứa con, nỡ lòng nào lại đang tay hạ sát? Nó nhìn nhận thì tốt mà không nhìn nhận cũng không sao, dù gì nó cũng là cốt nhục của mình.” Rồi lão lại nghĩ: “Đoàn Chính Thuần chết rồi, ngôi hoàng đế nước Đại Lý đương nhiên là do con ta thừa kế. Thế là ngôi vua lại quay về trực hệ của phụ thân ta. Tuy ta chẳng được làm hoàng đế, nhưng cái mộng ta ôm ấp suốt đời cũng được kể là thành tựu.”
Đoàn Dự lại la lên: “Lão muốn giết ta, thì sao không hạ thủ mau đi?” Đoàn Diên Khánh vỗ vào mấy huyệt đạo để giải khai cho chàng, rồi vẫn dùng thuật Truyền Âm Nhập Mật mà nói: “Ta không thể giết con của chính mình được. Ngươi đã chẳng chịu nhìn nhận ta thì cứ dùng Lục Mạch Thần Kiếm mà giết ta đi, để báo thù cho vợ chồng Đoàn Chính Thuần.” Lão nói xong ưỡn ngực ra để chờ Đoàn Dự hạ thủ. Trong lòng Đoàn Diên Khánh đã chất chứa vô số nỗi bi phẫn, từ lúc lão bị trọng thương đến thành tàn phế. Vì thế mà suốt đời lão đã làm rất nhiều chuyện tàn ác để phát tiết nỗi bi phẫn trong lòng. Lúc này những nỗi bi phẫn lại nổi lên, lão nghĩ lại suốt đời mình chẳng làm được chuyện gì, thà chết dưới tay con trai, thì trăm sự cũng đều kết thúc.
Đoàn Dự đưa tay trái lên lau nước mắt, trong lòng rất đỗi băn khoăn. Chàng cũng muốn dùng Lục Mạch Thần Kiếm để giết Tên Đại ác, báo thù cho song thân. Nhưng lời mẫu thân chàng còn vang vọng bên tai, lão chính là cha ruột, thì chàng làm sao dám hạ thủ?
Đoàn Diên Khánh chờ một lúc, thấy Đoàn Dự đưa tay lên rồi lại hạ xuống, hạ xuống rồi lại đưa lên, mãi không quyết định được chủ ý. Lão liền khàn khàn nói: “Nam tử hán đại trượng phu, muốn xuất thủ thì xuất thủ ngay, sao lại rụt rè?”
Đoàn Dự nghiến răng, rụt tay về nói: “Má má ta không nói dối ta. Ta không giết ngươi.” Đoàn Diên Khánh cả mừng, nổi lên một tràng cười ha hả. Lão biết Đoàn Dự đã nhìn nhận mình là phụ thân, trong lòng hết sức phấn khởi. Lão chống đôi trượng xuống đất, rồi vọt mình đi luôn, chẳng thèm nhìn đến gã Vân Trung Hạc đang nằm ngất xỉu nữa.
***
Đoàn Dự trong lòng đau đớn, lại xem kỹ phụ thân và mẫu thân thì hai người đều đã tắt thở rồi, không còn cách nào vãn hồi được nữa. Chàng không nén nổi, phục xuống đất khóc òa lên.
Chàng khóc một lúc lâu, bỗng nghe phía sau có thanh âm thiếu nữ lên tiếng: “Xin Đoàn công tử bớt nỗi bi ai! Bọn nô tỳ không đến ứng cứu kịp, thật là tội đáng muôn thác.” Đoàn Dự ngoảnh đầu nhìn lại, thấy ngoài cửa sổ có bảy tám thiếu nữ đang đứng, hai cô đi đầu tướng mạo giống hệt nhau. Chàng nhận ra đó là bọn tì nữ của Hư Trúc tại cung Linh Thứu. Đoàn Dự nước mắt đầm đìa, vừa khóc vừa nghẹn ngào nói: “Gia gia cùng má má ta bị người hại chết rồi!”
Hai cô này chính là Trúc Kiếm và Cúc Kiếm ở cung Linh Thứu. Trúc Kiếm nói: “Đoàn công tử! Chủ nhân tiểu tỳ được biết tôn đại nhân dọc đường gặp nguy, lập tức sai bọn tiểu nữ dẫn mọi người đuổi theo tiếp viện, không ngờ tới đây đã chậm mất rồi.” Cúc Kiếm cũng nói: “Vương Ngữ Yên cô nương cùng mọi người bị nhốt trong địa lao, đã được cứu ra bình yên vô sự. Xin công tử an tâm.”
Đằng xa có tiếng còi vọng lại, Trúc Kiếm nói: “Mai tỉ và Lan tỉ cũng đã tới rồi.” Lại nghe tiếng vó ngựa vang lên, hơn mười kỵ sĩ đã đến trước cửa, hai người đi đầu là Lan Kiếm và Mai Kiếm. Hai cô bước lẹ vào nhà, thấy thi thể ngổn ngang dưới đất thì tức mình giậm chân, miệng không ngớt kêu: “Trời ơi! Trời ơi!”
Mai Kiếm thi lễ với Đoàn Dự rồi nói: “Chủ nhân tiểu tỳ gửi lời vấn an Đoàn công tử. Người rất hối hận về việc lỗi ước với công tử, nhưng đó là vì tình trạng bất đắc dĩ, xin công tử lượng thứ cho.”
Đoàn Dự không hiểu nàng nói về chuyện gì, nghẹn ngào đáp: “Huynh đệ ta đã kết nghĩa chi lan, đâu còn chuyện riêng tư? Gia gia cùng má má ta đã chết rồi, ta làm sao nghĩ đến chuyện gì khác được?”
Lúc này năm người Phạm Hoa, Hoa Hách Cấn, Phó Tư Qui, Thôi Bách Tuyền, Quá Ngạn Chi đã ngửi thuốc giải độc và được giải khai huyệt đạo rồi. Hoa Hách Cấn thấy Vân Trung Hạc vẫn nằm dưới đất thì nổi giận đùng đùng, xách đao chém một nhát, tên Cùng Hung Cực Ác Vân Trung Hạc đầu mình mỗi thứ một nơi. Bọn Phạm Hoa năm người đều quỳ cạnh thi thể của phu phụ Đoàn Chính Thuần, khóc lóc rất bi thảm.
Sáng sớm hôm sau, bọn Phạm Hoa chia nhau đi tìm mua quan tài. Đến trưa thì quần nữ bộ Chu Thiên cung Linh Thứu đưa Vương Ngữ Yên, Ba Thiên Thạch, Chu Đan Thần, Mộc Uyển Thanh, Chung Linh tới nơi. Bọn này đã bị Túy Nhân Phong đốt, đến giờ vẫn mê man chưa tỉnh lại.
Sau đó Đoàn Dự cùng bọn Phạm Hoa lo việc khâm liệm, nhập quan các thi thể. Nơi đây đã thuộc về quốc thổ Đại Lý, Phạm Hoa liền truyền tin đến các châu huyện lân cận. Các quan địa phương được tin phu phụ Trấn Nam Vương bị bạo bệnh mà chết ở địa hạt mình thì sợ hãi điếng người, e rằng không thoát tội lười biếng công việc, phục thị bề trên không được chu đáo. May mà Phạm Tư mã không trách cứ, chỉ hạ lệnh tìm dân phu để đưa linh cữu phu phụ Trấn Nam Vương về kinh thành Đại Lý. Dọc đường, Vương Ngữ Yên cùng bọn Ba Thiên Thạch mới lần lượt tỉnh dậy.
Tin tức Trấn Nam Vương tạ thế dọc đường, được Thế tử đưa linh cữu về, truyền khắp kinh thành Đại Lý rất nhanh. Trấn Nam Vương đã nhiều công trạng với quốc gia lại rất được lòng dân chúng, bá quan cùng trăm họ ra xa ngoài mười dặm nghênh tiếp, tiếng khóc bi ai vang động một góc trời. Đoàn Dự, Phạm Hoa, Hoa Hách Cấn, Ba Thiên Thạch vào thẳng nội cung để bẩm báo với hoàng thượng về nguyên nhân cái chết của Trấn Nam Vương. Còn Vương Ngữ Yên cùng bọn Mai Kiếm thì được Chu Đan Thần tiếp đãi ở nhà quán dịch.
Đoàn Dự vừa vào nội cung đã thấy Đoàn Chính Minh vì khóc nhiều mà hai mắt sưng húp. Chàng vừa lạy phục xuống, Đoàn Chính Minh đã gọi: “Hài tử! Sao… sao lại thế?” Rồi ông ôm chầm lấy chàng. Bác cháu cùng lặng đi một lúc.
Đoàn Dự không dám giấu giếm, kể hết việc xảy ra dọc đường bẩm lại một lượt, cả những lời Đoàn phu nhân nói riêng, chàng cũng không bỏ sót. Chàng kể xong, lại phục lạy xuống đất rồi nói: “Gia gia không phải là cha ruột của hài nhi, hài nhi chỉ là một đứa con oan nghiệt, không dám… không dám ở lại trong cung nữa.”
Đoàn Chính Minh cũng kinh tâm động phách, cứ lẩm bẩm: “Oan nghiệt! Oan nghiệt!” Rồi ông đưa tay ra nâng Đoàn Dự dậy, nói: “Hài tử! Trên đời chỉ có ngươi và Đoàn Diên Khánh biết bí mật đó mà thôi. Lẽ ra ngươi có thể không bẩm với ta, thế mà ngươi cứ nói thẳng không giấu giếm gì, đủ chứng tỏ ngươi rất trung thành. Ta không có có con cái, gia gia ngươi không có con trai, đừng nói ngươi cũng ở họ Đoàn, dù ngươi có khác họ thì ta cũng quyết ý lập ngươi thừa kế. Hơn nữa, ngôi Hoàng đế này vốn là của Diên Khánh Thái tử, mấy chục năm trời ta ở trộm ngôi, trong lòng thường lấy làm hổ thẹn. Nay ông trời đã an bài như vậy thì thật là tốt đẹp.” Đoàn Chính Minh nói xong, bỏ mũ xuống, để lộ cái đầu trọc lóc ra, trên đỉnh đầu đã điểm mười hai vết tàn hương.
Đoàn Dự giật mình kinh hãi la lên: “Bá phụ! Người…” Đoàn Chính Minh nói: “Ngày trước lên chùa Thiên Long chống lại Cưu Ma Trí, sư phụ đã thí phát và truyền giới cho ta, chuyện đó ngươi cũng đã thấy.” Đoàn Dự “Vâng!” một tiếng. Đoàn Chính Minh lại nói tiếp: “Ta đã vào cửa Phật, đáng lẽ phải truyền ngôi cho phụ thân ngươi ngay, nhưng vì khi đó y phải vào Trung Nguyên nên ta tạm thời giữ đế vị. Phụ thân ngươi bất hạnh đã tạ thế dọc đường, hôm nay ta truyền ngôi vị cho ngươi.”
Đoàn Dự kinh hãi vô cùng, đáp: “Hài nhi nhỏ tuổi kiến thức nông cạn, làm sao ở ngôi cao được? Hơn nữa, thân thế hài nhi lại không rõ ràng. Hài nhi… hài nhi xin được tìm nơi rừng núi mà ẩn tích…” Đoàn Chính Minh tức giận nói: “Chuyện thân thế ngươi thì từ nay không được nhắc đến nữa. Song thân ngươi đối với ngươi thế nào?”
Đoàn Dự nghẹn ngào đáp: “Ân sâu tựa biển, đức nặng tày non.” Đoàn Chính Minh nói: “Thế thì được rồi. Ngươi muốn báo đáp ân đức song thân thì phải bảo toàn thanh danh cho hai vị. Lên làm Hoàng đế, ngươi chỉ cần ghi nhớ hai điều: một là thương dân, hai là biết nghe can gián. Bản tính ngươi nhân hậu, đối với trăm họ tất nhiên không bạo ngược. Nhưng khi ngươi lớn tuổi hơn, ngàn vạn lần không nên ỷ mình thông minh, đối với quốc sự không nên hành động quá đáng, đối với lân quốc không nên vọng động binh đao.”
Trong hoàng cung nước Đại Lý, Đoàn Chính Minh đang truyền ngôi vua cho Đoàn Dự, dặn bảo mọi điều. Cùng lúc này nhưng cách đó về phía bắc mấy ngàn dặm, ở điện Sùng Khánh trong hoàng cung thành Biện Lương nhà Đại Tống, thái hoàng thái hậu là Cao Thị đang nằm trên giường bệnh dặn dò hoàng tôn là Triệu Hú (tức Tông Triết Tôn): “Hài nhi! Tổ tiên biết bao khó nhọc mới dựng nên cơ đồ, đổ mồ hôi sôi nước mắt mới có được thiên hạ thái bình như ngày nay. Trước kia gia gia ngươi nắm quyền đã làm xáo động bách tính, gây nên đại biến. Hiện nay trăm họ đã được yên vui, nhưng nhớ tới những ngày khủng khiếp đã qua vẫn còn kinh tâm động phách. Ngươi có biết tại sao không?”
Triệu Hú đáp: “Hài nhi thường nghe tổ mẫu nói là vì gia gia hài nhi tin theo lời Vương An Thạch, thay đổi pháp độ cũ của nhà nước, khiến cho muôn dân cực khổ.”
Nét mặt khô đét của Thái hoàng thái hậu khẽ động, thở dài rồi nói: “Vương An Thạch đã có học vấn lại có tài năng, nhất định không phải là người vô dụng. Chỉ vì gia gia ngươi nóng lòng về việc trị nước, dụng tâm của y cũng là vì nước vì dân, có điều… Hỡi ơi! Tính tình y nóng nảy, muốn thành công mau lẹ nên thành ra hỏng việc. Dục tốc bất đạt là thế đó.” Bà nói tới đây lại ho rũ rượi, ngừng lại một lúc rồi nói tiếp: “Còn một điều nữa là y không chịu nghe lời trung ngôn nghịch nhĩ. Ai khen y là Thánh Thiên Tử thì không sao, còn kẻ nào thấy y làm việc gì bất lợi mà mở miệng khuyên can mấy câu, là y lập tức nổi nóng, kẻ thì bãi quan, kẻ thì thuyên chuyển đi xa. Như thế thì còn ai dám đem lời ngay thẳng mà can gián nữa?”
Triệu Hú đáp: “Tổ mẫu! Tiếc là chí lớn của gia gia chưa được toại nguyện. Những chính sách của người đều bị bọn tiểu nhân làm cho hỏng việc.”
Thái hoàng thái hậu nghe nói cả kinh, run giọng hỏi: “Chính sách là chính sách nào? Tiểu nhân là ai?”
Triệu Hú đáp: “Gia gia đã lập ra những phép Thanh Miêu, Bảo Mã, Bảo Giáp, chẳng phải là chính sách làm cho quốc phù, binh cường ư? Chỉ hận là bọn hủ nho như Tư Mã Quang, Lã Công Trứ, Tô Thức làm hỏng mất đại sự.”
Thái hoàng thái hậu đổi sắc mặt, gượng ngồi dậy, nhưng sức bà đã yếu quá rồi nên khó khăn lắm mới nhấc mình lên được một hai tấc, lại còn ho hắng không ngớt. Triệu Hú đáp: “Tổ mẫu đừng tức giận làm chi, cần giữ mình cho khỏe là hơn.” Giọng nói của y đầy vẻ châm chọc.
Thái hoàng thái hậu ho xong một trận, cố bình tâm lại rồi nói: “Hài nhi! Ngươi làm hoàng đế đã chín năm, nhưng chín năm nay… chín năm nay hoàng đế thật sự là tổ mẫu ngươi, việc gì cũng do tổ mẫu quyết định. Ngươi… ngươi tức tối, oán hận tổ mẫu lắm phải không?”
Triệu Hú đáp: “Tổ mẫu làm hoàng đế thay cho hài nhi, tức là thương hài nhi, sợ hài nhi cực khổ. Việc dùng người là do tổ mẫu quyết định, thánh chỉ cũng do tổ mẫu ban bố. Hài nhi được hưởng phúc thanh nhàn, sao lại dám oán hận tổ mẫu?”
Thái hoàng thái hậu lại thở dài rồi nói: “Người giống tính gia gia như đúc, lại tự cho là thông minh hơn người, muốn làm nên đại nghiệp. Trong lòng ngươi vẫn oán hận ta, lẽ nào ta không biết?”
Triệu Hú mỉm cười nói: “Dĩ nhiên là tổ mẫu đã biết rồi. Quân ngự lâm trong cung do người thân tín của tổ mẫu chỉ huy, bọn thái giám cũng là người tâm phúc của tổ mẫu, văn võ đại thần trong triều đều vâng mệnh tổ mẫu. Hài nhi chỉ có việc vâng lời dạy bảo của tổ mẫu, ngoài ra không còn việc gì phải làm nữa.”
Thái hoàng thái hậu nhìn lên đỉnh màn nói: “Chắc ngày ngày đều như hôm nay, ngươi chỉ mong cho bệnh ta nặng thêm rồi chết, cho ngươi… ngươi được rảnh tay hành động.” Triệu Hú nói: “Cái gì của hài nhi cũng là của tổ mẫu ban cho. Ngày mà gia gia hài nhi băng hà, nếu không được tổ mẫu chủ trương, thì các vị đại thần trong triều chẳng lập Ung vương thì cũng lập Tào vương lên ngôi, đâu đến lượt hài nhi? Ơn đức của tổ mẫu, hài nhi chẳng khi nào quên được. Nhưng… nhưng…” Thái hoàng thái hậu hỏi: “Nhưng cái gì? Sao ngươi không nói huỵch toẹt ra, mà cứ úp mở như vậy?”
Triệu Hú nói: “Hài nhi nghe người ta nói, sở dĩ tổ mẫu lập hài nhi là vì hài nhi còn nhỏ tuổi. Như thế thì tổ mẫu mới thao túng được việc triều chính.” Triệu Hú thu hết can đảm để nói câu này, trái tim non trẻ đập loạn lên. Y liếc mắt nhìn ra cửa điện, thấy bọn thái giám đều là tâm phúc của mình, tên nào cũng tay cầm khí giới phòng vệ rất nghiêm mật, mới tạm yên lòng.
Thái hoàng thái hậu gật gật đầu, đáp: “Ngươi nói không sai, quả là ta muốn chính mình xử lý mọi việc trong nước. Chín năm nay ta đã trị quốc ra sao?”
Triệu Hú lấy trong bọc ra một cuộn giấy, đáp: “Tổ mẫu! Trong chín năm nay đã có không biết bao nhiêu những bậc văn nhân trong triều ngoài nội ca tụng công đức, tổ mẫu chắc đã nghe đến phát ngán. Hôm nay có người mang đến một bản tấu chương của tể tướng nước Liêu trình lên Liêu đế, trong đó có đề cập đến chính sách trị quốc của tổ mẫu. Đây là luận điệu của đại thần địch quốc, tổ mẫu có muốn nghe chăng?”
Thái hoàng thái hậu than thở: “Thiên hạ ca tụng ta cũng được, phỉ báng ta cũng được, lão… lão thân chỉ sống đến đêm nay là hết… Chẳng hiểu ta có còn được thấy mặt trời mọc sáng mai không? Tể tướng nước Liêu nói về ta như thế nào?”
Triệu Hú mở cuốn trục ra, rồi nói: “Tên tể tướng đó nói về thái hoàng thái hậu như sau: Buông rèm nhiếp chính, chiêu nạp danh thần, bài trừ chính trị hà khắc. Trong chín năm trời, triều đình hưng thịnh, trăm họ yên vui…” Triệu Hú đọc đến đây thì ngừng lại, liếc sang thì thấy cặp mắt lờ đờ của thái hoàng thái hậu có mấy tia phấn khởi. Hắn lại đọc tiếp: “Người này đúng là nữ trung Nghiêu Thuấn…”
Thái hoàng thái hậu lẩm nhẩm: “Nữ trung Nghiêu Thuấn, nữ trung Nghiêu Thuấn! Dù thật là như vậy, cũng khó mà khỏi chết.” Đột nhiên trong bộ óc đã mờ mịt của bà lóe ra một tia sáng, bà lại hỏi: “Sao tể tướng nước Liêu lại đề cập đến ta? Hài nhi! Ngươi… ngươi phải cẩn thận đề phòng, chắc là bọn chúng đã biết ta sắp chết, chuẩn bị khinh nhờn ngươi đó.”
Bộ mặt non choẹt của Triệu Hú lộ vẻ kiêu ngạo. Y nói: “Họ muốn khinh nhờn hài nhi, hừ, đúng là như vậy, nhưng không phải chuyện dễ dàng đâu. Người Khất Đan có thám tử ở Đông Kinh nên biết tổ mẫu lâm trọng bệnh, chẳng lẽ chúng ta không biết đặt do thám ở Thượng Kinh hay sao? Đến tấu chương của chúng trình lên hoàng đế Đại Liêu cũng bị chúng ta lấy được đó thôi. Vua tôi Khất Đan thương nghị với nhau, nói là khi tổ mẫu trăm tuổi rồi, mà văn võ đại thần bên ta vẫn không thay đổi chính sách bảo quốc an dân thì thôi. Khi nào hài nhi… hài nhi khinh suất vọng động gì… thì bọn họ mới cử sự.”
Thái hoàng thái hậu thất thanh nói: “Nếu thế thì bọn chúng sẽ xuất binh nam chinh ư?” Triệu Hú đáp: “Đúng thế!” Y xoay người ra cửa sổ, nhìn lên chòm sao Bắc Đẩu thất tinh giữa bầu trời. Y tìm sao Bắc Cực, chăm chú nhìn về hướng Bắc mà lẩm bẩm: “Nhà Đại Tống ta binh cường lương đủ, nhân số cũng nhiều, sợ gì bọn Khất Đan? Chúng chẳng nam chinh thì ta cũng đem quân bắc phạt, quyết tỉ thí một phen”
Thái hoàng thái hậu nghe không rõ, hỏi lại: “Ngươi nói gì vậy? Cái gì mà tỉ thí một phen?” Triệu Hú lại trước giường bệnh rồi đáp: “Tổ mẫu! Dân số Đại Tống ta nhiều gấp mười nước Liêu, mà lương thảo cũng gấp ba mươi lần, có đúng thế không? Mười người chọi một, chẳng lẽ không thắng được họ hay sao?” Thái hoàng thái hậu run giọng hỏi: “Ngươi muốn khai chiến với nước Liêu ư? Năm trước Châu Nguyên hoàng đế oai võ như vậy, ngự giá thân chinh rồi cũng phải ký vào hòa ước Thiên Uyên. Ngươi… ngươi lại còn dám dấy động binh đao ư?”
Triệu Hú tức tối đáp: “Tổ mẫu vẫn chưa tin hài nhi, cứ coi hài nhi như một đứa con nít hỉ mũi chưa sạch, không hiểu việc đời. Nói hài nhi không bằng Thái tổ, Thái tông thì còn có lý, chẳng lẽ lại không bằng được Chân Tôn hoàng đế hay sao?” Thái hoàng thái hậu hạ giọng nói: “Ngay cả Thái Tôn hoàng đế năm xưa cũng bị Bắc quốc đánh cho đại bại, may mà chưa mất mạng.” Triệu Hú đáp: “Chuyện thiên hạ không phải lúc nào cũng giống nhau. Ngày trước Đại Tống ta không thắng nổi nước Liêu, nhưng vị tất đã vĩnh viễn chịu thua họ.”
Thái hoàng thái hậu còn muốn nói rất nhiều song tinh lực đã hết, đầu óc mờ mịt không còn sáng suốt, ngay việc nói ra tiếng cũng đã khó khăn. Nhưng vì lòng kiên cường nổi lên, thanh âm dõng dạc trở lại, bà nói tiếp: “Binh đao là việc dữ, sinh linh đồ thán, ngàn vạn lần không được khinh suất mà vọng động.”
Bà hít một hơi chân khí, rồi từ từ nói tiếp: “Hài nhi! Ta cầm quyền chính suốt chín năm trời, mà chưa phân tích rõ cho hài nhi hiểu. Đó là lỗi của ta, cứ tưởng rằng còn sống được lâu năm, ngờ đâu…” Bà ho hắng mấy tiếng rồi lại nói: “Đúng là chúng ta nhân số đông đúc, lương thực đầy đủ, nhưng Đại Tống vốn chuyên về văn học, còn võ bị lại kém Khất Đan. Hơn nữa, nếu xảy việc binh đao thì quân dân gan óc lầy đất, biết bao nhiêu người uổng mạng, bao nhiêu nhà cửa bị thiêu hủy? Làm vua thì trong lòng lúc nào cũng phải nghĩ đến chữ Nhân. Chưa nói đến chuyện thắng bại khó mà biết trước, dù có nắm chắc phần thắng cũng chẳng nên động binh là hơn.”
Triệu Hú nói: “Mười sáu châu quận Yên Vân của chúng ta đã bị người Liêu vô cớ chiếm đóng. Chúng còn đòi hàng năm phải tiến cống vàng lụa, chẳng khác nào một nước phiên thuộc. Hài nhi làm thiên tử nhà Đại Tống, làm sao chịu nổi cái nhục này? Chẳng lẽ cứ để bọn chúng vĩnh viễn khinh nhờn hay sao?” Thanh âm Triệu Hú mỗi lúc một vang dội. Y nói tiếp: “Ngày trước Vương An Thạch thay đổi pháp lệnh, dựng ra phép Bảo Giáp, Bảo Mã, cũng chỉ muốn cho quốc gia giàu mạnh để rửa nhục cho tổ tông. Kẻ làm con cháu, biết trả thù rửa hận cho tổ tông mới là đạo hiếu. Phụ hoàng của hài nhi suốt đời hoài bão ý chí làm cho đất nước hưng thịnh, phải chăng cũng là vì vậy? Hài nhi nhất quyết noi theo di chí của gia gia, nếu không thì nguyện như chiếc ghế này.” Y đột nhiên rút thanh kiếm ở trên lưng ra, chém chiếc ghế bên cạnh đứt làm hai đoạn.
Khi hoàng đế vào đây vốn không được xách đao đeo kiếm. Hoàng thái hậu thấy Triệu Hú còn nhỏ tuổi mà có hành động vũ phu thì không khỏi giật mình kinh hãi, liền nói bằng một giọng đau buồn, uất ức: “Sao mi dám đeo kiếm vào đây? Có phải là để giết ta không? Hay là ngăn cấm không cho ta buông rèm nhiếp chính? Thằng lỏi này lớn mật làm càn, ta phải truất phế mi!” Bản tính thái hoàng thái hậu vốn hiền từ, nhưng bà đã từng nắm giữ quyền binh lâu ngày, bây giờ bà thấy quyền hành bị uy hiếp liền lập tức nghĩ tới chuyện loại trừ đối thủ, dù là cốt nhục cũng không thể khoan dung. Trong lúc hoảng hốt, bà quên mất lúc này mình chỉ như ngọn đèn khô dầu, trong chốc lát là phải từ trần.
Trong lòng Triệu Hú thì chỉ nghĩ đến chuyện xung trận giết giặc, thu phục mười sáu châu quận Yên Vân. Mộng tưởng của y đã đạt đến cực đại, chỉ muốn thống suất trăm vạn hùng binh công phá Thượng Kinh, bắt Liêu chúa Gia Luật Hồng Cơ phải ra hàng. Y giơ cao thanh kiếm lên nói: “Quốc gia đại sự mà hư hỏng là vì bọn hủ nho kém cỏi nhát gan. Chúng tự xưng là quân tử, song thực ra đều tham sinh úy tử, chỉ là hạng tiểu nhân tự tư tự lợi. Hài nhi… hài nhi phải trừng phạt bọn chúng nặng nề, nhất định không tha!”
Thái hoàng thái hậu đột nhiên tỉnh táo lại, nghĩ bụng: “Thằng nhỏ này là đương kim hoàng đế. Nó có chủ ý của nó, ta không thể bắt nó nghe ta được nữa. Ta chỉ là một lão thái bà sắp chết đến nơi, còn nó là hoàng đế, nó mới là hoàng đế.” Bà dồn hết sức tàn, cố cao giọng lên nói: “Hài nhi! Ngươi có chí khí như vậy, tổ mẫu hết sức phấn khởi.” Triệu Hú cả mừng tra kiếm vào vỏ, hỏi lại: “Tổ mẫu! Hài nhi nói vậy có đúng không?”
Thái hoàng thái hậu hỏi: “Hài nhi có biết thế nào là kế vẹn toàn chắc thắng không?” Triệu Hú chau mày đáp: “Dạy tướng luyện quân, nuôi ngựa tích lương, cùng người Liêu quyết một trận sống mái thì có thể thắng, nhưng không thể nói là vẹn toàn chắc thắng được.” Thái hoàng thái hậu nói: “Ngươi cũng đã hiểu đem quân đi đánh thì chưa chắc đã nắm vững được phần thắng. Đại Tống ta cũng có thể không đánh mà khuất phục được người ta.” Triệu Hú đáp: “Cho dân nghỉ ngơi, thi hành nhân chính, thì có thể không đánh mà khuất phục được lòng người, có phải thế chăng? Tổ mẫu! Đó chỉ là kiến thức thiển cận của bọn thư sinh kiểu như Tư Mã Quang, làm sao mà thành đại sự được?”
Thái hoàng thái hậu thở dài, nhẹ nhàng nói: “Kiến thức của Tư Mã tướng công thật là siêu tuyệt, sao lại bảo là thư sinh thiển cận? Ngươi có lúc nào rảnh việc thì nên đọc bộ sách Tư Trị Thông Giám của Tư Mã tướng công. Các triều đại hơn ngàn năm nay vì sao thịnh, vì sao suy, vì sao vong quốc, bộ sách này đều có ghi chép rõ ràng. Đại Tống ta đất cát phì nhiêu, dân cư đông đúc gấp mười nước Liêu, nếu không có việc chiến chinh thì mỗi ngày một hưng thịnh lên. Người Liêu tính nết hung hãn hiếu chiến, ta chỉ cần phòng thủ biên cương nghiêm mật, thì trong nội bộ của họ tất sinh nội biến, tàn sát lẫn nhau mà hao hụt nguyên khí. Năm trước, cái loạn Sở vương đã làm hao mòn mất một số lớn quân tinh nhuệ của nước Liêu…”
Triệu Hú vỗ đùi lớn tiếng nói: “Đúng thế! Khi ấy hài nhi đã toan xua quân bắc tiến để nội ngoại giáp công, nước Liêu đang có nội loạn, nhất định không thể đối phó được. Trời ơi! Thật là cơ hội ngàn năm một thuở mà bị lỡ mất rồi!”
Thái hoàng thái hậu nghiêm giọng nói: “Lúc nào ngươi cũng chỉ nghĩ đến chuyện gây hấn với nước Liêu. Ngươi… ngươi…” Đột nhiên bà ngồi dậy, trỏ tay vào mặt Triệu Hú.
Triệu Hú thấy thái hoàng thái hậu nổi cơn thịnh nộ, giật mình lùi lại ba bước. Chân y loạng choạng suýt té ngã, tay nắm chặt đốc kiếm, trống ngực đánh thình thình, miệng lớn tiếng la: “Mau! Các ngươi mau vào đây!”
Bọn thái giám nghe hoàng thượng la gọi, liền tiến vào điện. Triệu Hú run giọng hỏi: “Bà… bà… Các ngươi xem kỹ, bà làm sao rồi?” Y vừa thổ lộ bao nhiêu là hùng tâm tráng chí, muốn quyết một trận tử chiến cùng người Khất Đan, thế mà một bà già ốm o bệnh hoạn vừa ra oai, y lập tức hồn bất phụ thể, chân tay luống cuống. Một tên thái giám tiến lại mấy bước, nhìn kỹ thái hoàng thái hậu, lại đưa tay ra sờ mặt bà, rồi nói: “Khải tâu hoàng thượng, thái hoàng thái hậu đã cỡi hạc về trời rồi!”
Triệu Hú cả mừng, cười ha hả rồi la lớn: “Tuyệt diệu! Tuyệt diệu! Ta là hoàng đế rồi! Ta là hoàng đế rồi!”
Thực ra, y đã làm hoàng đế được chín năm rồi, nhưng trong chín năm ấy thì chỉ là hoàng đế hữu danh vô thực, việc lớn đều ở trong tay thái hoàng thái hậu. Từ bây giờ y mới thực sự là hoàng đế cầm quyền trị nước.
Triệu Hú tự mình trông nom triều chính, việc đầu tiên là y giáng chức Lễ bộ thượng thư Tô Thức, bắt phải đi làm tri phủ ở Định Châu. Tô Thức là một văn nhân lừng danh thiên hạ, ai cũng trọng vọng. Ông là nhân vật chính trong việc phản đối biến pháp cải cách của Vương An Thạch. Những năm Nguyên Hựu, thái hoàng thái hậu buông rèm nhiếp chính, bắt đầu trọng dụng Tư mã Quang và huynh đệ Tô Thức, Tô Triệt. Bà vừa qui thiên, hoàng đế đã đuổi Tô Thức đi, khiến cho từ triều đình đến dân gian đều bị bao phủ một không khí ảm dạm. Ai nấy than thầm: “Hoàng đế lại thi hành biến pháp, trăm họ khốn khổ đến nơi rồi!” Dĩ nhiên cũng có lắm kẻ mừng thầm, vì nếu hoàng đế thi hành cải cách thì chúng lại có cơ hội thăng quan phát tài.
Lúc này những người nắm quyền trong triều đều là cựu thần do thái hoàng thái hậu bổ nhiệm. Hàn lâm học sĩ Phạm Tô Vũ trình lên một bản tấu chương, nói rằng: “Tiên thái hoàng thái hậu lấy công bình chính trực làm gốc, bãi bỏ biến pháp của bọn Vương An Thạch, Lã Huệ Khanh, mà áp dụng chính sách cũ của tổ tiên. Nhờ thế mà xã tắc nguy nan rồi lại an bình, lòng người ly tán trở nên đoàn kết. Thậm chí Liêu chúa thương nghị cùng tể tướng, cũng nói là nếu Nam triều duy trì chính sự nhân hòa, thì chỉ nên giữ nguyên hiện trạng mà phòng thủ biên cương, không nên sinh sự. Bệ hạ nghĩ xem, địch quốc còn suy nghĩ như vậy, đủ biết lòng người trong nước thế nào. Nay nếu bệ hạ thay đổi chính sách, bọn tiểu nhân sẽ thừa cơ ngóc đầu dậy, mà kẻ vụ lợi cũng ghé mắt nhìn. Thần xin bệ hạ nghĩ đến tổ tiên trải gian nan dựng xây cơ nghiệp, nghĩ đến thái hoàng thái hậu phải nhọc lòng giữ vững giang sơn mà duy trì chính đạo, đừng nghe tiểu nhân sàm tấu, giữ chính sách cũ khiến quốc gia vững bền, bá tính an vui, thì thiên hạ thật là may lắm.”
Triệu Hú đọc tấu chương mà tức giận, đập bàn quát: “Ngươi bảo ta duy trì chính đạo, đừng nghe tiểu nhân sàm tấu. Hai câu này quả là không sai chút nào. Chỉ có điều, ai là quân tử, ai là tiểu nhân?” Nhà vua lại quắc mắt lên nhìn Phạm Tô Vũ.
Phạm Tô Vũ dập đầu tâu: “Bệ hạ minh xét. Lúc thái hoàng thái hậu bắt đầu buông rèm nhiếp chính thì hàng vạn thần dân trong triều ngoài nội đều nói là biến pháp làm cho bách tính phải lầm than. Thái hoàng thái hậu thương dân như con, đã thay đổi chính sách, ân xá cho những người có tội. Khi đó bệ hạ đã thuận lòng dân mà vâng theo lời thái hoàng thái hậu. Những quan chức bị bãi miễn đó, chính là tiểu nhân.”
Triệu Hú cười nhạt nói: “Họ bị thái hoàng thái hậu bãi miễn, có can dự gì đến trẫm đâu?” Y nói xong, lập tức rũ áo bãi triều.
Triệu Hú nhìn bọn đại thần mà ngứa mắt, nhưng vừa được chấp chính nên không tiện đuổi sạch. Y tạm thời hạ chiếu, thăng quan cho bọn nội thị Nhạc Sĩ Tuyến, Lưu Duy Giản, Lương Tòng Chính để thưởng chúng đã có công phụ họa với mình. Y cáo bệnh, không lâm triều mấy ngày liền.
Một hôm, thái giám đưa vào một tấu chương, nét chữ rồng bay phượng múa, dưới ký tên Tô Thức. Triệu Hú nói: “Thằng cha này viết chữ thật là đẹp, không hiểu hắn muốn nói những chuyện hồ đồ gì.” Rồi y mở tấu chương ra xem, thấy viết rằng: “Hạ thần đang chầu chực.trong triều thì được lệnh đi giữ biên cương. Hạ thần không muốn ra đi mà chưa được vào bái biệt, muốn thông tin đến bệ hạ cũng không phải dễ.” Triệu Hú nói: “Ta không thích bộ râu quai nón của ngươi, trọn đời không muốn nhìn thấy ngươi nữa.”
Y lại đọc tiếp: “Nhưng hạ thần không dám chẳng tận trung, đó là hành vi của thánh nhân đã dạy, phải vào chỗ tối để nhìn chỗ sáng, ngồi chỗ tĩnh mà xem chỗ động, thì vạn vật đều rõ ràng trước mắt. Bệ hạ là bậc thánh trí hơn đời, đang tuổi thanh niên…” Triệu Hú cười khẩy, nghĩ bụng: “Thằng cha rậm râu này hỗn láo, dám ra giọng mỉa mai. Hắn bảo ta “thánh trí hơn đời”, mà lại chú thích “đang tuổi thanh niên”, thì ra hắn bảo mình nhỏ tuổi, chưa hiểu việc trị nước.”
Y lại đọc tiếp: “Hạ thần chỉ mong bệ hạ hãy khoan hành động, cứ để tâm theo dõi để nhận rõ chính sách lợi hại ra sao, quần thần tà chính thế nào. Giả tỉ bệ hạ nghiên cứu ba năm rồi mới thực hiện, thì khi hành động tất nhiên bách tính không oán hận, bệ hạ không hối tiếc. Hạ thần e rằng chỉ có bọn thần tử vụ lợi mới nông nổi mà muốn hành động gấp rút, nay dâng biểu tấu này, mong rằng bệ hạ thận trọng mà cải cách thì phúc cho xã tắc, may cho thiên hạ lắm thay.”
Triệu Hú đọc hết tấu chương, thầm nghĩ: “Người ta nói thằng cha rậm râu họ Tô thông minh tuyệt đỉnh, quả nhiên danh bất hư truyền. Hắn biết ta nhất định noi theo tiên đế mà thi hành biến pháp, nhưng hắn không dám công khai ngăn trở mà chỉ khuyên ta hoãn lại ba năm. Y nói gì gì: “Hành động tất nhiên bách tính không oán hận, bệ hạ không hối tiếc”, chỉ là lời nói uyển chuyển. Như vậy tức là gấp rút vụ lợi thì bách tính oán hận, ta phải hối tiếc.” Triệu Hú nghĩ tới đó thì bất giác nổi lôi đình, xé vụn tấu chương.
Mấy hôm sau Triệu Hú lâm triều, Phạm Tô Vũ lại dâng tấu chương: “Đầu niên hiệu Chiêu Ninh, Vương An Thạch cùng Lã Huệ Khanh dựng ra biến pháp, cải cách lề luật cũ của tổ tông, đưa nhiều kẻ tiểu nhân vào làm hỏng việc nước. Chúng lại dấy động binh đao để mở rộng biên thùy, gây thù oán với ngoại bang khiến cho sinh linh đồ thán, trăm họ lầm than”. Triệu Hú xem tới đây thì lửa giận đã bốc lên, mắng thầm: “Ngươi thóa mạ Vương An Thạch cùng Lã Huệ Khanh thì có khác gì thóa mạ phụ hoàng ta?”
Y lại xem tiếp: “Thái Xác liên tiếp mở nhà ngục lớn, Vương Thiều lấp Tây Hà, Chương Đôn mở rộng khe cừ, Thẩm Khởi nhiễu loạn bang giao, Thẩm Quát động binh ở phía tây làm quân dân tử thương tới hai mươi vạn người. Tiên đế lâm triều đã tỏ ra hối hận, Ngài tuyên bố triều đình phải chịu trách nhiệm này…” Triệu Hú càng xem càng tức giận, bỏ qua mấy dòng, lại đọc ở dưới: “Dân chúng khổ não như nhà có loạn, chỉ mong bệ hạ khai ân cứu giúp, để người khắp thiên hạ đều được bình yên…” Triệu Hú coi tới đây không nhịn được nữa, vỗ bàn đứng dậy.
Triệu Hú mới mười tám tuổi đã ở ngôi cao, tính tình lại nóng nảy. Y nổi nóng giữa buổi triều thì quần thần không khỏi sợ hãi thất sắc. Triệu Hú nghiêm giọng quát hỏi: “Phạm Tô Vũ! Ngươi trình tấu chương có phải là để phỉ báng chăng?” Phạm Tô Vũ dập đầu tâu: “Bệ hạ minh xét. Hạ thần vạn vạn lần không dám.”
Triệu Hú mới lên nắm quyền mà được thấy quần thần khiếp sợ, trong lòng đắc ý nên nộ khí tiêu tan. Nhưng y vẫn giữ vẻ mặt nghiêm khắc lớn tiếng nói: “Tiên đế là bậc thiên tài đại chí, muốn bình định, giang sơn, thống nhất thiên hạ, chỉ tiếc là ngài còn trẻ đã băng hà. Nay trẫm muốn nối chí của tiên đế, sao lại không được? Các ngươi cứ trách tiên đế thay đổi chính sách, nhàm cả tai trẫm là nghĩa làm sao?”
Trong quần thần có một vị đại thần tướng mạo thanh tú oai phong, bệ vệ bước ra, chính là tể tướng Tô Triệt. Triệu Hú vừa trông thấy đã phát ngán, nghĩ thầm: “Lão này là em thằng cha rậm râu họ Tô. Huynh đệ y cấu kết với nhau, chắc chắn trong miệng chó không thể mọc ngà voi.” Bỗng nghe Tô Triệt lên tiếng: “Bệ hạ minh xét. Tiên đế có nhiều điểm vượt cả tiền nhân, tỉ như ngài ở ngôi mười hai năm trời, đến cuối đời vẫn không chịu nhận tôn hiệu nào. Thần đã trình tấu chương ca tụng công đức, mà tiên đế vẫn khiêm nhường không nhận. Còn việc triều chính có điều lầm lẫn thì đời nào mà chẳng có? Hơn nữa, con cái sửa chữa việc cha đã lầm lẫn, đó là đạo hiếu của người xưa.”
Triệu Hú hắng giọng một tiếng, lạnh lùng hỏi lại: “Con cái sửa chữa việc cha đã lầm lẫn, là nghĩa làm sao?” Tô Triệt đáp: “Tỉ như việc ngày xưa, Hán Võ Đế ngoài đánh tứ di, trong dựng cung thất, tiền tài khánh kiệt, đến nỗi phải cướp bóc tài vật cùng nguồn lợi của bá tính, dân chúng không chịu nổi, suýt gây ra họa loạn. Khi Võ Đế băng hà, Chiêu Đế lên nối ngôi, thu dùng Hoắc Quang, bỏ những việc phiền hà, khiến cho Hán thất trở lại vững vàng.” Triệu Hú hừ một tiếng, thầm nghĩ: “Ngươi dám đem Hán Võ Đế mà so sánh với phụ hoàng ta!”
Tô Triệt thấy long nhan nhăn nhó đã biết là nguy hiểm, nghĩ thầm: “Nếu ta còn nói nữa thì hoàng thượng tất nổi lôi đình, không chừng mất mạng. Nhưng nếu cứ thuận gió theo chiều để cho thiên hạ loạn lạc, bách tính lầm than, cửa nhà tan nát, thì ta đây là một vị đại thần trong nước, nhẫn tâm thế nào được? Hôm nay chính là lúc ta phải đem sinh mạng nhỏ nhoi mà báo đáp thâm ân của thái hoàng thái hậu”.
Ông bèn tiếp: “Đời Minh Đế nhà Hậu Hán lấy hai chữ Giám Sát làm gốc, tra xét lời nói cùng việc làm của bá quan thật là tỉ mỉ, tin tưởng các loại bùa chú quái đản tà đạo, khiến cho trên dưới đều phập phồng lo sợ, người người đều không thể sống yên. Khi Chương Đế lên nối ngôi, đã kiểm điểm lại chỗ được mất, đổi sang chính sách khoan hồng để lòng người vui vẻ, thiên hạ thịnh trị. Đó là những bậc làm con đã sửa chữa lỗi lầm của tiên phụ, trở thành những bậc đại hiếu để tiếng thơm muôn đời như thánh nhân đã dạy.”
Tô Triệt đã biết Triệu Hú lên ngôi lúc mới mười tuổi, chín năm nay việc gì cũng phải nghe theo mệnh lệnh của thái hoàng thái hậu, nhất định y thầm phẫn nộ trong lòng, quyết ý muốn hủy những chính sách của bà để quay về chính sách của đời Thần Tông, để tỏ lòng hiếu thuận với phụ thân. Do đó Tô Triệt mới đem chuyện đại hiếu của thánh nhân ra mà khuyên can hoàng thượng.
Triệu Hú lớn tiếng hỏi: “Hán Minh Đế theo đạo thuật thì đã có gì là không tốt? Ngươi đem Hán Võ Đế mà so với tiên đế là có dụng ý gì? Phải chăng là công nhiên phỉ báng? Hán Võ Đế dấy binh đại bại để chết hết quân lính, cuối đời đã hạ chiếu tự phê phán mình, tự trách cứ nặng nề những hành vi hoang đường. Đó là một ông vua bị hậu thế chê cười, sao ngươi dám đem ra so sánh với tiên đế?” Y càng nói, thanh ám càng nghiêm khắc, sắc mặt cũng biến đổi. Tô Triệt dập đầu lia lịa, rồi bước ra khỏi điện, quì trước sân để chờ xử tội, không dám nói gì nữa.
Rất nhiều đại thần cùng nghĩ: “Tiên đế thi hành biến pháp đã làm trăm họ ngày đêm hoảng hốt, so ra còn tệ hơn Hán Võ Đế nhiều.” Nhưng bá quan đều sợ hãi, không ai dám nói câu nào, cũng không ai dám năn nỉ giùm Tô Triệt.
Bỗng thấy một vị đại thần đầu tóc bạc phơ rẽ mọi người đi ra, chính là Phạm Thuần Nhân. Ông chậm rãi nói: “Xin bệ hạ bớt giận. Tô Triệt nói năng có điều thất thố, cũng chỉ vì y một dạ trung thành với bệ hạ. Bệ hạ mới lên chấp chính, đối với đại thần nên giữ lễ.” Triệu Hú nói: “Người ta đã có câu: Tần Hoàng Hán Võ, vậy Hán Võ Đế cũng tàn bạo như Tần Thủy Hoàng. Y nói thế còn chưa vô đạo hay sao?” Phạm Thuần Nhân tâu: “Tô Triệt chỉ nghị luận về thời thế cùng sự việc, chứ không so sánh về con người.”
Triệu Hú nghe Phạm Thuần Nhân giải thích mới nguôi giận, quát lên: “Tô Triệt vào đây!” Tô Triệt từ trong sân trở vào điện, không dám đứng ở chỗ cũ mà quỳ sau hết thảy quần thần, lên tiếng: “Hạ thần biết mình đắc tội với bệ hạ, xin nhận trách phạt.”
Hôm sau, có chiếu chỉ giáng chức Tô Triệt làm Đoan Minh Điện Học Sĩ kiêm Tri châu Nhữ Châu, biệt phái tể tướng đi làm một quan châu nho nhỏ.
*****
Nguồn: truyenkimdung


