Sau khi giết nghĩa huynh, ba người đi hành thích tên Hán gian, nhưng vì hắn phòng bị cẩn mật nên nhiều lần hành thích đều không thành. Rồi câu chuyện họ vì đại nghĩa mà giết nghĩa huynh lan truyền trong giang hồ. Các anh hùng hảo hán trong võ lâm nghe chuyện đều giơ ngón tay cái lên tán thưởng: “Giết là phải!”. Tin tức ấy dần dần đồn đại tới quê nhà của vị nghĩa huynh. Con trai vị nghĩa huynh vô cùng đau buồn, bèn tìm đến Côn Minh để báo thù cho cha.
Ðào Bách Tuế tiếp lời nói luôn:
– Người con ấy không đúng rồi. Tuy mối thù giết cha là bất cộng đái thiên, nhưng cha mình đã làm điều gian ác, ai cũng có quyền trừ khử. Không nên báo thù mới phải.
Miêu Nhược Lan nói:
– Hồi trước gia phụ cũng bảo thế. Nhưng ý nghĩ của người con thì không như vậy. Người con tìm đến Côn Minh, ít lâu sau tìm thấy ba người kia trong một cái miếu hoang, bèn động thủ. Võ công của người con được chân truyền của cha, quả nhiên cả ba người đều không đáng là đối thủ. Đấu chưa đầy nửa canh giờ, họ đều lần lượt bị hạ. Người con của vị nghĩa huynh nói:
– Ba vị thúc thúc! Gia phụ đã nhẫn nhục, cam chịu mang tiếng là kẻ bán chúa cầu vinh, ba vị sao hiểu được ý nghĩa sâu xa trong đó? Vì tình kết nghĩa với gia phụ năm xưa, hôm nay tiểu điệt tha mạng cho ba vị! Hãy mau về nhà mà lo liệu hậu sự. Ngày rằm tháng ba sang năm là ngày giỗ gia phụ, tiểu diệt sẽ đến nhà bái phỏng ba vị.
Nói đoạn, y đoạt lấy thanh quân đao của vị đại anh hùng rồi ngang nhiên bỏ đi.
Lúc ấy là khoảng giữa đông trời giá rét căm căm, ba người lập tức đi ngược về bắc, tụ tập gia quyến cả ba nhà ở một nơi và kể tường tận chuyện đổ máu trên thuyền cho mọi ngươì nghe. Mọi người đều bảo:
– Hắn đã sát hại đại anh hùng, bảo vệ cho tên Hán gian, làm đại quan dưới trướng lũ dị tộc thì liệu còn có thâm ý gì nữa? Con trai hắn xảo trá nói cứng thế thôi, ai mà tin được.
Bạn hữu giang hồ nghe tin, đều kéo đến rất đông, vì nghĩa mà tương trợ.
Quả nhiên, vào tối ngày rằm tháng ba năm sau, người con trai đó đơn độc đến thật.
Mọi người chăm chăm nhìn Miêu Nhược Lan, chờ nàng kể tiếp, thì thấy tiểu nha hoàn Cẩm Nhi bước tới, tay bưng một lò than bằng đồng bạch được ủ trong cái giỏ bằng gấm, đặt vào lòng chủ nhân.
Miêu Nhược Lan nhỏ nhẹ nói:
– Hãy châm hương đi!
Cầm Nhi vâng dạ, lát sau lại bưng ra một lư hương bằng bạch ngọc, đặt bên cạnh chủ nhân. Một làn khói xanh nhè nhẹ toả ra từ mỏ chim phượng hoàng chạm trổ trên nắp lư hương. Mọi người ngửi thấy một mùi thơm dìu dịu, từa tựa mùi hương của hoa lan, lại thoảng như mùi xạ hương, thật dễ chịu khoan khoái vô cùng.
Miêu Nhược Lan nói:
– Lúc nào ta ở một mình trong phòng thì mới châm thứ hương này chứ. Ở đây có đông người, sao lại châm loại này?
Cầm Nhi cười, thưa lại:
– Tỳ nữ thật hồ đồ quá.
Rồi bưng lư hương vào đổi thứ hương khác.
Miêu Nhược Lan lại bảo:
– Chỗ này gió Bắc thổi tới, tuy phía Bắc gian nhà không trổ cửa sổ, nhưng gió trên đỉnh núi rất mạnh, thế nào cũng lọt vào. Ngươi nhìn xem lư hương đã đặt đúng chỗ chưa nào?
Cầm Nhi lại cười, bưng cả cái kỉ nhỏ cùng với lư hương đặt vào góc phía tây bắc gian nhà, pha cho tiểu thư một chén trà nóng rồi mới lui ra.
Mọi người đều nghĩ:
– Kim Diện Phật Miêu Nhân Phượng là một đại hiệp lừng danh cái thế mà lại cưng chiều con gái đến mức này ư?
Miêu Nhược Lan chậm rãi bưng chén trà lên, mở nắp, ngắm nhìn những lá chè và cánh hoa hồng trong chén trà, nhấp một ngụm nhỏ rồi từ từ đặt xuống. Mọi người đang muốn nghe nàng kể chuyện tiếp, nhưng chẳng ngờ nàng lại nói:
– Tiểu nữ hơi bị nhức đầu, muốn vào trong nghỉ ngơi một lát. Mong các vị bá bá, thúc thúc hãy thư thả ngồi.
Nói rồi nàng đứng lên đi vào nhà trong.
Mọi người ngớ ra nhìn nhau. Tào Vân Kỳ là người đầu tiên không nhịn nổi, định phát tác thì Ðiền Thanh Văn đưa mắt ra hiệu. Tào Vân Kỳ toan nói câu gì đó nhưng đành kìm lại. Miêu Nhược Lan vào trong không bao lâu, lại ra ngay. Chỉ thấy nàng thay chiếc áo da màu lục nhạt, một váy gấp nhiều nếp vàng sáng, và đã rửa sạch lớp phấn xoa trên mặt lúc mới lên núi, trông càng thêm trang nhã hồn nhiên. Thì ra nàng chẳng nhức đầu gì cả, mà chỉ vào để thay y phục và rửa mặt thôi. Cầm Nhi đi theo sau, tay cầm một đệm bằng da chồn màu ánh bạc đặt lên ghế.
Miêu Nhược Lan nhẹ nhàng ngồi xuống, lúc này mới hé môi hồng, thấp thoáng hàm răng ngà, chậm rãi nói tiếp:
– Tối hôm đó, nhà người giả dạng đại phu đang mở tiệc lớn, mời hơn một trăm anh hùng hào kiệt trên giang hồ đến dự, cùng đợi người con của vị nghĩa huynh kết nghĩa năm xưa đến. Ðợi đến giữa canh một, chỉ nghe “xịch” một tiếng, tiệc trong nhà bỗng có thêm một người. Trong đại sảnh có biết bao cao thủ, thế mà không một ai nhìn rõ người ấy vào như thế nào. Chỉ thấy người ấy khoảng trên dưới hai mươi tuổi, thân mặc áo vải gai thô, đội mũ trắng, tay cầm một cái gậy đưa tang, lưng cài chéo một thanh đao. Y không để mắt đến ai, chỉ chăm chú nhìn đại phu, người ăn mày, người phu xe và nói:
– Ba vị thúc thúc, xin tìm một chỗ vắng vẻ để chúng ta nói chuyện!
Ba người nọ chưa trả lời, thì một vị thuộc tiền bối phái Nga Mi đã la lên:
– Nam tử hán đại trượng phu có gì cần thì cứ nói luôn, hà tất phải thậm thà thậm thụt như thế? Cha mi đã bán chúa cầu vinh, ta thấy chắc mi cũng chẳng tử tế gì, hẳn là định giở trò gì đây. Ba vị đại ca chớ có mắc lừa tên tiểu tặc này.
Bỗng tiếng “Bốp bốp…” sáu tiếng liên tiếp, mặt vị tiền bối nọ đã bị tát liền sáu cái nổ đom đóm, ụa một cái miệng hộc máu tươi, có tới chục cái răng rơi xuống đất.
Đám quần hào trong tiệc đều đứng phắt dậy, sửng sốt một hồi, hơn một trăm người trong đại sảnh đều im phăng phắc, thầm nghĩ: “Thân pháp gã sao mà thần tốc quá vậy?”.
Vị tiền bối phái Nga Mi bị đánh đòn nặng, sợ quá không thốt được nửa lời. Trước lúc người con trai kia tát lão, không một ai thấy rõ, khi y trở về chỗ ngồi cũng nhanh như điện. Chỉ một chớp mắt vừa đi vừa về mà dường như y không hề di chuyển. Ba vị công công nọ đã trải qua mấy chục năm ăn ở cùng một nơi với phụ thân của y, biết ngay đó là tuyệt kỹ khinh công gia truyền gọi là “Phi Thiên Thần Hành”. Có điều sóng sau đè sóng trước, nên dường như con còn siêu phàm hơn cả cha.
Chàng trẻ tuổi nói:
– Ba vị thúc thúc! Nếu như tiểu diệt muốn sát hại ba vị thì hôm ở Côn Minh trong ngôi cổ miếu sao lại không ra tay ngay? Bây giờ tiểu diệt có mấy lời quan trọng muốn nói, không tiện để cho người ngoài nghe.
Ba người nghĩ thấy có lý. Người giả dạng đại phu bèn dẫn y vào một gian phòng nhỏ ở nhà trong. Hơn trăm anh hùng hảo hán trong đại sảnh đều ngừng bữa rượu, nhìn nhau, và lắng tai nghe ngóng động tĩnh ở nhà trong.
Sau thời gian chừng ăn xong bữa cơm, cả bốn người cùng ra. Vị giả dạng đại phu vái chào quần hào khắp lượt, nói:
– Xin đa tạ các vị đã quang lâm, như vậy đủ thấy nghĩa khí giang hồ.
Mọi người chưa kịp đáp lễ, đã thấy y hoành đao cứa cổ tự vẫn. Quần hùng ai nấy đều sửng sốt, đang muốn chạy tới cứu thì thấy tiếp đó hai vị đóng giả ăn mày và phu xe kia cũng vung đao lần lượt tự vẫn. Sự việc diễn ra quá đột ngột, tuy trong đám khách khứa có rất nhiều cao thủ nhưng không ai kịp ra tay ngăn cản.
Người con trai của vị nghĩa huynh nọ quỳ lạy ba thi thể mấy lạy, nhặt thanh đoản đao mà ba người dùng để tự vẫn rồi nhảy vọt lên nóc nhà. Mọi người hét lớn: “Gian tặc chớ chạy trốn!” rồi ùn ùn nhảy lên đuổi theo. Nhưng y đã không còn tung tích.
Các con của ba người ôm lấy xác cha kêu khóc ầm ĩ. Các hào kiệt thăm hỏi nô bộc gia thuộc của ba nhà nhưng không một ai biết bốn người họ đã nói những gì trong gian phòng kín. Lại càng không hiểu người con trai kia đã dùng gian kế gì để đến nỗi cả ba người đều phải tự sát. Quần hùng nhìn thi thể ba người nằm vật trên đất đều căm giận, thề sẽ báo thù cho ba người.
Có điều từ đó chẳng còn vết tích gì của người con trai nọ, không biết y đã ẩn náu ở nơi nào. Các con của ba vị đều được quần hào nuôi dạy khôn lớn, vì họ đều xót xa thương cảm cho cha họ đã vì chủ mà báo thù, để đến nỗi rơi vào thảm cảnh đau lòng, nên ai cũng tận tình dạy dỗ.
Con cái của ba vị này vốn đã được học võ công gia truyền do người cha truyền dạy, đều có sẵn căn cơ, lại được các minh sư chỉ điểm nên sau này đều đúc kết được những cái hay của các môn phái rồi tự lập nên phái nổi tiếng riêng.
Kể đến đây, Miêu Nhược Lan nhè nhẹ thở dài than rằng:
– Võ công của họ càng cao bao nhiêu thì ý chí báo thù càng mãnh liệt bấy nhiêu. Luyện võ công rốt cuộc là phúc hay họa, quả thực tiểu nữ cũng không biết nữa.
Bảo Thụ thấy Miêu Nhược Lan đăm đăm nhìn ngọn lửa, còn mọi người thì sốt ruột muốn nghe nốt đoạn sau, bèn nói:
– Câu chuyện do Miêu cô nương kể thật là cảm động. Tuy cô nương không nói rõ họ tên, nhưng các vị cũng đều biết người nghĩa huynh trong câu chuyện là vệ sĩ số một của Sấm Vương, họ Hồ, tức là Phi Thiên Hồ Ly. Còn vị giả dạng phu xe là họ Miêu; vị giả dạng ăn mày là họ Phạm; vị giả dạng đại phu là họ Ðiền. Hậu nhân của ba nhà sau khi học được tuyệt kỹ, mỗi nhà dựng riêng một ngọn cờ. Võ công nhà họ Miêu, gọi là Miêu gia kiếm; họ Phạm sau trở thành đầu lĩnh của Hưng Hán Cái Bang; nhà họ Ðiền sau này lập ra Thiên Long môn.
Bọn Nguyễn Sĩ Trung và Ân Cát tuy là bậc tiền bối của Thiên Long môn, nhưng mãi tới lúc này mới biết rõ về lai lịch của bản môn, hai người bất giác cảm thấy xấu hổ .
Bảo Thụ nói tiếp:
– Lớp con cháu nỗi dõi của ba nhà họ Miêu, Phạm, Ðiền hai mươi năm sau đã tìm được con trai của vị nghĩa huynh họ Hồ kia. Lúc ấy, chàng đang ốm nặng, bị bộ ba này bức ép đến phải tự sát. Từ đó, lớp con cháu của bốn nhà này cứ truyền đời báo thù. Hơn trăm năm nay, không một hậu duệ nào của bốn họ này được sống đến già cả. Lão nạp cũng đã từng chứng kiến một trận ác đấu khủng khiếp của đám hậu thế bốn nhà đó.
Miêu Nhược Lan ngẩng đầu nhìn Bảo Thụ, nói:
– Đại sư, tiểu nữ đã được biết chuyện đó. Đại sư đừng kể làm gì.
Bảo Thụ nói:
– Nhưng các vị ngồi đây thì chưa biết. Cô nương hãy kể cho bọn họ nghe đi.
Miêu Nhược Lan lắc đầu, nói:
– Năm ấy gia phụ kể chuyện về bốn vị công công xong, lại kể tiếp một câu chuyện nữa. Gia phụ bảo rằng vì câu chuyện đó mà lão nhân gia buộc phải giết một người, nên cần phải đem kiếm ra mài cho sắc. Có điều là câu chuyện này bi thảm quá. Hễ cứ nghĩ đến là tiểu nữ cảm thấy khó chịu. Tiểu nữ vẫn mong giá mà gia phụ đừng kể cho mình nghe thì hơn.
Nàng trầm ngâm một lát, rồi nói tiếp:
– Chuyện ấy xảy từ mười năm trước khi tiểu nữ ra đời. Không rõ đứa trẻ đáng thương ấy bây giờ ra sao, tiểu nữ thực lòng mong nó được sống yên ổn…
Mọi người nhìn nhau, đều không hiểu “đứa bé đáng thương” đó là ai, có liên quan tới câu chuyện vừa kể?
Mọi người đều ngóng nhìn Miêu Nhược Lan, rồi lại nhìn Bảo Thụ, chờ xem ai trong hai người sẽ giải tỏa cho họ nỗi thắc mắc.
Bỗng một người đầy tớ đứng hầu nói:
– Tiểu thư có lòng tốt như thế, hẳn sẽ được báo đáp. Mong rằng đứa trẻ đáng thương vẫn sống bình an.
Giọng nói của người ấy nghẹn ngào. Mọi người đều ngoái đầu nhìn, thấy người ấy tóc bạc lòa xòa, tuổi đã cao, mất một cánh tay phải, dùng tay trái bưng khay trà, có một vết sẹo to do bị đao chém chạy từ lông mày bên phải qua mũi xuống tới mép miệng trái. Mọi người nghĩ thầm:
– Người này đã từng bị thương nặng thế mà vẫn sống được, thực không dễ gì.
Miêu Nhược Lan than, nói:
– Sau khi nghe gia phụ kể câu chuyện ấy, tiểu nữ vẫn thường thầm cầu xin ông Trời phù hộ đứa trẻ ấy được trưởng thành bình an. Nhưng tiểu nữ mong người ấy đừng học võ giống như tiểu nữ bây giờ, một chút võ nghệ cũng không biết mới tốt.
Mọi người đều ngớ người ra, lấy làm lạ, tự hỏi:
– Nhìn nàng dáng vẻ cao nhã thanh tú như thế, còn tự nói ra là không biết võ nghệ gì chắc là đúng rồi. Nhưng nàng là ái nữ của Kim Diện Phật Miêu đại hiệp đánh khắp thiên hạ không địch thủ kia mà, lẽ nào phụ thân nàng lại không truyền cho một vài tuyệt kỹ?
Nhìn vẻ mặt mọi người, Miêu Nhược Lan hiểu được họ đang nghĩ gì, bèn nói:
– Gia phụ bảo rằng, hơn một trăm năm nay, con cháu bốn họ Hồ, Miêu, Phạm, Ðiền oan oan tương báo, không có đời nào được sống yên ổn đến gìa cả. Bất cứ ai dù có võ công cao cường đến đâu đi nữa, suốt đời nếu không phải mãi bận rộn đi giết người để báo thù thì cũng phải luôn đề phòng đối phương đến báo thù. Trong một năm khó có được vài tháng ăn no ngủ yên. Cho dù có sống được bảy tám mươi tuổi đi nữa cũng có ngày bị đối phương đến chém chết để báo thù. Thế đó, luyện võ công không những không thể phòng thân mà trái lại, còn rước thêm họa. Cho nên gia phụ lập ra một điều gia huấn là, kể từ gia phụ trở về sau, con cháu nhà họ Miêu không được học võ công nữa. Gia phụ cũng nhất quyết không thu nhận một đồ đệ nào. Gia phụ còn nói rằng nếu như lão nhân gia bị kẻ thù giết hại, con cháu nhà họ Miêu không biết võ nghệ gì, đương nhiên sẽ không có cách gì báo thù cho ông. Thế là những khoản nợ máu chồng chất ngày một cao, các mối oan nghiệt chồng chéo ngày càng rối răm của hơn trăm năm nay cũng theo đó mà được tiêu tan xoá sạch.
Bảo Thụ chắp hai tay, nói:
– Thiện tai! Thiện tai! Miêu đại hiệp có thể giác ngộ thấu triệt đến như vậy, cam lòng để cho Miêu gia kiếm pháp cái thế vô song tuyệt đến đời y không còn người kế thừa nữa. Việc này tuy là một tổn thất lớn lao của võ lâm, nhưng cũng là một việc thiện to tát.
Miêu Nhược Lan thấy ánh mắt của người đầy tớ mặt sẹo phát ra tia sáng khác thường thì cảm thấy hơi lạ lùng, nàng nói với Bảo Thụ:
– Tiểu nữ xin phép vào trong nghỉ một lát. Xin lỗi đại sư và các vị bá bá, thúc thúc.
Nói rồi nàng vái chào, lui vào nhà trong.
Bảo Thụ nói:
– Miêu cô nương có tấm lòng nhân ái, không muốn ngồi nghe câu chuyện bất nhẫn này, nên có ý lánh mặt. Lão nạp sẽ kể chuyện này để hầu các vị.
Hôm nay, từ sáng sớm tới lúc này chỉ mới là vài canh giờ, chưa quá giờ Ngọ, nhưng mọi người đã trải qua bao sự việc li kỳ, trong lòng còn biết bao điều thắc mắc, ai nấy đều nóng lòng muốn rõ chân tướng câu chuyện.
Thế là Bảo Thụ kể:
– Từ sau khi bốn đại vệ sĩ của Sấm Vương tàn sát lẫn nhau thì con cháu bốn nhà không ngừng xung đột suốt hơn một trăm năm. Có điều là vì nhà họ Hồ bán chúa cầu vinh nên bị các đồng đạo võ lâm ruồng bỏ; cho nên mỗi lần giao chiến nhà họ Hồ đều bị cô lập, phần nhiều ở thế hạ phong. Tuy nhiên, võ công gia truyền của nhà họ Hồ vẫn tỏ ra vô cùng lợi hại. Cứ cách chừng ba bốn chục năm, Hồ gia thế nào cũng xuất hiện một vài hậu nhân kiệt xuất để báo thù cho tổ tiên. Bất luận là thắng hay thua, các cuộc đọ sức đều là cảnh gió tanh mưa máu rất hãi hùng.
Còn ba nhà họ Miêu, Phạm, Ðiền tuy người đông lực mạnh, lại được đồng đạo võ lâm trợ giúp, nhưng vẫn không sao phòng bị được, vì con cháu họ Hồ thường bí mật tập kích bất ngờ. Đến năm đầu đời vua Ung Chính, ba nhà họ Miêu, Phạm, Ðiền lại vì tranh giành quyền giữ thanh quân đao của Sấm Vương mà xảy ra tranh chấp. Chuyện này vừa khéo vào lúc nhà họ Hồ xuất hiện hai huynh đệ có võ công cực cao cường. Chỉ trong chớp mắt, họ đã hạ mười mấy cao thủ của cả ba nhà. Ba nhà hoảng lên, cử nhà họ Ðiền ra mặt mời các cao thủ giang hồ cùng hợp sức mới giết được hai huynh đệ họ Hồ nọ. Năm ấy, các anh hùng hào kiệt khắp đại giang Nam Bắc tụ hội về Lạc Dương, lập lời thề kết thành liên minh. Từ đó, thanh quân đao của Sấm Vương do họ Ðiền phái Thiên Long môn nắm giữ, nếu còn xảy ra chuyện hậu nhân của nhà họ Hồ đến tầm thù thì họ Ðiền phái Thiên Long môn sẽ dùng thanh quân đao này hiệu triệu các hảo hán giang hồ cùng chung sức đối phó. Anh hùng thiên hạ chỉ cần thấy thanh quân đao thì dẫu đang bận việc lớn thế nào cũng phải gác lại, để đáp ứng lời hiệu triệu khuông phò chính nghĩa.
Việc này xảy ra đã lâu, người đời sau cũng đã dần quên lãng. Chỉ riêng chưởng môn Thiên Long môn vẫn rất xem trọng thanh bảo đao này. Nghe nói về sau Thiên Long môn chia làm hai phái Nam tông và Bắc tông, mỗi phái sẽ lần lượt thay nhau giữ thanh bảo đao mười năm. Nguyễn sư huynh, Ân sư huynh, lão nạp kể có đúng không?
Cả hai đồng thanh đáp:
– Ðại sư kể không sai!
Bảo Thụ cười:
– Chuyện xảy ra đã nhiều năm. Môn đệ của Thiên Long môn tuy đều biết thanh đao này là bảo vật trấn môn của bản phái, nhưng lai lịch của nó thế nào thì rất hiếm ai tìm hiểu. Chuyện đã quá xưa rồi, kể ra cũng khó trách. Có điều lão nạp có chỗ chưa rõ, muốn thỉnh giáo Tào sư huynh.
Tào Vân Kỳ nói lớn:
– Chuyện gì vậy?
– Lão nạp nghe người ta nói mỗi khi chưởng môn cũ bàn giao chức cho chưởng môn mới đều nói rõ lai lịch của thanh đao này cho người kế tục biết. Vậy sao Tào sư huynh được vinh hạnh làm chưởng môn rồi mà vẫn không biết? Chẳng lẽ lão chưởng môn Ðiền Quy Nông đã quên mất môn quy này ư?
Tào Vân Kỳ mặt đỏ bừng, định nói điều gì đó, nhưng Ðiền Thanh Văn đã đỡ lời, nói:
– Môn phái tiểu nữ thật là bất hạnh, tiên phụ qua đời đột ngột nên không kịp nói tường tận cho Tào sư huynh biết.
Bảo Thụ nói:
– Thế là rõ rồi. Ôi! Thế là lão nạp đã hai lần được nhìn thấy thanh bảo đao này. Lần đầu thấy tính ra đã hai bảy năm rồi còn gì!
Ðiền Thanh Văn nhẩm tính: “Miêu cô nương chừng mười bảy mười tám tuổi. Nàng nói câu chuyện bi thảm xảy ra trước khi nàng ra đời mười năm, thế thì đúng là hai mươi bảy năm về trước. Vậy việc hòa thượng này nhìn thấy thanh đao lần đầu xem ra có liên quan tới câu chuyện mà Miêu cô nương nói”.
Mọi người lại nghe Bảo Thụ kể tiếp:
– Lúc bấy giờ, lão nạp vẫn chưa xuất gia, đang làm thầy lang mưu sống ở một tiểu trấn miền quê huyện Trực Lệ, Thương Châu. Dân Thương Châu vốn ham chuộng võ nghệ, phần lớn các con em họ lúc nhỏ đều học qua vài đường quyền cước. Bấy giờ, lão nạp làm thầy lang chuyên về trật trả ngoại thương, cũng từng học qua chút võ nghệ. Cái tiểu trấn ấy là một nơi đèo heo hút gió, chỉ có chừng năm sáu trăm cư dân. Lão nạp dựa vào nghề thuốc gắng gượng sống qua ngày, thân mình còn không lo nổi nói gì đến việc lấy vợ sinh con.
Tháng chạp năm ấy, ngày nọ lão nạp vừa húp xong ba bát cháo nguội rồi đi ngủ. Ðang lúc nằm mơ thấy mình phát tài, con mẹ nó, sắp lấy một cô vợ đẹp như tiên thì mẹ kiếp, bỗng nghe tiếng đập cửa ầm ầm.
Bên ngoài, gió bấc đang thổi mạnh, giường lò của lão nạp đã tắt lửa từ lâu, vớ chân thì mỏng tanh, thật tình không muốn dậy tí nào. Giấc mơ đẹp đẽ đó bị người kia đánh thức, lại càng thêm cụt hứng. Nhưng tiếng đập cửa mỗi lúc một dữ dội hơn, có tiếng người gọi to: “Đại phu, đại phu”.
Người này nói giọng Quan Tây, không phải người địa phương. Xem chừng nếu không mở cửa thì người ấy cũng phá cửa mà vào! Lão nạp không biết đã xảy ra chuyện gì, vội khoác áo vùng dậy. Vừa nhấc then cửa thì ầm một tiếng, người ấy cũng gắng sức đẩy cửa vào. Nếu không nhanh nép sang một bên, chắc trán của lão nạp đã bị cánh cửa đập cho sưng vù. Ánh lửa bập bùng, một hán tử tay cầm bó đuốc xộc vào, la lớn:” Đại phu, xin đại phu đi mau”.
Lão nạp hỏi lại: “Có việc gì vậy? Lão huynh là ai?”. Người kia đáp: “Có người ốm nặng, nguy kịch lắm!”. Hắn không trả lời câu hỏi thứ hai của lão nạp, vung tay trái ra, “kịch” một tiếng, ném lên bàn một đĩnh bạc lớn. Ðĩnh bạc ấy nặng tới hai mươi lạng là ít! Lão nạp chữa bệnh nơi thôn quê, nhiều lắm cũng chỉ chừng vài chục hay vài trăm tiền là cùng, đã bao giờ được trả đĩnh bạc ròng hai chục lạng như thế này bao giờ đâu! Trong bụng vừa kinh ngạc, vừa mừng vội nhận ngay đĩnh bạc, mặc quần áo xỏ giầy. Hán tử nọ giục luôn miệng. Vừa mặc áo quần, lão nạp vừa quan sát tướng mạo của hắn, thấy nét mặt rắn rỏi, có vẻ con nhà giàu có, có điều mặt đượm vẻ buồn rầu.
Người ấy không đợi lão nạp cài xong nút áo, một tay xách hòm thuốc giúp lão nạp, một tay lôi lão nạp đi luôn. Lão nạp nói: “Chờ tại hạ khoá cửa đã”. Y bảo ngay: “Sợ mất trộm à? Ta đền hết cho!”. Nói rồi kéo lão nạp đi gấp đến khách điếm Bình An. Ðó là khách điếm duy nhất ở tiểu trấn này, chuyên cho những người đánh xe, phu kéo xe trên đường xuôi ngược Bắc Kinh ngủ trọ. Khách điếm tuy không phải là nhỏ, nhưng các phòng tối và bẩn lắm. Lão nạp nghĩ thầm, người này có vẻ khá giả sao lại vào nơi này nghỉ trọ? Chưa kịp nghĩ ngợi gì thêm thì y đã lôi lão nạp vào khách điếm. Ở đây thắp nến sáng trưng, có năm hán tử đang ngồi chờ. Y nói: “Đại phu đến rồi đây!”. Mọi người mừng rỡ ra mặt, đưa lão nạp vào gian chái phía đông.
Vừa bước vào, lão nạp giật thót người, thấy trên giường lò nằm sõng soài bốn người, khắp mình bê bết máu. Lão nạp bảo hán tử nọ cắm nến lại soi cho rõ, thấy cả bốn người đều bị thương nặng. Có người bị chém vào mặt, có người bị chặt đứt tay. Lão nạp hỏi:
– Sao đến nỗi bị thương nặng như thế này? Có phải bị bọn giặc cướp tấn công không?
Hán tử nọ nhiêm giọng:
– Đại phu mau trị thương đi, chúng ta sẽ hậu tạ. Nhưng không được hỏi han lôi thôi!
Lão nạp thầm nghĩ: “Cái tên này gớm nhỉ! Làm gì mà dữ thế?”. Nhưng thấy bọn họ ai cũng dữ dằn, người lại giắt binh khí, lão nạp không dám hỏi han gì nữa, chỉ đắp thuốc cầm máu, trị thương băng bó cho bốn người họ một cách chu đáo.
Hán tử nọ nói “Còn ở bên này nữa”, rồi dẫn lão nạp đi sang chái nhà phía tây, trên chiếc giường lò cũng có ba người bị thương nằm. Các vết thương đều là mới bị chém cả, lão nạp lại đắp thuốc cầm máu, còn cho họ uống thang thuốc để an thần và giảm đau. Cả bảy người bị thương đều lần lượt ngủ thiếp đi.
Mấy hán tử thấy lão nạp chữa trị có hiệu quả, bấy giờ mới đối xử với lão nạp có phần lễ phép hơn, không hung hãn như lúc đầu. Bọn họ bảo tiểu nhị của khách điếm lấy tấm ván cửa kê thành giường cho lão nạp nằm ở chái phía đông, phòng khi các vết thương có biến chứng gì, thì kịp thời điều trị.
Ngủ đến lúc gà gáy sáng, nghe bên ngoài có tiếng vó ngựa chạy đến trước khách điếm. Mấy hán tử cùng vùng dậy chạy ra đón. Lão nạp cứ vờ ngủ, hé mắt nhìn trộm, thấy có hai người vào. Một người ăn mặc như kẻ ăn mày, đôi mắt sáng quắc có thần; còn người kia khuôn mặt thanh tú, còn trẻ. Hai người ấy lại gần giường lò thăm những người bị thương. Những người bị thương cố nhịn đau gượng ngồi dậy, tỏ ra rất cung kính với hai người này. Lão nạp nghe họ gọi người ăn mày là Phạm bang chủ, gọi người trẻ tuổi kia là Ðiền tướng công.
Bảo Thụ nói đến đây, ngừng lại một lát, rồi nói với Ðiền Thanh Văn:
– Khi lão nạp lần đầu trông thấy lệnh tôn, thì cô nương vẫn chưa chào đời đâu! Lệnh tôn là người rất tinh minh. Dáng vẻ quyết đoán, tháo vát của lệnh tôn sáng sớm hôm đó, cho tới nay vẫn hiện rõ mồn một trước mắt lão nạp.
Ðiền Thanh Văn đôi mắt đỏ hoe, hơi cúi đầu xuống. Bảo Thụ nói tiếp:
– Một trong những người không bị thương khẽ nói: “Phạm bang chủ, Ðiền tướng công! Trương gia huynh đệ từ quan ngoại đã bám sát đôi vợ chồng họ đi xuống miền nam, đã điều tra chính xác cái hộp sắt đúng là đang ở trong người họ”.
Mọi người nghe ba tiếng “cái hộp sắt” đều nhìn nhau, thầm nghĩ “Lão nói vào vấn đề chính rồi đây”.
Bảo Thụ tiếp tục kể:
– Phạm bang chủ gật đầu. Người kia nói thêm: “Bọn tại hạ đợi ở đồn Ðường Quan để tiếp ứng, cử người về đưa tin cho hai vị và Kim Diện Phật Miêu đại hiệp. Không ngờ bị họ phát hiện. Một mình hắn đứng chặn đường, nói: “Ta và các ngươi chưa hề quen biết, sao cứ bám theo ta suốt dọc đường thế? Các ngươi do ba nhà Miêu, Phạm, Ðiền sai đi phải không?”. Trương đại ca đáp: “Ngươi biết thế là hay lắm!”. Hắn hơi sầm nét mặt, vung tay đoạt luôn đao của Trương đại ca, bẻ làm đôi ném xuống đất, rồi nói: “Ta không muốn giết nhiều người đâu, mau cút đi!”. Bọn tại hạ thấy hắn xuất thủ quá lợi hại, bèn xông cả vào. Trương đại ca tung cước luôn vào bụng đang mang thai của vợ hắn. Hắn nổi điên, la lớn: “Ta vốn định tha cho lũ bọn bay, mà lũ bọn bay vô lễ quá thể!”. Nói rồi vung tay đoạt luôn một thanh đao, chém bị thương một loạt bảy người bọn tại hạ.
Ðiền tướng công nói: “Hắn còn nói gì nữa không?”. Hán tử nọ trả lời: “Lẽ ra hắn còn định đâm chém nữa, nhưng vợ hắn ngồi trong xe kêu to: “Thôi đi! Chàng không tích đức cho đứa con sắp chào đời à ?”. Thế là hắn cười ha hả, vung hai tay một cái bẻ gãy thanh đao”.
Ðiền tướng công đưa mắt nhìn Phạm bang chủ, rồi hỏi tiếp: “Ngươi thấy rõ đấy chứ? Có đúng là hắn dùng tay bẻ gãy đao không?”. Hán tử nọ trả lời: “Vâng, lúc ấy tiểu nhân đứng ngay bên cạnh hắn, thấy rõ lắm”.
Ðiền tướng quân “ờ” một tiếng rồi ngẩng lên nghĩ ngợi. Phạm bang chủ nói: “Hiền đệ chớ lo. Miêu đại hiệp nhất định sẽ đối phó được với hắn”.
Hán tử kia lại nói thêm: “Hắn đi Giang Nam, nhất định phải đi qua đây. Hai vị chặn ở đây, hắn làm sao trốn thoát được?”. Lúc này vẻ mặt của hai người Phạm, Ðiền đều nghiêm trọng, khẽ bàn bạc một hồi, rồi từ từ đi ra.
Lão nạp đợi bọn họ đi rồi mới giả vờ tỉnh ngủ, trở dậy đắp thuốc thay băng cho mấy người bị thương, tự hỏi rằng không biết nhân vật bị theo dõi kia là ai? Người ấy rõ ràng đã hạ thủ nương tình, nên bảy người tuy bị thương nặng nhưng không nguy hiểm đến tính mạng.
Tối hôm đó, mọi người đang ăn cơm ở gian chính của khách điếm thì một hán tử chạy vào nói to: “Ðến rồi”. Ai nấy mặt đều biến sắc, buông bát đũa, rút binh khí ra, chạy ào ra ngoài. Lão nạp lặng lẽ đi theo phía sau, trong bụng sợ lắm nhưng cũng muốn xem náo nhiệt cho biết.
Trên đường cái cát bụi bay mịt mù, một cỗ xe lớn đang phóng tới. Hai vị Phạm, Ðiền dẫn mọi người xông ra. Lão nạp đi sau cùng. Cỗ xe lớn phóng tới trước mặt mọi người thì dừng lại. Phạm bang chủ hô lớn: “Họ Hồ ra đây!”. Trong xe, có tiếng người nói vọng ra qua tấm rèm che: “Bọn ăn mày đến xin tiền phải không? Ðược! Cho mỗi tên một đồng!”. Rồi thấy ánh vàng lấp loáng liên tiếp, đám người kia la ơi ới rồi lần lượt té ngã.
Hai vị Phạm, Ðiền võ công cao cường nên không bị ngã, nhưng cổ tay vẫn bị trúng phi tiêu kim tiền nên đều tê bại cánh tay để rơi gậy và kiếm xuống đất. Ðiền tướng công vội kêu lên: “Phạm đại ca! Chạy thôi!”.
Thân thủ của Phạm bang chủ lanh lẹ, cúi mình nhặt cây gậy lên, rồi vụt chạy nhanh như gió đến bên những người bị ngã định giải huyệt đạo cho họ. Lão nạp lúc học trị thương trật đả, sư phụ đã dạy qua ba mươi sáu đại huyệt trên thân thể, nên khi Phạm bang chủ đưa tay giải huyệt, lão nạp cũng hiểu đôi chút. Nhưng không ngờ, Phạm bang chủ ấn đi ấn lại hồi lâu, mà những người bị ngã vẫn không cục cựa gì được!
Người ngồi trong xe cười nói vọng ra:
– Thôi được! Cho một đồng chưa đủ, vậy cho thêm đồng nữa này!
Thế là lại thêm mười mấy đồng tiền nữa nối tiếp nhau ném ra. Số người bị trúng huyệt lúc nãy bỗng cử động được chân tay, lục đục đứng lên.
Ðiền tướng công hoành kiếm che người, gọi to:
– Họ Hồ kia! Hôm nay bọn ta đành chịu lép. Nếu có gan thì chớ có trốn.
Người trong xe không đáp, nhưng nghe “vù” một tiếng, một đồng tiền nữa từ trong xe bắn mạnh ra, trúng vào mũi kiếm trong tay Ðiền tướng công, đánh “keng” một tiếng, thanh kiếm bật ra xa cắm phật xuống đất. Ðiền tướng công đưa bàn tay phải cầm kiếm lên nhìn, thấy máu tuôn ra ở hổ khẩu.
Thấy kẻ địch quá lợi hại như thế, Ðiền tướng công thất sắc, vẫy tay ra hiệu, cùng với Phạm bang chủ dẫn mọi người trở về khách điếm, rồi cõng bảy người bị thương kia cùng lên ngựa chạy xuôi về phía nam. Trước khi đi Ðiền tướng công còn cho lão nạp hai mươi lạng bạc. Lão nạp thấy y tử tế như vậy thì xác định đó là một bậc quân tử hào hiệp, và thầm nghĩ:
– Kẻ ngồi trên xe kia chắc chắn là một tên xấu xa vô cùng hung ác. Nếu không thì sao hắn lại kết oán với một người tốt như Ðiền tướng công?
Lão nạp đang tính về nhà thì thấy chiếc xe lúc nãy phóng tới dừng lại trước cửa khách điếm. Lão nạp tò mò, muốn nhìn thử xem tên xấu xa đó mặt mũi ra sao, nên nấp ngay vào sau quầy rượu của khách điếm nhìn ra cửa xe.
Rém xe vén lên, một hán tử bước xuống. Vẻ mặt hắn thật hung dữ, da mặt đen sì, râu quai nón xồm xoàm, tóc không tết đuôi sam mà bới thành một cục bù xù trên đầu.Trông thấy bộ dạng của hắn như vậy, lão nạp giật thót cả mình, thầm nghĩ: “Mẹ ơi! Ở đâu chui ra một con ác quỷ thế này?”. Lão nạp đang mong sao nhanh chóng rời khách điếm để về nhà. Nhưng mà kì lạ thay, hai mắt lão nạp như dán chặt vào hắn, không rời ra được. Lão nạp rủa thầm trong bụng: “Ðúng là gặp quỷ sứ giữa ban ngày! Chẳng lẽ hắn có yêu pháp?”.
Nghe hắn hỏi chủ quán:
– Xin làm phiền hỏi chưởng quỹ, vùng này có ai làm đại phu không?
Chưởng quỹ chỉ luôn vào lão nạp, nói:
– Người này chính là đại phu đấy!
Lão nạp cuống quýt xua hai tay, vội nói: “Không, không” … Hắn liền cười, nói: “Ðừng sợ! Ta không luộc chín ngươi để ăn đâu!”.
Lão nạp lắp bắp: “Tại hạ… tại hạ”…
Hắn sa sầm nét mặt, nói:
– Nếu có định ăn thịt ngươi thì ta ăn sống đấy!
Lão nạp nghe nói càng hoảng kinh, hắn bèn ha hả cười lớn. Bấy giờ lão nạp mới hiểu là hắn nói đùa. Lão nạp nghĩ bụng:
– Ngươi có đùa cũng phải tuỳ mặt chứ! Lão tử ta để cho ngươi tiêu khiển à?”
Nhưng nghĩ thì nghĩ vậy thôi chứ lão nạp sao dám hé răng?
Người nọ lại nói:
– Chưởng quỹ! Cho ta hai phòng nhà trên sạch sẽ nhé! Nương tử ta sắp sinh, hãy mau đi tìm bà đỡ hộ ta!
Hắn cau mày, rồi nói tiếp:
– Trên đường làm kinh động thai, e là khó sinh. Đại phu, xin ông chớ có đi đâu!
Chưởng quỹ nghe nói hắn muốn vợ sinh ở khách điếm, đương nhiên là không muốn vì sợ làm ô uế nhà, nhưng nhìn bộ dạng hung tợn của hắn, đành im như thóc không dám cự nự gì. Có điều là Lưu bà bà vẫn làm bà đỡ ở thị trấn này vừa chết cách đây vài hôm, nên chủ quán đành phải nói thực cho hắn biết. Nét mặt của hắn trông càng đáng sợ hơn, liền lôi ra một đĩnh bạc lớn đặt mạnh lên bàn, nói:
– Phiền chưởng quỹ hãy mau đi tìm bà đỡ khác giúp ta, càng nhanh càng tốt!
Lão nạp nghĩ bụng:
– Sao bọn người này hễ xỉa tiền ra là cứ hai mươi lạng kìa?
Người khách có bộ dạng như ác quỷ ấy chờ chưởng quỹ dọn phòng xong xuôi thì ra xe đỡ một nữ nhân bước xuống. Nữ nhân này được trùm kín trong tấm áo da cừu, chỉ để lộ khuôn mặt. Nếu so sánh một nam một nữ này thì có thể ví Ðiêu Thuyền mà gả cho Trương Phi vậy! Lão nạp thấy nữ nhân ấy quá đẹp, không khỏi giật mình, trong bụng mắng thầm, tự nhủ:
– Ðây rõ ràng là một tiểu thư lá ngọc cành vàng, sao đến nỗi bị ép lấy cái gã quỷ sứ này nhỉ? Thôi đúng rồi! Chắc là hắn cướp đem về làm áp trại phu nhân”.
Không hiểu sao, lão nạp nảy ra trong đầu một ý nghĩ lạ lùng:
– Vị phu nhân này với Ðiền tướng quân mới đẹp đôi! Chưa biết chừng hắn cướp vợ của Ðiền tướng quân, vì thế hai người mới nảy sinh ra oán thù.
Không quá giữa trưa, vị phu nhân nọ vã mồ hôi trán, rên rỉ kêu đau. Gã quỷ sứ nọ cuống cả lên, toan đích thân đi tìm bà đỡ. Vị phu nhân nọ lại nắm tay hắn kéo lại, không cho đi. Chừng sang giờ mùi thì đứa trẻ muốn ra đời, thực không thể chờ bà đỡ được nữa. Tên quỷ sứ bảo lão nạp đỡ đẻ, đương nhiên là lão nạp không chịu. Các vị nghĩ xem, lão nạp đường đường một nam tử hán, lại đi đỡ đẻ cho vợ người ta thì sao ổn? Ðấy là chuyện xúi quẩy ngàn lần vạn lần. Hễ mó vào chuyện này thì xui xẻo đen đủi cả đời!
Tên quỷ sứ ấy bèn bảo lão nạp:
– Đại phu bằng lòng đi. Ta có hai trăm lạng bạc đây. Nếu không chịu thì tuỳ ngươi đấy!
Hắn giơ tay vỗ chát một tiếng, phạt bay một góc bàn vuông. Lão nạp nghĩ:
– Tính mạng là hơn cả. Vả lại số bạc hai trăm lạng này mình có trị trật trả bong gân đến cả chục năm cũng không kiếm nổi. Xúi quẩy một lần thì đã sao nào?
Thế là lão nạp nhận lời, đỡ cho vị phu nhân nọ sinh được đứa con trai trắng trẻo bụ bẫm.
Thằng bé đó khóc vang lên, mặt đầy lông tơ, mắt mở thao láo, mới đẻ ra tướng mạo đã hung dữ giống hệt như cha nó. Sau này lớn lên, hết mười phần hết sẽ lại là một tên ác ôn! Tên quỷ sứ đó rất mừng rỡ, quả nhiên hắn cho lão nạp mười khối bạc hai chục lạng Ðại nguyên bảo. Vị phu nhân nọ lại tặng thêm cho lão nạp một đĩnh vàng ròng trị giá khoảng tám chín mươi lạng bạc. Gã quỷ sứ đó còn bưng một khay bạc ra tặng mọi người trong khách điếm từ chưởng quản đến đầu bếp mỗi người mười lạng. Thế là ai cũng hể hả! Hắn còn kéo mọi người cùng uống rượu, kể cả những kẻ sai vặt, quét dọn trong quán không sót một ai! Mọi người gọi hắn là “Hồ đại gia”.
Hắn bảo:
– Ta họ Hồ. Bình sinh hễ gặp kẻ làm điều xấu xa là lập tức cho một đao chết ngay. Cho nên mọi người còn gọi ta là Hồ Nhất Ðao. Các người đừng gọi đại gia này đại gia nọ làm gì! Ta cũng xuất thân nghèo khổ, chỉ cướp lại chút tièn bạc của lũ ác bá để sống mà thôi, đại gia nỗi gì chứ? Cứ gọi ta là Hồ đại ca đi!
Lão nạp đã sớm biết hắn không phải người tốt, quả nhiên hắn tự nói ra điều đó! Mọi người không dám gọi hắn là “đại ca”, hắn bèn ép mọi người phải gọi như thế. Sau đấy, mọi người uống nhiều rượu rồi thì cũng thấy bạo hơn, mới dám gọi hắn là đại ca.
Ðêm ấy, hắn không cho lão nạp về nhà, bắt lão nạp ở uống rượu với hắn. Uống đến tận canh hai, mọi người đều say mèm. Chỉ có lão nạp là tửu lượng khá, nên còn nốc với hắn hết bát này đến bát khác. Hắn càng uống càng phấn chấn, đi vào phòng bế đứa con ra, chấm ngón tay mình vào rượu để cho đứa trẻ mút. Thằng bé mới sinh chưa đầy một ngày mà mút rượu nặng vẫn không hề khóc, trái lại còn mút ngon lành. Ðúng là con sâu rượu bẩm sinh.
Ngay lúc ấy, phía nam bỗng có tiếng vó ngựa phi truyền tới. Tất cả có chừng hai ba chục con ngựa lao nhanh đến, dừng trước cửa khách điếm. Tiếp theo là tiếng đập cửa mạnh. Chưởng quản đang say bí tỉ, loạng choạng bước ra mở cửa, hai ba chục hán tử tiến vào, ai cũng đeo binh khí. Họ xếp thành hàng ở cửa, im lặng chẳng nói gì.
Chỉ một người trong bọn họ bước ra phía trước, ngồi xuống bên cạnh bàn, cởi chiếc túi vải màu vàng đeo trên lưng xuống đặt lên bàn. Dưới ánh nến soi, nhìn rõ bảy chữ “Ðả biến thiên hạ vô địch thủ” thêu trên túi bằng sợi tơ đen.
Nghe Bảo Thụ kể đến đây , mọi người đều ngẫng lên nhìn mấy chữ “Huyênh hoang thiên hạ không địch thủ” mà Miêu Nhân Phưọng viết trên đôi câu đối treo trong đại sảnh.
Bảo Thụ nói:
– Mấy chữ này là ngoại hiệu của Miêu Nhân Phượng, cho đến bây giờ lão nạp vẫn cảm thấy có phần coi thường thiên hạ quá. Cái buổi tối mới gặp y, lão nạp đương nhiên rất kinh ngạc. Người cao lêu nghêu gầy đét, trông như cây sào, da mặt vàng ệch trông như người ốm, đôi bàn tay to như cái quạt nan rách xòe rộng trên mặt bàn. Lão nạp nói đôi tay ấy như cái quạt nan rách, vì chúng gầy guộc đến nổi chỉ thấy những xương với xương. Dĩ nhiên, lúc ấy lão nạp không biết y là ai, sau này mới biết đó là Kim Diện Phật Miêu Ðại hiệp.
Hồ Nhất Ðao đang mải đùa với con, dường như không biết có nhiều người vừa vào. Còn Miêu Ðại hiệp thì cũng chẳng nói gì, tự người tùy tùng rót rượu cho y. Mấy chục người kia trợn mắt nhìn Hồ Nhất Ðao đang chấm ngón tay vào rượu cho đứa trẻ mút. Hắn chấm một giọt cho con xong, lại ngửa cổ lên uống một bát, hai cha con cứ thi nhau mà uống rượu.
Trống ngực lão nạp đập bình bịch, chỉ muốn mau mau tránh xa cái chốn thị phi đó, nhưng làm sao dám di động một bước? Lúc đó chỉ cần ai khẽ động đậy là mấy chục lưỡi đao kiếm kia sẽ chém xuống ngay. Dù không nhằm vào lão nạp, nhưng chỉ cần dính phớt thôi cũng đủ bị trọng thương rồi.
Hồ Nhất Ðao và Miêu Nhân Phượng đều chẳng ai lên tiếng, mỗi người đều uống hơn chục bát rượu, không ai nhìn ai. Bỗng nhiên vị phu nhân trong phòng tỉnh giấc, từ trong phòng gọi ra :
– Ðại ca !
Ðứa trẻ nghe tiếng mẫu thân liền “oa” một tiếng rồi khóc ầm lên. Hồ Nhất Ðao hơi run tay, “choang” một tiếng, đánh rơi bát rượu xuống đất vỡ tan tành. Mặt hắn lập tức biến sắc, ôm đứa con đứng lên. Miêu đại hiệp chỉ cười nhạt ba tiếng “hà, hà, hà”, rồi quay người bước ra cửa. Ðám người kia đồng loạt đi theo ra. Một lát sau, tiếng vó ngựa xa dần. Lão nạp những tưởng khó tránh khỏi một trận ác đấu xảy ra, không ngờ khi đứa trẻ khóc òa lên thì Miêu đại hiệp liền bỏ đi. Lão nạp và chưởng quản cùng bọn tiểu nhị nhìn nhau, chẳng ai hiểu gì.
Hồ Nhất Ðao bế đứa bé vào phòng. Vách gỗ của gian phòng rất mỏng, nghe tiếng vị phu nhân nói :
– Ðại ca! Ai đến đây thế?
Hồ Nhất Ðao trả lời :
– Mấy tên giặc cỏ thôi, nàng cứ ngủ đi! Ðừng lo!
Vị phu nhân thở dài, nhỏ nhẹ nói:
– Ðừng nói dối muội nữa. Muội biết là Kim Diện Phật đã đến.
Hồ Nhất Ðao nói :
– Không phải đâu, nàng đừng có đoán mò .
Vị phu nhân lại hỏi :
– Thế sao giọng đại ca run run như thế? Xưa nay đại ca có bao giờ như vậy đâu?
Hồ Nhất Ðao im lặng một lát rồi nói:
– Nàng đoán trúng rồi. Ta chẳng sợ hắn đâu.
Vị phu nhân nói:
– Ðại ca! Chàng chớ lo cho muội với con. Nếu chàng lo lắng thì sẽ không đánh nổi y đâu.
Hồ Nhất Ðao thở dài, nói tiếp:
– Không hiểu tại sao xưa nay ta chẳng sợ trời sợ đất, thế mà tối nay đang ôm con trong tay, thấy Kim Diện Phật bước vào rồi đặt cái túi của hắn lên bàn, mặt hắn liếc nhìn thằng bé một cái, thì ta vã mồ hôi ướt cả người! Nàng nói không sai, ta thấy sợ Kim Diện Phật.
Vị phu nhân nói:
– Không phải là chàng sợ hắn, mà là sợ hắn hại con chúng ta.
Hồ Nhất Ðao nói:
– Ta nghe đồn Kim Diện Phật hành hiệp trượng nghĩa, nên trên giang hồ gọi hắn là Miêu đại hiệp. Chắc hắn không đến nỗi hại đàn bà, trẻ con đâu.
Hắn nói mấy câu này giọng càng run hơn, rõ ràng trong bụng hắn cũng không dám chắc. Lão nạp nghe mấy câu này bỗng nhiên thấy thương hại hắn, thầm nghĩ:
– Người này mặt mũi hung tợn, hoá ra trong lòng cũng biết sợ!
Lại nghe vị phu nhân khẽ nói:
– Ðại ca hãy bế con về nhà đi. Muội ở lại nghỉ cho khoẻ hẳn rồi sẽ ra quan ngoại tìm đại ca.
Hồ Nhất Ðao nói:
– Hả? Thế sao được? Nếu phải chết thì hai chúng ta cùng chết một nơi.
Vị phu nhân than thở:
– Nếu sớm biết thế này, thì năm nọ muội không ngăn đại ca xuống miền Nam khiêu chiến với Kim Diện Phật mới đúng! Năm ấy, đại ca chưa vướng bận gì trong lòng, chắc sẽ thắng y.
Hồ Nhất Ðao cười:
– Hôm nay gặp gỡ, chưa chắc ta sẽ bại dưới tay hắn! Ta e rằng cái túi màu vàng thêu mấy chữ “Đả biến thiên hạ vô địch thủ” của hắn e phen này sẽ đổi chủ cũng nên!
Hắn tuy vừa cười vừa nói nhưng giọng vẫn run; mặc dù cách bức gỗ mỏng nhưng lão nạp vẫn cảm nhận điều đó một cách rõ ràng.
Vị phu nhân bỗng nói:
– Ðại ca, chàng nên nghe muội chuyện này.
Hồ Nhất Đao hỏi:
– Chuyện gì?
Vị phu nhân nói:
– Chúng ta hãy nói rõ mọi việc với Kim Diện Phật, xem y nói sao. Y được xưng tụng là đại hiệp, chẳng lẽ lại bất chấp đạo lý?
Hồ Nhất Ðao nói:
– Ta ngồi ngoài kia uống rượu vừa tính toán tỉ mỉ đến mười mấy cách dàn xếp. Nàng mới sinh con xong, làm sao ra ngoài được? Ta mà tự đi thì chỉ vài câu là đã hỏng việc rồi. Nếu kiếm được một người phái đi thay thì ý kiến của nàng thực hiện được đấy!
Vị phu nhân suy nghĩ một lát rồi nói:
– Vị đại phu kia cũng rất tháo vát, ăn nói hoạt bát, hay là phiền gã một phen?
Hồ Nhất Ðao bảo:
– Người này ham tiền, không đáng tin lắm đâu.
Vị phu nhân lại nói:
– Chúng ta hậu tạ thật nhiều tiền là ổn thôi!
Khặc khặc, lão nạp ta thời trẻ đúng là ham rượu mê tiền thật! Có nói ra, cũng chẳng ngại các vị chê cười. Lão nạp nghe đến mấy tiếng “hậu tạ thật nhiều tiền” thì đầu óc đã nghĩ luôn dẫu có phải nhảy vào nước sôi lửa bỏng, mình cũng đi giúp họ một phen!
Hai vợ chồng họ bàn bạc to nhỏ mấy câu, rồi thấy Hồ Nhất Ðao đi ra gọi lão nạp vào phòng nói rằng:
– Sáng sớm mai có người đưa thư cho tại hạ. Tại hạ nhờ đại phu đi theo người ấy, rồi đưa giúp thư trả lời của tại hạ cho Kim Diện Phật Miêu đại hiệp là gã đại hán mặt vàng ban nãy đến uống rượu đó!
Lão nạp nghĩ rằng điều này có khó gì đâu, nên nhận lời ngay.
Sáng sớm tinh mơ hôm sau, quả nhiên có người cưỡi ngựa đến đưa một bức thư cho Hồ Nhất Ðao. Lão nạp nghe vị phu nhân đọc thư, thì ra Miêu đại hiệp hẹn Hồ Nhất Ðao tỉ võ, muốn để cho Hồ Nhất Ðao tự chọn ngày và địa điểm giao đấu.
Hồ Nhất Ðao viết thư trả lời và giao cho lão nạp. Lão nạp mượn của chưởng quản một con ngựa, rồi đi theo hán tử nọ. Ði về phía nam chừng ba mươi dặm, hán tử nọ dẫn lão nạp vào một ngôi nhà lớn. Miêu đại hiệp, Phạm bang chủ, Ðiền tướng công đều đang ở đó, ngoài ra còn có thêm bốn năm mươi người khác, nam có, nữ có, hòa thượng, đạo sĩ đều đủ mặt.
Ðiền tướng xem xong bức thư, bèn nói:
– Không cần phải hẹn hôm khác. Ngày mai chúng ta cứ đến.
Lão nạp nói:
– Tướng công còn dặn dò gì nữa không?
Ðiền tướng công nói:
– Ngươi cứ về nói với Hồ Nhất Ðao rằng hãy mua trước ba cỗ quan tài đi, hai cỗ lớn, một cỗ nhỏ, chớ để các đại gia đây phải tốn kém!
Về đến khách điếm, lão nạp nói lại với vợ chồng Hồ Nhất Ðao những lời đó, nghĩ rằng nhất định họ sẽ lớn tiếng mắng chửi. Nào ngờ họ chỉ nhìn nhau, chẳng nói gì cả. Hai người thay nhau bồng bế đứa trẻ lên hôn hít nựng nịu, dường như tự biết cái chết đã đến gần, thêm giờ khắc nào quý giờ khắc ấy.
Ðêm ấy, lão nạp mơ toàn ác mộng. Lúc thì mơ thấy Hồ Nhất Ðao giết chết Miêu đại hiệp, lúc thì mơ thấy Miêu đại hiệp giết Hồ Nhất Ðao, lúc thì mơ thấy hai người ấy giết lão nạp. Ngủ đến được nửa đêm, bỗng có mấy tiếng lạ thường làm lão nạp tỉnh giấc lắng nghe, thì ra là Hồ Nhất Ðao đang khóc ở phòng bên cạnh.
Lão nạp rất ngạc nhiên, nghĩ bụng:
– Nhìn hắn cũng là một hán tử đường đường, đại trượng phu chết thì chết, viêc tới thì đương đầu có gì phải khóc lóc chứ? Sao lại xoàng đến vậy?
Rồi lại nghe thấy hắn nghẹn ngào nói:
– Con ơi! Con mới sinh được có ba ngày đã thành đứa trẻ không cha không mẹ, sau này ai sẽ thương yêu con? Con bị đói bị rét, ai sẽ chăm lo cho con? Con bị ức hiếp ai sẽ bênh vực con?
Thoạt đầu, lão nạp còn mắng hắn là thứ vô dụng, nhưng khi nghe đến mấy câu này, lại thấy xót xa, thầm nghĩ trong bụng:
– Một hán tử hung dữ thô lỗ như vậy, sao lại yêu thương con đến thế!
Hắn khóc lóc một hồi, vị phu nhân bỗng lên tiếng:
– Ðại ca! Ðừng đau lòng như thế. Nếu quả thực đại ca chết bởi tay Kim Diện Phật thì muội quyết định không chết, sẽ nuôi con cho khôn lớn!
Hồ Nhất Ðao mừng rỡ, nói
– Muội muội, điều ta lo lắng nhất chính là chuyện này. Nếu chẳng may ta chết thì nàng sao sống nổi? Giờ nàng đã cứng cỏi nhận lấy gánh nặng này thì ta chẳng còn gì phải lo buồn nữa. Ha ha… đời người xưa nay có ai mà chẳng phải chết? Ðánh một trận cho thật sướng tay với một cao thủ bậc nhất thiên hạ cũng là cơ hội trăm năm hiếm có mà!
Nghe ngần ấy câu, lão nạp cảm thấy hắn đúng là một kỳ nhân. Hắn cười một hồi, bỗng lại thở dài, nói:
– Muội muội, một nhát đao kiếm thọc vào, cổ thấy nhói đau, thế là xong chuyện. Chết thì thật là dễ. Nàng phải sống, đó mới là điều khó. Sau khi ta chết thì chẳng còn biết gì nữa, còn nàng phải thương tâm ngày ngày đêm đêm . Ôi! Ta thực lòng không nỡ rời xa nàng!
Vị phu nhân nói:
– Muội sẽ ngắm nhìn con, coi như trông thấy đại ca rồi. Chờ khi nó lớn lên, muội sẽ dạy dỗ nó học theo đại ca, hễ gặp bọn quan lại xấu xa, bọn thổ hào ác bá là cho luôn một đao.
Hồ Nhất Ðao hỏi lại:
– Những điều ta làm trong đời, nàng thấy không sai trái ư? Sao lại muốn con bắt chước theo ta?
Vị phu nhân nói:
– Không có gì sai trái cả. Muội muốn con sẽ noi gương đại ca.
Hồ Nhất Ðao nói:
– Hay lắm! Dù ta còn sống hay chết, thì một đời ta cũng không có gì hổ thẹn với trời đất! Cái hộp sắt này, nàng hãy trao cho con vào ngày sinh nhật nó khi nó tròn mười sáu tuổi.
Lão nạp lén nhòm qua khe cửa, thấy vị phu nhân đang bế con, Hồ Nhất Ðao lấy từ trong cái đẫy đựng quần áo ra cái hộp sắt này đây. Có điều lúc ấy, thanh quân đao của Sấm Vương lại đang ở trong tay họ Ðiền Thanh Long môn chứ không có trong hộp. Vậy trong hộp sắt đó chứa cái gì? Chắc các vị đều muốn hỏi thế, phải không? Lúc ấy lão nạp cũng thắc mắc lắm, nhưng Hồ Nhất Ðao không mở hộp ra nên lão nạp cũng đành chịu, không nhìn thấy gì cả.
Hồ Nhất Ðao dặn dò vợ xong, thấy lòng nhẹ nhõm, bèn nằm xuống ngủ, chỉ lát sau đã ngáy vang như sấm. Lão nạp biết là chẳng còn chuyện gì để nghe nữa, cũng định đi ngủ nhưng tiếng ngáy ở gian phòng bên vang lớn như thế thì ngủ sao được? Lão nạp nghĩ bụng, vị phu nhân trẻ thiên kiều bá mị như hoa như ngọc kia mà lại đi lấy một hán tử thô lỗ xấu xí như Hồ Nhất Ðao đã là chuyện kì lạ rồi. Đã thế lại còn hết lòng hết sức tôn kính và thương yêu hắn nữa, càng làm cho mọi người không sao hiểu nổi nữa!
Hôm sau, lúc trời chưa sáng tỏ, vị phu nhân đã ra khỏi phòng dặn dò tiểu nhị trong khách điếm làm thịt một con lợn, một con dê, giết gà, vịt để nàng đích thân vào bếp nấu. Lão nạp khuyên:
– Phu nhân mới sinh cháu chưa được ba ngày, không nên làm việc nặng kẻo sau này đau lưng nhức xương phiền hà lắm đấy.
Vị phu nhân mỉm cười đáp:
– Những việc trước mắt quá đủ phiền hà rồi, còn ngại gì sau này?.
Hồ Nhất Ðao thấy vợ tất bật, cũng khuyên nên vào nghỉ. Vị phu nhân chỉ mỉm cười với chồng, vẫn tiếp tục tự mình làm thức ăn.
Hồ Nhất Ðao cười, nói:
– Thôi được! Ăn thêm một lần nữa các món ăn do chính tay nàng làm, thì dẫu có chết cũng không hối tiếc gì nữa!
Ðến lúc này lão nạp mới vỡ lẽ, thì ra vị phu nhân biết giờ sống chết chia ly của hai vợ chồng đã đến gần, bất luận như thế nào, bà vẫn muốn làm cho chồng ăn một bữa.
Ðến khi trời sáng hẳn, vị phu nhân đã làm xong chừng hai ba chục món ăn, bày ngập trên bàn. Hồ Nhất Ðao bảo tiểu nhị đem tới mấy chục cân rượu nữa, rồi đánh chén cho thoả chí. Vị phu nhân bồng con ngồi bên cạnh, rót rượu và tiếp thức ăn cho chồng, vẻ mặt nàng tươi cười.
Hồ Nhất Ðao uống một hơi cạn bảy tám bát rượu trắng, bốc mỗi lần vài miếng thịt dê bỏ vào miệng. Vẳng nghe tiếng vó ngựa từ xa đang dần lại gần. Hồ Nhất Ðao và vợ cùng nhìn nhau, mỉm cười, vẻ mặt tỏ ra rất quyến luyến không muốn rời xa nhau.
Hồ Nhất Ðao nói:
– Nàng hãy vào phòng đi. Bao giờ con khôn lớn, hãy nhớ bảo nó rằng, ta muốn nó lòng dạ phải mạnh mẽ hơn, cứng rắn hơn
Vị phu nhân gật đầu, nói:
– Hãy để muội thử nhìn xem Kim Diện Phật mặt mũi ra sao.
Chẳng mấy chốc, tiếng vó ngựa đều dừng ở trước cửa khách điếm. Kim Diện Phật, Phạm bang chủ, Ðiền tướng công dẫn theo mấy chục người nữa bước vào. Hồ Nhất Ðao chẳng buồn ngẩng đầu, nói cộc lốc:
– Ăn đi!
Kim Diện Phật nói:
– Được!
Rồi ngồi đối diện với Hồ Nhất Ðao, bưng bát rượu lên định uống thì Ðiền tướng công vội giơ tay ra ngăn lại, nói:
– Miêu đại hiệp! Coi chừng trong rượu thịt có gì đó.
Kim Diện Phật nói:
– Xưa nay nghe nói Hồ Nhất Ðao là hán tử đường đường, làm việc gì cũng quang minh chính đại, sao có thể ngầm lén hại ta được!
Nói rồi, ngửa cổ uống cạn một hơi, rồi gắp thịt gà nhắm luôn. Cách ăn uống của Kim Diện Phật trang nhã lịch sự hơn hẳn Hồ Nhất Ðao.
Vị phu nhân nhìn Kim Diện Phật mấy lần, rồi thở dài nói với chồng:
– Ðại ca! Trong đám hào kiệt đời nay, ngoài vị Miêu đại hiệp này ra, thực chẳng có người thứ hai nào đáng là địch thủ của đại ca! Y thẳng thắn thật bụng với đại ca, phong cách khẳng khái như thế thì trên đời này chỉ có hai người, đó là đại ca với y mà thôi!
Hồ Nhất Ðao cười ha hả, nói:
– Muôi muội, muội cũng xứng đáng được coi là một bậc trượng phu trong giới nữ lưu đấy!
Vị phu nhân nói với Kim Diện Phật:
– Miêu đại hiệp! Các hạ là bậc nam nhi đại trượng phu, quả thật danh bất hư truyền. Nếu chuyết phu lỡ có chết bởi tay các hạ cũng không đến nỗi uổng mạng! Còn nếu các hạ bị chuyết phu giết chết thì cũng chẳng tổn hại thanh danh một đời! Nào, tiện thiếp xin kính các hạ một bát!
Nàng rót hai bát, tự mình uống một bát.
Kim Diện Phật có vẻ không hay nói, chỉ nhíu đôi lông mày, đáp:
– Được!
Rồi đón lấy bát rượu. Phạm bang chủ đứng bên sa sầm nét mặt, lúc này bước lên một bước, kêu lên:
– Miêu đại hiệp hãy coi chừng lòng dạ đàn bà nham hiểm!
Kim Diện Phật hơi cau mày, chẳng lý gì đến hắn, uống luôn bát rượu.
Vị phu nhân ôm con đứng dậy, nói:
– Miêu đại hiệp! Các hạ còn điều gì băn khoăn, xin hãy nói cho tiệp thiếp biết. Nếu chẳng may các hạ thất thủ bị chuyết phu giết chết, thì các bằng hữu này của các hạ, hà hà, chưa chắc đã làm gì giúp cho các hạ được đâu!
Kim Diện Phật trầm ngâm giây lát rồi nói:
– Bốn năm trước, tại hạ có việc đi Lĩnh Nam, có một người đến nhà tự xưng tên là Thương Kiếm Minh, người huyện Vũ Ðịnh, tỉnh Sơn Ðông…
Vị phu nhân của Hồ Nhất Ðao nói xen vào:
– Ồ, người này là đệ tử của Vương Duy Dương uy danh vang dội ở vùng Hà Sóc, là cao thủ trong Bát quái môn. Y tinh thông cả Bát quái chưởng lẫn Bát quái đao.
Kim Diện Phật nói:
– Ðúng thế! Hắn nghe nói tại hạ có ngoại hiệu là “Đả biến thiên hạ vô địch thủ” thì trong lòng không phục nên đến tìm để tỉ võ. Gặp lúc tại hạ không có nhà, hắn lời qua tiếng lại với huynh đệ của tại hạ, rồi ra tay động thủ, toàn dụng sát chiêu đánh chết hai người em trai và một người em gái của tại hạ. Tỉ võ tất phải có thắng thua. Các em của tại hạ học nghệ chưa tinh nên bị chết bởi tay hắn đã đành. Nào ngờ hắn còn đánh chết luôn cả cô em dâu của tại hạ là người không biết tí võ nghệ gì.
Phu nhân của Hồ Nhất Ðao nói:
– Người này quá ngang ngược. Vậy các hạ đi tìm hắn là phải rồi.
Kim Diện Phật nói:
– Hai em của tại hạ võ công cũng không đến nỗi tệ lắm, Thương Kiếm Minh đã dùng thủ đoạn này để tự khoe mình là kình địch cao thủ. Thiết nghĩ Miêu gia tại hạ với Hồ gia có mối thâm cừu nhiều đời, nếu Hồ Nhất Đao không chết thì xin Hồ huynh mạo hiểm một chuyến, đi đến huyện Vũ Ðịnh, tỉnh Sơn Ðông hỏi giúp chuyện bốn năm trước.
Vị phu nhân nói:
– Chuyện này các hạ cứ giao cho phu phụ tiện thiếp là được.
Kim Diện Phật gật đầu, đứng lên rút kiếm ra, nói:
– Hồ Nhất Ðao! Nào!
Hồ Nhất Ðao cắm cúi ăn, không lý gì đến ông ta.
Vị phu nhân nói:
– Miêu đại hiệp! Chuyết phu tuy võ nghệ cao cường, nhưng chưa chắc đã thắng nổi các hạ.
Kim Diện Phật nói:
– À, tại hạ quên mất. Hồ Nhất Ðao, các hạ có chuyện gì còn băn khoăn không?
Hồ Nhất Ðao chùi mép, đứng lên nói:
– Nếu các hạ giết được tại hạ, thì con tại hạ sau này lớn lên nhất định sẽ tìm các hạ để báo thù. Nhờ các hạ chăm sóc nó giúp tại hạ!
Lão nạp nghe vậy nghĩ bụng:
– Người ta thường nói nhổ cỏ phải nhổ tận gốc. Nếu Kim Diện Phật giết được Hồ Nhất Ðao, lẽ nào lại chịu tha cho vợ con hắn? Thế mà Hồ Nhất Ðao còn sợ Kim Diện Phật sẽ quên điều này, lại đi nhắc y!
Nào ngờ Kim Diện Phật nói ngay:
– Các hạ yên tâm đi! Nếu các hạ không may thất thủ, tại hạ sẽ chăm sóc thằng bé này như con đẻ của tại hạ!
Phạm bang chủ và Ðiền tướng công đều cau mày đứng sang một bên, bộ dạng xem chừng rất khó chịu. Lão nạp lúc đó trong bụng cũng ngạc nhiên, thầm nghĩ:
– Nhìn thái độ của hai vợ chồng Hồ Nhất Ðao và Kim Diện Phật dặn dò nhau trịnh trọng như thế giống như những đôi bạn chí thân, chứ đâu có vẻ gì sắp sửa liều mạng với nhau?
Chính vào lúc này, Hồ Nhất Ðao rút đao ở lưng ra, hàn quang lấp loáng, kêu lên:
– Hảo bằng hữu, xin huynh ra chiêu trước!
Kim Diện Phật giơ trường kiếm lên, nói :
– Xin lĩnh giáo!
Rồi chém hờ hai chiêu vào khoảng không.
Ðiền tướng công la lên nhắc:
– Miêu đại hiệp, chớ nên khách khí! Hãy xuất chiêu đi!
Bỗng Kim Diện Phật thu kiếm về, quay đầu lại nói :
– Xin mời tất cả các vị hãy đi ra cho!
Ðiền tướng quân cụt hứng, nhưng nhìn sắc mặt của Miêu đại hiệp có vẻ nghiêm trọng nên không dám trái lời, đành cùng với bọn Phạm bang chủ đều lui ra khỏi đại sảnh, đứng ở cửa để xem đánh nhau.
Hồ Nhất Ðao lớn tiếng:
– Được, tại hạ xuất chiêu đây.
Y tiến lên một bước vung đao chém mạnh xuống đấu đối thủ.
Kim Diện Phật bước chéo sang, lưỡi kiếm xoay vòng, mũi kiếm xóa tới đâm vào sườn phải đối phương.
Hồ Nhất Ðao nói:
– Đao của tại hạ là bảo đao đấy, hãy cẩn thận!
Vừa nói vừa vùng đao chém vào thân kiếm. Kim Diện Phật nói:
– Xin vâng lời chỉ giáo!
Cổ tay giật một cái, lưỡi kiếm đã tránh sang một bên.
*****
Nguồn: truyenkimdung


